một số sinh vật hại nông sản trong kho


Nhấn vào đây để tải về
Nhắn tin cho tác giả
Báo tài liệu sai quy định
Mở thư mục chứa tài liệu này
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hứa Hoàng Vũ Phương
Ngày gửi: 01h:09' 29-06-2010
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 119
Số lượt thích: 0 người
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP VĂN LANG
KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC
LỚP :K13S01

SVTH: NHÓM 8.8 điểm.
TRƯƠNG THỊ THANH DIỄM.x
HỨA THỊ NGỌC LAN.x
HỒ THỊ HƯƠNG THẢO.x
HUỲNH QUỐC CƯỜNG.x
LÂM THỊ TÚ MI.x
BÙI THỊ HỒNG PHÚC.x
VÕ THANH TÂM.x
HÀ THỊ RÀNH .x
GVHD:
PGS.TS.TRẦN MINH TÂM
SINH VẬT HẠI NÔNG SẢN
I.CÁC LOẠI HÌNH VI SINH VẬT HẠI NÔNG SẢN PHẨM
Người ta chia vsv gây hại nông sản thành 3 loại chính sau đây:
Vi sinh vật phụ sinh:
Vi sinh vật hoại sinh
Vi sinh vật kí sinh, bán kí sinh và cộng sinh:


Vi sinh vật phụ sinh
Nhóm này hút những vật chất sống của ký chủ
Chiếm 90 % ở hạt, chúng di chuyển từ rễ, thân lên hạt.
Là thành viên của khu hệ vi sinh vật hại rễ, củ.
Điển hình : Pseudomonas herbicola (chiếm chủ yếu), P. Fluorescens
Nhiều nhất trên những hạt khỏe mạnh,tươi, ngược lại thì rất ít và bị tiêu diệt.
Vi sinh vật hoại sinh(chủ yếu là nấm)
Nhóm này huỷ diệt trực tiếp tế bào của nông sản phẩm.
VD:Aspergillus penicillium, Micrococus collectotricum, Helmintho sporium, Bacterium putidum, Bact, Coli, … và xạ khuẩn
Phá hoại chủ yếu ở rau, quả, củ.



Vi sinh vật kí sinh, bán kí sinh và cộng sinh
VSV ký sinh lấy chất dinh dưỡng chủ yếu của ký chủ làm cho kí chủ bị hại.
VSV bán ký sinh lấy một phần dinh dưỡng của ký chủ
VSV cộng sinh kết hợp dinh dưỡng với ký chủ.
VD:Phần lớn các nhóm trên là nấm: Alternaria,Helminthosporium, Pellicularia, Gibberella zeae, ..

không những gây hại cho nông sản trong quá trình bảo quản mà còn gây bệnh cho cây và con người
II.ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN VSV HẠI NÔNG SẢN PHẨM:
Độ ẩm: cao thuận lợi cho vi sinh vật gây hại nông sản.
( Độ ẩm > 80% nhiều loai vi sinh vật phát triển.)
Nhiệt độ: Nhiệt độ cao thuận lợi cho vi sinh vật gây hại
( Nhiệt độ < 0o C vi sinh vật gây hại ngưng hoạt động)
Dinh dưỡng của nông sản: Nông sản có hàm lượng dinh dưỡng cao, nhất là hạt giàu lipid và protein dễ bị vi sinh vật xâm nhập
III.SỰ TÍCH TỤ VÀ XÂM NHẬP CỦA VI SINH VẬT

Với hạt, VSV phân huỷ lớp mô bào ngoài, xâm nhập phá huỷ phôi nhũ
Với rau quả củ, xuất hiện vết bệnh sau đó làm thối rữa
Với kho hạt bảo quản làm giống, VSV làm tỷ lệ nẩy mầm của hạt giống giảm.
Vi sinh vật xâm nhập vào nông sản phẩm, tiết ra các độc tố làm hư hỏng nông sản phẩm.
NHỮNG SINH VẬT HẠI NÔNG SẢN
TRONG QT BẢO QUẢN

