Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra

Quảng cáo

Quảng cáo

Hướng dẫn sử dụng thư viện

Hỗ trợ kĩ thuật

Liên hệ quảng cáo

  • (04) 66 745 632
  • 0166 286 0000
  • contact@bachkim.vn

trò chơi vận động

Nhấn vào đây để tải về
Hiển thị toàn màn hình
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thanh Hoàng
Ngày gửi: 10h:45' 11-06-2008
Dung lượng: 88.5 KB
Số lượt tải: 594
Số lượt thích: 1 người (Lâm Tuấn Thành)
I. Sự hình thành và phát triển của trò chơi:
Qua các tài liệu cổ người ta biết được rằng, ở thời kỳ tiền sử con người muốn tồn tại phải biết săn bắt và hái lượm mới chống lại được thú dữ, có thực phẩm để ăn và vượt qua được điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên.
Gặp khi thuận lợi, săn bắt được nhiều muông thú, người ta nuôi (nhốt) để dành cho những ngày thời tiết xấu (không đi săn được) hoặc lễ hội. Khi trao đổi kinh nghiệm sau mỗi buổi săn hay khi bắt lại các vật nuôi chính là dịp tập luyện và vui chơi (thi tài). Hoạt động này là "mô phỏng" các lao động của đời sống thực tiễn, là "mầm mống" hình thành trò chơi của xã hội loài người.
Vì thế có thể nói trò chơi xuất hiện từ rất lâu, nó gắn liền với các hoạt động lao động, văn hoá và tín ngưỡng của con người thời tiền sử. Xuất phát từ những hành động, hành vi mô phỏng các hoạt động lao động như: đi, chạy nhẩy, leo trèo, nắm bắt, ném phóng .vv những thao tác bắt chước đó được hình tượng hoá mang tính chất tượng trưng tập luyện cho thuần thục và đôi khi mang tính thần bí.
Với sự phát triển của xã hội, các nghi thức tôn giáo mất dần ý nghĩa, chỉ còn giữ lại mục đích vui chơi, giải trí, rèn luyện giáo dục của cộng đồng. Nhờ khả năng tư duy, ngôn ngữ phát triển người ta nhận thấy tầm quan trọng của sự chuẩn bị trước về các công cụ lao động, sức khỏe và sự tập luyện những thao tác cơ bản, để hiệu quả lao động đạt được cao hơn.
Vì vậy " đối tượng" bị rượt đuổi được thay thế bằng "vai diễn" cũng là người, hoạt động tư duy và khái quát của những người tham gia đã bổ sung thêm làm cho luật và các quy ước trong trò chơi phong phú và mang tính chất tượng trưng cao hơn.
Trò chơi hoàn toàn và luôn luôn biến đổi theo từng sự phát triển của thể chế xã hội, vì nó là phương tiện của giáo dục, nên mỗi chế độ xã hội đều dùng trò chơi để phục vụ cho sự tồn tại và phát triển cùa xã hội đó.
Do tính chất hấp dẫn, lôi cuốn nên trò chơi không chỉ là phương tiện mà nó còn là phương pháp được sử dụng trong giáo dục thể chất và huấn luyện thể thao đối với mọi đối tượng đặc biệt cho các em ở nhà trẻ mẫu giáo và tiểu học.
Phân loại trò chơi: có 3 loại
Trò chơi sáng tạo (Games of creation): Là những trò chơi theo chủ đề, chủ yếu là phát triển trí lực.
Trò chơi hoạt động (Games of skill): Tác động toàn diện cơ thể.
Trò chơi thể thao (Olympic Games): Là các môn thi đấu trong chương trình thế vận hội.
Ở đây chúng ta tập trung tìm hiểu và đi sâu vào loại 2 là trò chơi hoạt động (TCVĐ).

