Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra
Đề thi học kì 1

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Điều
Ngày gửi: 21h:03' 02-05-2021
Dung lượng: 99.0 KB
Số lượt tải: 21
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Điều
Ngày gửi: 21h:03' 02-05-2021
Dung lượng: 99.0 KB
Số lượt tải: 21
Số lượt thích:
0 người
ÔN TẬP KIẾN THỨC CÁC VĂN BẢN ĐÃ HỌC
BÀI: PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG (Trương Hán Siêu)
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN:
1. Tác giả, tác phẩm: - Trương Hán Siêu (? - 1354) có tên tự là Thăng Phủ, người làng Phúc Thành, Yên Ninh (nay thuộc Ninh Bình). - Ông vốn là môn khách của Trần Hưng Đạo, làm quan trong nhiều triều đời Trần. Khi mất, ông được vua tặng tước Thái bảo, Thái phó và được thờ ở Văn Miếu (Hà Nội). - Tính tình ông cương trực, học vấn uyên thâm, được các vua Trần tin cậy, nhân dân kính trọng. - Phú là thể văn có vần hoặc xen lẫn văn vần và văn xuôi, dùng để tả cảnh vật, phong tục, kể sự việc, bàn chuyện đời,... - “Phú sông Bạch Đằng" của Trương Hán Siêu làm theo lối phú cổ thể, một loại phú có trước thời Đường, tuy có vần nhưng câu văn tương đối tự do, không bị gò bó vào niêm luật.
- Sông Bạch Đằng vì thế trở thành một đề tài lịch sử trong văn chương Việt Nam từ xưa đến nay: Bạch Đằng giang (Trần Minh Tông), Bạch Đằng giang phú (Trương Hán Siêu), Bạch Đằng giang (Nguyễn Sưởng), Bạch Đằng hải khẩu (Nguyễn Trãi), Hậu Bạch Đằng giang phú (Nguyễn Mộng Tuân),... 2. Nội dung bài Phú sông Bạch Đằng:
a. Bài phú là cuộc đối thoại của những nhân vật: - Nhân vật "khách", sự phàn thân của tác giả. - Nhân vật tập thể, các bô lão địa phương, những người đại diện cho nhân dân ven sông Bạch Đằng mà "khách” gặp trên đường vãn cảnh, người kể lại và bình luận chiến tích trên sông Bạch Đằng.
b. Nhân vật “khách": - Nhân vật "khách” tỏ ra là người đi nhiều
- Người biết nhiều
- Người có tâm hồn rộng mở và đặc biệt có tráng chí cao cả phương vẫn còn tha thiết, luôn muốn làm giàu vốn tri thức cho tâm hồn mình. - “Khách" dạo chơi phong cảnh không chỉ để thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên mà qua đó còn nghiên cứu cảnh trí đất nước, làm giàu vốn tri thức: cho tâm hồn mình. - Tráng chí của khách: + Thể hiện ở tâm hồn khoáng đạt, hoài bão lớn lao (“Nơi có người đi, đâu mà chẳng biết"; "Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều, - Mà lòng tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết). + Thể hiện qua hai loại địa danh: Những địa danh lấy trong điển cố Trung Quốc. Đây là những nơi mà tác giả “đi qua” bằng sách vở, bằng trí tưởng tượng của một người có trí thức, có "tráng chí bốn phương”; Những địa danh của đất nước Việt Nam với không gian cụ thể: của Đại Than, bến Đông Triều, sông Bạch Đằng. Đây là những nơi có thực, cụ thể của đương thời, đang hiện ra trước mắt, được khách nhìn thấy trực tiếp. - Sông Bạch Đằng qua cái nhìn của khách: Cảnh hiện lên vừa thật hùng vĩ, hoành tráng, thơ mộng, vừa mang màu sắc ảm đạm, hiu hắt, in đầy dấu ấn của lịch sử oanh liệt của quá khứ. - Cảm xúc của khách khi đến sông Bạch Đằng: + Tràn đầy niềm vui trước cảnh sông nước hùng vĩ, thơ mộng của Tổ quốc + Tự hào trước dòng sông ghi dấu chiến công oai hùng của dân tộc + Đau buồn, tiếc nuối vì chiến trường xưa một thời oanh liệt nay trơ trọi, hoang vu trước dòng thời gian lưu chuyển + Thể hiện tâm hồn phong phú, nhạy cảm và hết sức sâu sắc của khách. 3. Nhân vật “bô lão” - Nhân vật tập thể các bô lão địa phương có thể là thật. Đấy là những người dân ven sông Bạch Đằng mà tác giả gặp trên đường vãn cảnh. - Cũng có thể nhân vật này chi có tính hư cấu, là tâm tư tình cảm của tác giả hiện thành nhân vật để qua cuộc gặp gỡ, đối thoại của họ với nhân vật "khách’’, tác giả bộc lộ hết những suy nghĩ và cảm xúc của mình trước cảnh sông Bạch Đằng. - Các bô lão kể với khách những chiến công “buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt ô Mã” - Diễn biến chiến thắng trên sông Bạch Đằng thời Trần: + Ban đầu, ta xuất quân với khí thế hào hùng ("Thuyền bè muôn đội, tinh kì phấp phới - Hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói”). Còn quân giặc cũng ra oai ("Những tưởng gieo roi một lần - Quét sạnh Nam bang bốn cõi"). + Tiếp đến, trận đánh diễn