Một số loại gây hại: hai lớp:
- Lớp côn trùng (Insecta) và lớp nhện (Arachnoidea)
Riêng côn trùng thường có 4 bộ chính:
- Bộ cánh cứng (Coleoptera )
- Bộ cánh vẩy (Lepidoptera)
- Bộ cánh răng (Procoptera)
- Bộ mốc (Isoptera)

Bộ cánh cứng (Coleoptera)
Họ vòi voi (Cuculionidea) : Mọt gạo, mọt thóc
Họ mọt thò đuôi (Nitinulidae): Mọt gạo thò đuôi
Họ mọt thóc (Ostomidae): Mọt thóc lớn, Mọt thóc Thái lan
Họ mọt răng cưa (Slivanidae): Mọt răng cưa
Họ chân giả (Tenebrionidae): Mọt khuẩn đen, Mọt thóc
đỏ, mọt thóc tạp
Họ mọt râu dài (Anthribidae): Mọt cà phê.
Họ mọt giả chết (Ptinidae): Mọt đốm trắng.
Họ mọt đục thân(Boytrychidae):Mọt đục thân.
Họ mọt đậu (Bruchidae): Mọt đậu xanh,mọt đậu tương,..



Mọt gạo(Sitophilus oryzaeL)
Tên khoa học: Sitophilus oryzae Linné
Họ: Curculionidae
Bộ: Coleoptera
Phân bố và tác hại
Nhiều nguồn tài liệu đều xác nhận mọt gạo phân bố hầu khắp thế giới. Ở các nước nhiệt đới và á nhiệt đới trong các sản phẩm ngũ cốc đều gặp mọt này. Đối với lương thực bảo quản trong kho ở nước ta, mọt gạo được xếp vào loại sâu hại nguy hiểm số một.
Ngoài lương thực, hầu hết các hàng từ thực vật như đậu đỗ, hạt có dầu, dược liệu, các loại quả khô,… đều bị mọt gạo ăn hại.
Đặc điểm hình thái
- Có vòi dài,chiều dài 3-3,5 mm, ăn hạt ngũ cốc, khoai sắn lát khô, mì sợi. Chu kỳ sống: 12-32 ngày.Mỗi lần đẻ 600 trứng, đẻ vào hạt nông sản.
Mọt bột đỏ(Tribolium castaneum Herbst)
Tên khoa học: Tribolium castaneum Hebst
Họ: Tenebrionidae
Bộ: Coleoptera
Phân bố và tác hại:
- Dài 3-3,5 mm, ăn ngũ cốc, bột ngũ cốc, bánh khô...Chu kỳ vòng đời 40-45 ngày, có thể sống 2 năm, chịu nhiệt độ cao 50°C. Đẻ mỗi lần 400 trứng
Mọt thóc đỏ phân bố khắp thế giới, ở nước ta khắp các vùng đều thấy có mọt này. Nó có khả năng ăn hại hơn 100 loại sản phẩm khác nhau như các loại bột, thóc, ngô, lúa mì, lạc, da, dược liệu, quả khô,..
Thường mọt ăn hại phôi trước, sau đó ăn sang các phần khác cuối cùng ăn hết,chỉ để lại một lớp vỏ.
Khi ăn hại, mọt tiết ra một chất dịch thối, làm cho lương thực và các sản phẩm khác có mùi hôi rất khó chịu, giống như mùi gián, làm giá trị thương phẩm của sản phẩm giảm sút và mất vệ sinh.
Bộ cánh vẩy (Lepidoptera)

1.HỌ NGÀI SÁNG(PYRALIDAE)
Ngài bột lớn(Piralis farinalis)
Ngài thóc Địa Trung Hải(Ephestra kuehmella Zele)
Ngài gạo đen(Aglossa dimidiata Haw)
Ngài thóc Ấn Độ(Plodia interpunetella)