II. Khái niệm TCVĐ và những quan niệm về TCVĐ:
1. Khái niệm: TCVĐ là phương tiện của giáo dục thể chất (GDTC) là hoạt động có ý thức, nhằm đạt được những kết quả, những mục đích có điều kiện đã được đặt ra. Trong khi thực hiện các nhiệm vụ của trò chơi, mỗi người trong từng "vai trò" của mình phải sử dụng các hoạt động như: nói, hát, trả lời, đi, chạy, nhẩy, ném, vỗ, đập, leo, mang, vác, bò, trườn, vượt qua chướng ngại vật, tự bảo vệ mình hoặc bảo vệ đồng đội..vv.

2. Quan niệm TCVĐ:
Quan niệm về TCVĐ rất nhiều, xoay quanh nguồn gốc và ý nghĩa của trò chơi, tuy nhiên có thể chia thành hai trường phái chính.
+ Các nhà nghiên cứu theo chủ nghĩa duy tâm (điển hình là: Gaillois, Siller, Gross, Khol..vv) cho rằng trò chơi mang tính vững bền, không đổi, trong trò chơi chỉ thể hiện "Bản năng sinh tồn", là các hoạt động sinh học thuần tuý. Họ không nhận thấy sự khác biệt khi hoạt động của con người trong trò chơi và lúc động vật đùa giỡn. Ngoài ra, theo họ trò chơi có trước lao động và hai hoạt động này đối kháng nhau.
+ Các nhà nghiên cứu theo chủ nghĩa duy vật (điển hình là: G.Plekhanov, A.Mkarenko.) đã chứng minh rằng lao động đã sản sinh ra trò chơi và làm nền tảng cho sự phát triển tiếp theo của các trò chơi. Với nhận thức đó các nhà giáo dục theo chủ nghĩa Mark luôn đề cao sự giáo dục toàn diện, trong hướng dẫn trò chơi phải đạt được sự phát triển cả trí tuệ đạo đức, thể chất và các mặt giáo dục khác.

III. Phân loại TCVĐ: có 2 cách phân loại
A. Dựa vào các phương tiện: Với nội dung phong phú,TCVĐ sử dụng rất nhiều phương tiện khác nhau, người ta có thể chia thành các dạng hoạt động chính trong khi sử dụng các phương tiện để chơi như sau:
Chơi theo dạng mô phỏng (bắt chước) gồm có:
Diễn xuất cho giống người hay con vật.
Làm theo quy ước giả định, có đối kháng.
(Các trò chơi này có thể kèm theo bài hát, câu đồng dao, bài thơ, hò vè, hoặc âm thanh dẫn nhịp).
Các trò chơi tiếp sức: nhiều người cùng luân phiên thực hiện một công việc, có thể là chạy, nhảy, nói, hát, vẽ...vv
Vượt qua chướng ngại vật (có độ cao, độ khó khác nhau).
Chơi với các đạo cụ cầm tay (khăn, bóng, gậy...).
Có hoạt động đối kháng (một chọi một, một đối kháng tập thể, tập thể đối kháng tập thể).
Hoạt động phán đoán, tìm kiếm để đạt một kết quả nào đó từ những thông tin được thu nhận (các suy luận mang tính logic, âm thanh, hình ảnh, cảm giác. thông qua các giác quan).
Các trò chơi có sự hỗ trợ của phương tiện kỹ thuật hiện đại.

B. Dựa vào mối tương quan của người chơi: có 3 loại
1. Trò chơi cá nhân (không phân chia thành đội): là những trò chơi hoạt động tập thể, có những đặc điểm chính, là trong khi tham gia vào cuộc chơi thì mỗi người đều độc lập, chịu trách nhiệm với riêng mình về vai trò và hành động, không bị ràng buộc liên đới với các thành viên khác. Trong nhóm trò chơi này có thể mọi người tham gia cùng lúc hoặc tham gia lần lượt, trong quá trình chơi có thể có sự "đối chọi" (đấu trí, đấu lực.vv) hoặc không có sự "đối chọi" trong trò chơi.
2. Trò chơi cá nhân chuyển thành đồng đội: Là các trò chơi lúc đầu mọi người hoạt động riêng lẽ, xuất hiện tình huống "bất ngờ" bắt phải kết hợp thành nhóm (tổ) để phối hợp hành động, sự kết hợp đó không ổn định suốt trong một trò chơi.