2.HỌ NGÀI MẠCH(GELECHIDAE)
Ngài lúa mạch(Sitotroga carealella)
Tên khoa học: Ephestia kuchniella Zeller
Họ: Pyralidae
Bộ: Lepidoptera
Ngài thóc Địa Trung Hải
- Loại này phân bố khắp thế giới, ở khắp các vùng nước ta đều có. Sâu non ăn hại các loại bột, gạo, ngô, cám, thóc, các loại đậu và hạt có dầu. Nó gây hại cho bột mì là lớn nhất.

- Dạng trưởng thành: Con đực dài 7 - 8 mm, hai cánh căng ra dài 16 - 18 mm; con cái dài 9 - 12 mm, hai cánh căng ra dài 18 - 22 mm. Đầu và ngực màu xám trắng; cánh trước màu xám có lác đác những điểm màu xám đen.

- Gần gốc cánh và biên đầu cánh trước có 2 đường vân hình sóng màu đen .

- Cánh sau màu xám trắng. Ở các biên của 4 cánh đều có lông nhỏ và dài.
- Trứng: Dài 0,3 mm, hình tròn, khi mới đẻ màu trắng, sau biến thành màu vàng nhạt. Ngoài mặt vỏ không nhẵn mà có nhiều điểm lồi lõm.
Sâu non: Khi đẫy sức dài 12 - 15 mm, màu trắng sữa hơi pha màu hồng nhạt, thân to và mập
- Nhộng: Dài 6,5 - 9 mm, rộng 1,5 - 2 mm, hình ống dài màu nâu đen, đốt bụng cuối cùng có 4 đôi lông móc câu.
- Mỗi năm sinh 4 - 6 lứa
- Ngài thích sống ở nơi râm tối và ẩm
- Một con cái trong đời đẻ được 119 - 678 trứng
Ngài gạo đen
Tên khoa học: Ephestia kuchniella Zeller
Họ: Pyralidae
Bộ: Lepidoptera
- Loại này phân bố khắp thế giới, ở nước ta có loại mọt này.
- Sâu non ăn hại thóc, gạo, lúa mì, các loại bột, bông, nó rất thích ăn chất mục động vật.
- Dạng trưởng thành: Con cái thân dài 12 - 14 mm, hai cánh trước căng ra dài 32 - 34 mm. Con đực thân dài 10 - 12 mm, hai cánh trước căng ra dài 22 - 26 mm. Thân màu vàng nâu, có lác đác những vảy phấn màu đen nâu tím. Mắt kép màu đen, râu tương đối dài
- Trứng: Dài 0,3 - 0,45 mm, hình bầu dục ngắn, khi mới đẻ màu trắng sữa, sau biến thành màu vàng nhạt. Trên vỏ trứng có nhiều điểm khắc.
- Sâu non: Khi đẫy sức dài 20 - 28 mm. Thân mình màu đen, đầu rộng lớn nhưng ngắn, chân ngực màu nâu vàng. Cơ 6 đôi mắt đơn. Ngực và bụng có nhiều đường nhăn có ánh sáng.
- Nhộng: Dài 8,5 - 13 mm, rộng 2,5 - 3 mm, màu hồng nâu, đốt bụng cuối cùng có 4 đôi lông móc câu.
- Mỗi năm sinh 1 - 2 lứa.
- Một con cái trong đời có thể đẻ được 267 - 798 trứng, trung bình 535 trứng.
- Ngài ban ngày thường nằm im một chổ, tối đến bay đi giao phối và đẻ trứng, ngài sống được 5 - 17 ngày. Con cái sống dài hơn con đực.
Ngài thóc Ấn Độ
Tên khoa học: Plodia interpunctella Hübner
Họ: Pyralidae
Bộ: Lepidoptera
- Ngài thóc Ấn Độ phân bố khắp thế giới, ở các vùng thuộc nước ta đều có. Là một loại ngài có tính chất nguy hại lớn, vì tính ăn của nó rất rộng, hầu như các sản phẩm bảo quản trong kho đều bị ngài thóc Ấn Độ ăn hại.
- Dạng trưởng thành: Thân dài 6,5 - 9 mm, hai cánh trước căng ra dài 13 - 18 mm. Đầu màu xám nâu, trên mặt có một phiến vảy hình chùy lồi ra ở phía trước phía dưới. Mắt kép màu đen.
- Cánh trước dài và hẹp, ở gần gốc cánh 1/3 cánh màu vàng nâu nhạt, còn 2/3 về phía đầu cánh và sát gốc cánh màu hồng nâu.
- Trứng: Dài 0,3 mm, gần giống hình bầu dục, ở một đầu trứng nhọn, mặt vỏ trứng không nhẵn nhụi, mà nhám. Trứng mới đẻ màu nâu sữa, sau thành màu xám vàng.
- Sâu non: Khi đẫy sức mình dài 10 - 13 mm toàn thân có 13 đốt, đốt thứ 11 lớn nhất, đốt 1 và đốt 10 tương đối nhỏ.
- Nhộng: Dài 5,2 - 7,2 mm, rộng 1,6 - 2,1 mm
- Mỗi năm sinh 4 - 6 lứa, một đời con cái đẻ được 30 - 200 trứng.Trong mùa hè có 90 % số trứng đẻ sau khi giao phối được 3 ngày
- Sâu non có khả năng chị đựng khá tốt với điều kiện độ nhiệt cao
Ngài lúa mạch
Tên khoa học: Sitotroga cerealella Oliv
Họ: Gelechiidae
Bộ: Lepidoptera
- Ngài lúa mạch có thể ăn hại nhiều loại sản phẩm khác nhau như: lúa mì, thóc, đại mạch, yến mạch, ngô, cao lương, kê, ....
- Dạng trưởng thành: Thân dài 9 mm, cánh xòe rộng có thể tới 19 mm. Thân hình màu nâu vàng đến nâu nhạt, trông tựa như màu hạt lúa mì hay hạt thóc, có óng ánh như tơ. Mắt kép màu đen
- Trứng: Hình bầu dục, dài 0,6 mm, rộng 0,3 mm, hình bầu dục màu vàng sữa, trên vỏ trứng có đường vân ngang lồi lõm
- Sâu non: Mới nở màu vàng đỏ, chân ngực rõ ràng, sau khi lột xác một lần, thân hình co rụt lại, chân ngực không còn rõ nữa, thân mình chuyển thành màu trắng sữa.
- Nhộng: Dài 4 - 6 mm, rộng 1,5 - 2 mm, hình ống dài, màu nâu hơi vàng.
Bình thường mỗi năm sinh 4 - 6 lứa, mộ đời con cái đẻ được 389 trứng, trung bình từ 86 - 94 trứng.
- Sâu non phát dục tốt nhất ở độ nhiệt 21 - 250C, dưới 10,30C ngừng phát dục.
Ngài thóc một đốm
Tên khoa học: Aphomia gularis Zeller
Họ: Pyralidae
Bộ: Lepidoptera
- Loài này phân bố khắp thế giới, ở nước ta các vùng đều có. Sâu non ngài thóc một đốm ăn hại gạo, ngô, bột mì, thóc, các loại đâu, hạt có dầu,..
- Dạng trưởng thành: Con cái thân dài 10 - 12 mm, hai cánh trước căng ra dài 24 - 30 mm.
Toàn thân màu nâu xám hơi pha màu vàng. Cánh trước dài gấp 3 lần của chiều rộng lớn nhất
Trứng: Dài 0,8 - 1,0 mm, hình bầu dục bằng và dẹt màu trắng sữa. Trên mặt vỏ trứng có những điểm nhỏ.