3. Trò chơi đồng đội: Các trò chơi thuộc nhóm này mang tính chất thi đua của cả đơn vị tập thể (nhóm, tổ, đội..) có đặc điểm là mỗi hành động, dẫn tới kết quả thành công hay thất bại đều ảnh hưởng đến cá nhân người làm và ảnh hưởng đến cả tập thể đó. Mỗi đơn vị phải biết tổ chức, hợp đồng trách nhiệm để mang lại phần thắng.

IV. Tác dụng của TCVĐ trong GDTC và các hoạt động xã hội khác:
1. Giáo dục đạo đức ý chí:
TCVĐ cùng với các môn TDTT, cắm trại được coi là phương tiện chính dùng trong lĩnh vực GDTC. Nói đến GDTC thì nhiệm vụ của mặt giáo dục này không chỉ làm phát triển cơ thể, tăng cường các tố chất vận động, hình thành kỹ xảo vận động mà còn góp phần giáo dục đạo đức ý chí cho người tập. Trong các phương tiện đã nêu thì trò chơi là phương tiện góp phần giáo dục đạo đức ý chí cho người tập rất có hiệu quả, sở dĩ có thể nói như vậy vì:
Các trò chơi gây được hứng thú và rất hấp dẫn người chơi, trong lúc chơi "người tham gia" như được thoát ly khỏi hoàn cảnh thực tại, nên dễ bộc lộ cá tính và thể hiện con ỵgười thật, khó kiềm chế và che dấu những mặt yếu kém về đạo đức ý chí. Nhờ đó những người hướng dẫn (các nhà giáo dục, HLV, thầy cô giáo) có thể nắm vững về từng học sinh để kết hợp giáo dục các mặt ý chí như: cương quyết, dũng cảm, tích cực, kiên trì và hi sinh..
Đồng thời trong quá trình chơi, người chơi tiếp xúc với nhau, cá nhân phải hoàn thành nhiệm vụ của mình trước tập thể ở mức độ cao, tập thể có trách nhiệm động viên giúp đỡ cá nhân hoàn thành nhiệm vụ đó. Vì vậy ta có thể giáo dục các em về đạo đức như: tình bạn, lòng nhân ái, tinh thần tập thể, tôn trọng đối thủ, ngay thẳng trong khi thi đua, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy, mong muốn hoàn thiện..
Điều này được thể hiện rõ nét ở trẻ em trong trò chơi, các em biểu lộ tình cảm rất rõ ràng vui khi thắng lợi, buồn khi thất bại, vui mừng khi thấy đồng đội hoàn thành nhiệm vụ, bản thân thấy có lỗi khi không làm tốt vai trò của mình.Vì tập thể các em phải khắc phục khó khăn, phấn đấu hết khả năng để mang lại thắng lợi cho đội, đây chính là đặc tính thi đua rất cao của TCVĐ.
Nên việc giáo dục cho thanh thiếu niên thông qua TCVĐ là rất cần thiết để giúp trẻ phát triển toàn diện về đạo đức cũng như về thể lực, tạo tiền đề vững chắc cho các quá trình phát triển sau này.

2- Tác dụng tăng cường sức khỏe khi sử dụng làm phương tiện tập luyện:
Qua quá trình nghiên cứu các nhà khoa học đã kết luận: "Vận động là một hiện tượng sinh học, là nhu cầu của cơ thể ở mọi lứa tuổi. Khi vận động mối quan hệ giữa cơ quan cảm thụ đến bộ máy vận động thông qua sự chỉ huy của thần kinh trung ương được thiết lập rất chặt chẽ. Phản xạ từ cơ quan nội tạng ảnh hưởng tới chức phận của hệ vận động, vì vậy ít vận động là nguyên nhân gây ra sự suy yếu của cơ thể và chức năng của từng cơ quan, làm phát triển một số bệnh lý mãn tính, gây rối loạn các chất chuyển hóa trong cơ thể. TCVĐ nếu được thực hiện đúng phương pháp khoa học thì nhất định có tác d
 
Gửi ý kiến