- Sâu non: Khi đẫy sức dài 18 - 20 mm, đầu màu hồng nâu. Ngực và bụng màu xám vàng.
- Nhộng: Dài 9 - 12 mm, rộng 2,2 - 2,8 mm, hình bầu dục nhỏ và dài. Đầu và ngực to rộng và nhỏ dần về phía dưới.
- Mỗi năm sinh 1 - 2 lứa. Mỗi con cái một đời đẻ từ 13 - 442 trứng
Ngài gạo
Tên khoa học: Corcyra cephalonica Stainton
Họ: Pyralidae
Bộ: Lepidoptera
- Loài này phân bố khắp thế giới, ở nước ta trong các kho lương thực, nhất là kho gạo.
- Sâu non ăn hại gạo là chủ yếu, ngoài ra còn ăn hại thóc, khoai sắn khô, cám, bột mì và các loại quả khô.
- Dạng trưởng thành hai cánh căng ra dài 14 – 24 mm
- Trứng: Dài 0,5 – 0,75 mm hình bầu dục màu vàng.

- Sâu non: Khi đẫy sức dài 15 mm, màu sắc của sâu non thường hay biến đổi, hoặc màu trắng, hoặc màu xám.
- Nhộng: Dài 7 – 11 mm, màu vàng nâu, mắt kép màu đen nâu. Đốt bụng cuối cùng không có lông móc câu.
-Mỗi năm sinh 2 – 3 lứa, ở 20 – 210C hoàn thành vòng đời mất 42 ngày. Một con cái trong đời đẻ được 89 – 191 trứng
BỘ CÓ RĂNG ( PSOCOPTERA )
HỌ CÓ RĂNG KHÔNG CÁCH ( ATROPIDAE )
- Rệp sách
- Rệp bụi
LỚP NHỆN ( ARACHNOIDAE )
HỌ MẠT THÓC ( TYPOGLYPHIDAE )
- Mạt bột
- Mạt ăn chất mục
- Mạt đường
BỘ GIÁN (BLATTOPTERA, DICTYOPTERA)
- Gián đen
- Gián Đức
Rệp sách
Tên khoa học: Troctes divinatorius Mull
Họ: Atropidae
Bộ: Corrodentia
- Loại này phân bố khắp thế giới, ở các vùng nước ta đều có. Nó ăn hại các loại thóc, các loại bột, quả khô, hạt có dầu, dược liệu và tiêu bản động thực vật.
- Dạng trưởng thành: Thân dài 1 mm, thân dẹt bằng và nhỏ, rất mềm.
- Trứng: Hình bầu dục dài, rất nhỏ, màu xám trắng có ánh bóng, ngoài vỏ trứng có một thứ dịch dẻo nên khi đẻ ra trứng dính chặt vào hạt.
- Mỗi năm sinh 3 - 4 lứa, mỗi con cái một đời đẻ được 20 - 136 trứng, thích sống ở nơi ẩm tối.
Rệp bụi
Tên khoa học: Atropos pulsatorium Linnes
Họ: Atropidae
Bộ: Corrodentia
- Loài này phân bố khắp thế giới, trong các kho lương thực ở nước ta bảo quản lâu ngày, nhất là trong các kho thóc thường có thấy rệp bụi.
-Dạng trưởng thành: Thân dài 1,5 - 2 mm, hình thể trông bề ngoài gần giống rệp sách.
- Trứng: Hình bầu dục, nhỏ, màu vàng sữa, có ánh bóng. Vỏ trứng rất nhỏ nên khó nhìn thấy bằng mắt thường.
- Mỗi năm sinh 2 - 3 lứa, trứng đẻ tập trung , mỗi con cái trong đời đẻ được 40 - 98 trứng, thích sống nơi ẩm tối.
Mạt bột
Tên khoa học: Tyroglyphus farinae Linnes
Họ: Tyroglyphidae
Bộ: Acaria
- Mạt này phân bố khắp thế giới, ở nước ta có khắp nơi. Nó ăn hại các loại bột, hạt, hạt có dầu, đậu, bánh mì, các loại lông da, rơm rạ và dược liệu.
- Dạng trưởng thành: Con đực dài 0,4 - 0,5 mm, con cái dài 0,4 - 0,7 mm, hình bầu dục, thân màu trắng sữa, mình mềm.
- Trứng: Dài 0,12 mm, rộng 0,08 mm, khi mới đẻ màu trắng, sau 3 - 4 ngày màu trắng trong.
- Sâu non: Hình dạng giống dạng trưởng thành, nhưng chỉ có 3 đôi chân, thân lớn hơn trứng mọt một chút.
- Con cái sau khi giao cấu 2- 3 ngày thì đẻ trứng vào đống lương thực, mỗi đời con cái đẻ được 20 - 200 trứng.
- Ðộ nhiệt thích hợp nhất đối với mạt bột vào khoảng 14 - 240C, thủy phần của hạt hoặc bột thích hợp cho sự phát triển của nó là 14 - 17 %.
Mạt đường
Tên khoa học: Glycyphagus destructon Ouds
Họ: Glycyphagidae
Bộ: Acarina
- Mạt đường là một loại mạt rất phổ biến trong kho. Nó có ở hầu khắp thế giới, ở nước ta cũng có loại mạt này. Nó thường phát sinh trong các kho bột mì, dược liệu quả khô.
- Dạng trưởng thành: Con đực mình dài 0,35 - 0,50 mm, tối đa có thể dài tới 0,55 mm, thân hình quả lê, màu sáng trắng, trên lưng phủ lông dài gấp 1,5 lần chiều dài thân.
- Trứng: Dài 0,1 mm, rộng 0,04 mm, hình bầu dục dài màu trắng trong, sau chuyển sang màu vàng sữa.
- Mạt hoạt động không theo một quy luật nào cả. Ðộ nhiệt thích hợp với đời sống của nó là 24 - 290C, thủy phần của hạt lớn hơn 14 %, ở độ nhiệt 20 - 220C mỗi con cái chỉ đẻ được 100 trứng.
- Mạt trưởng thành sống được 2 - 3 ngày. Ðể thực hiện một vòng đời mạt đường cần 25 - 30 ngày. Trên 400C mạt không phát triển được.
Gián đen
Tên khoa học: Blatta orientalis Linnes
Họ: Blattellidae
Bộ: Blattodea
- Loại này có khắp thế giới, ở nước ta thường gặp trong nhà, trong kho. Nó ăn hại lương thực, căn hỏng đồ dùng làm bằng len, dạ, tơ sợi.
- Dạng trưởng thành: Mình dài 20 - 30 mm, thân hình bầu dục, phình to ra ở giữa.
- Trứng: Dài 1,5 - 2 mm, hình bầu dục tròn màu vàng nâu.
- Sâu non: Khi đẫy sức dài 25 - 35 mm , hình ống tròn, màu đen nâu, đầu hình bán nguyệt.
- Nhộng: Thân dài 18 - 25 mm, màu đen nâu, hình bầu dục tròn, đầu cụp xuống phía bụng.
- Trong hoàn cảnh thích hợp, một năm sinh tới 4 lứa, khi gặp điều kiện không thuận lợi một năm chỉ sinh 1 - 2 lứa.
Gián Đức
Tên khoa học: Blatella germanica Linnes
Họ: Blattellidae
Bộ: Blattodea
- Loài này có khắp thế giới, ở nước ta có loại gián này. Nó hoạt động trong nhà, trong kho nông sản, dược liệu, len dạ,...
- Dạng trưởng thành: Mình dài 12 - 14 mm, là loại nhỏ nhất trong 4 loài gián thông thường, màu vàng tối.
- Trứng: hình bầu dục tròn, dài 1 - 1,5 mm, rộng 0,6 - 1 mm, màu vàng trắng, vở không nhẵn bóng.
- Sâu non: Khi đẫy sức dài 10 - 15 mm, màu sắc thân mình có màu tối, đôi khi gần như màu đen. Đoạn trước thân mình có 2 đường vân màu đen.
- Hoạt động nhanh nhẹn, sợ ánh sáng, đẻ nhiều trứng và thời gian thực hiện vòng đời rất ngắn, vì thế rất khó tiêu diệt.
- Điều kiện trong phòng một năm sinh 2 - 3 lứa, một túi trứng có 18 - 50 trứng, mỗi con cái đẻ được 4 - 5 túi trứng.
- Thích sống nơi ẩm tối như gầm kho, dưới vật kê lót kho.

Biện pháp phòng
Kiểm dịch chặt chẽ, nghiêm túc nhằm hạn chế lây lan.
Phòng côn trùng xâm nhập vào kho.
Thường xuyên kiểm tra phát hiện kịp thời để xử lý.
Cách ly triệt để giữa nông sản phẩm cũ và mới, tốt và xấu.
Biện pháp diệt trừ:
1, Biện pháp vật lý:
- Biện pháp cơ học: Sàng sẩy, quạt, quét dọn côn trùng.
- Biện pháp nhiệt học.
2, Biện pháp hoá học:
-Dùng CH3Br, CS3 ,CCl4, C2H4Cl2 ,HCN,…
3, Biện pháp xử lý kho trước khi nhập:
- Điều kiện của kho để xử lý có hiệu quả
+ Đảm bảo kín.
+ Đảm bảo các dụng cụ bảo hộ cho người trực tiếp khử trùng kho.
+ Nắm vững tính chất của từng loại hoá chất, phương pháp, liều lượng khi xử lý.
- Biện pháp kỹ thuật khử trùng kho: Dán kín các khe hở, chuẩn bị các dụng cụ cứu hoả, chuẩn bị pha chế thuốc khử trùng.
CHUỘT HẠI NÔNG SẢN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

Đặc tính sinh học của chuột

Gặm nhấm
Đào bới, leo trèo, nhảy, bơi giỏi.
Có giác quan đặc biệt
Có hành vi.
Sống thành đàn
Phát triển sinh sản nhanh.
Phổ thức ăn rộng.
Khả năng thích nghi đối với điều kiện môi trường nhanh


1, Chuột đàn (Rattus flanvipertus)
Gốc Viễn Đông sống thành đàn, tập tính thích nơi khô sạch.
Đẻ 3-5 lứa/năm, 4-12 con/lứa, chuột con sau 3 tháng đã phát dục đầy đủ và sinh sản được.
2, Chuột cống (Rattus norvegicus)
Gốc Châu Á, lớn hơn chuột nhà, thích nơi ẩm thấp, thiếu không khí, khả năng leo trèo kém. Đẻ 2-7 lứa/năm và 5-12 con/lứa
3, Chuột nhắt (Mus Muscustus urbanus)
Gốc Châu Á, số lượng ít hơn 2 loại trên, thân nhỏ, thích sống vách nhà, mái nhà. Đẻ 4-5 lứa/năm, 5-9 con/lứa.

Tác hại của chuột đối với nông sản:
Là dịch hại nguy hiểm đối với nông sản bảo quản.
Gây tổn thất lớn về số lượng nông sản.
Gây mất phẩm chất nông sản .
Phá hoại kho và các trang thiết bị trong kho
Ăn lương thực, phá hoại hàng hóa và hoa màu
CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

Đề phòng
Làm vệ sinh sạch sẽ kho và các khu vực xung quanh kho, cống rãnh để hạn chế nguồn thức ăn của nó.
Thiết kế kho phải chú ý đến công tác phòng trị ngay từ đầu. Các cửa sổ, lỗ thông hơi, ống máng, … có lưới chắn để phòng chuột làm tổ.
Thường xuyên kiểm tra theo dõi, phát hiện kịp thời để có biện pháp xử lí.
Lấp hang, phá ổ chuột.

Diệt trừ
Vật lý :
Dùng bẫy keo chuyên dụng: để xử lý, tiêu diệt đối với các loài chuột nhắt, chuột mái đuôi đài,…(các loài chuột có trọng lượng nhẹ).
Các loại bẫy như bẫy lồng, bẫy kẹp to, bẫy kiềng, bẫy cung tre, …

Bẫy lồng

Bẫy kẹp
Sử dụng các thiên địch diệt chuột:


Phốt phua kẽm (Zn3P2 ) : ( Foreba 1%, 5%, 20% ) hạn chế sử dụng.

Zn3P2 + 6HCl -> 3ZnCl2 + PH3

Carbonat bari(BaCO3): có tác dụng diệt chuột.

BaCO3 + HCl -> BaCl2 + H2O + CO2
2.Hóa học:
V . NHỮNG YẾU TỐ SINH THÁI TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔN TRÙNG HẠI KHO:
Nhiệt độ
Thức ăn
Thủy phần
Độ ẩm tương đối
Ánh sáng
Sự thông thoáng
Sự cạnh tranh giữa các loài

Nhiệt độ   :
Mỗi loài côn trùng đều có một nhiệt độ tối ưu, ở nhiệt độ đó sự tăng trưởng của quần thể có khả năng đạt cực đại.
VD:Ở nhiệt độ thấp sự phát triển cá thể diễn ra rất chậm và tỷ lệ chết cao, khi nhiệt độ tăng lên tốc độ phát triển của cá thể cũng tăng theo
2.Thức ăn  
Giúp tăng trưởng kích thước cơ thể,
Bù lại phần năng lượng bị mất trong hoạt động sống .
3.Thủy Phần
Thuỷ phần là hàm lượng nước tự do có trong hàng hoá.
Ở độ thuỷ phần quá thấp(cao) thì tốc độ phát triển quần thể sẽ chậm, còn ở độ thuỷ phần cực thuận thì tốc độ đạt cao nhất.
Thuỷ phần thấp không nhất thiết giết chết côn trùng ngay tức khắc, chúng có thể tồn tại với tốc độ phát triển rất hạn chế .

4.Độ ẩm tương đối
Có quan hệ mật thiết với thuỷ phần thức ăn thông qua việc tồn tại giữa cân bằng thuỷ phần và độ ẩm tương đối .
5.Ánh sáng   :
Ða số các loài, gồm cả những loài có thể hoàn thành vòng đời trong tối hoàn toàn, cũng sẽ bị lôi cuốn đến ánh sáng đèn trong kho tối.
6.Sự thông thoáng  
Mức độ ôn hoà của vận động không khí trong kho sẽ có tác động tới vi khí hậu chung quanh khối hàng hoá .

7.Ảnh hưởng của sự cạnh tranh giữa các loài   :



Tài liệu tham khảo:
Trần Văn Chương. 2000. Công nghệ bảo quản chế biến nông sản sau thu hoạch, tập 1 & 2. Nhà Xuất Bản Văn Hoá Văn Tộc.
Trần Văn Hai. 2000. Giáo trình Hoá Bảo Vệ Thực Vật. Lưu hành nội bộ. Khoa Nông Nghiệp Đại Học Cần Thơ.
Chi Cục Kiểm Dịch Thực Vật Vùng II. 1998. Xác định tính kháng thuốc khử trùng xông hơi phosphine (PH3) của một số sâu mọt gây hại chủ yếu trong kho ở miền Nam Việt Nam. Tạp chí Bảo Vệ Thực Vật. Chuyên đề kiểm dịch thực vật….