BÀI: PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG (Trương Hán Siêu)
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN:
1. Tác giả, tác phẩm: - Trương Hán Siêu (? - 1354) có tên tự là Thăng Phủ, người làng Phúc Thành, Yên Ninh (nay thuộc Ninh Bình). - Ông vốn là môn khách của Trần Hưng Đạo, làm quan trong nhiều triều đời Trần. Khi mất, ông được vua tặng tước Thái bảo, Thái phó và được thờ ở Văn Miếu (Hà Nội). - Tính tình ông cương trực, học vấn uyên thâm, được các vua Trần tin cậy, nhân dân kính trọng. - Phú là thể văn có vần hoặc xen lẫn văn vần và văn xuôi, dùng để tả cảnh vật, phong tục, kể sự việc, bàn chuyện đời,... - “Phú sông Bạch Đằng" của Trương Hán Siêu làm theo lối phú cổ thể, một loại phú có trước thời Đường, tuy có vần nhưng câu văn tương đối tự do, không bị gò bó vào niêm luật.
- Sông Bạch Đằng vì thế trở thành một đề tài lịch sử trong văn chương Việt Nam từ xưa đến nay: Bạch Đằng giang (Trần Minh Tông), Bạch Đằng giang phú (Trương Hán Siêu), Bạch Đằng giang (Nguyễn Sưởng), Bạch Đằng hải khẩu (Nguyễn Trãi), Hậu Bạch Đằng giang phú (Nguyễn Mộng Tuân),... 2. Nội dung bài Phú sông Bạch Đằng:
a. Bài phú là cuộc đối thoại của những nhân vật: - Nhân vật "khách", sự phàn thân của tác giả. - Nhân vật tập thể, các bô lão địa phương, những người đại diện cho nhân dân ven sông Bạch Đằng mà "khách” gặp trên đường vãn cảnh, người kể lại và bình luận chiến tích trên sông Bạch Đằng.
b. Nhân vật “khách": - Nhân vật "khách” tỏ ra là người đi nhiều
- Người biết nhiều
- Người có tâm hồn rộng mở và đặc biệt có tráng chí cao cả phương vẫn còn tha thiết, luôn muốn làm giàu vốn tri thức cho tâm hồn mình. - “Khách" dạo chơi phong cảnh không chỉ để thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên mà qua đó còn nghiên cứu cảnh trí đất nước, làm giàu vốn tri thức: cho tâm hồn mình. - Tráng chí của khách: + Thể hiện ở tâm hồn khoáng đạt, hoài bão lớn lao (“Nơi có người đi, đâu mà chẳng biết"; "Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều, - Mà lòng tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết). + Thể hiện qua hai loại địa danh: Những địa danh lấy trong điển cố Trung Quốc. Đây là những nơi mà tác giả “đi qua” bằng sách vở, bằng trí tưởng tượng của một người có trí thức, có "tráng chí bốn phương”; Những địa danh của đất nước Việt Nam với không gian cụ thể: của Đại Than, bến Đông Triều, sông Bạch Đằng. Đây là những nơi có thực, cụ thể của đương thời, đang hiện ra trước mắt, được khách nhìn thấy trực tiếp. - Sông Bạch Đằng qua cái nhìn của khách: Cảnh hiện lên vừa thật hùng vĩ, hoành tráng, thơ mộng, vừa mang màu sắc ảm đạm, hiu hắt, in đầy dấu ấn của lịch sử oanh liệt của quá khứ. - Cảm xúc của khách khi đến sông Bạch Đằng: + Tràn đầy niềm vui trước cảnh sông nước hùng vĩ, thơ mộng của Tổ quốc + Tự hào trước dòng sông ghi dấu chiến công oai hùng của dân tộc + Đau buồn, tiếc nuối vì chiến trường xưa một thời oanh liệt nay trơ trọi, hoang vu trước dòng thời gian lưu chuyển + Thể hiện tâm hồn phong phú, nhạy cảm và hết sức sâu sắc của khách. 3. Nhân vật “bô lão” - Nhân vật tập thể các bô lão địa phương có thể là thật. Đấy là những người dân ven sông Bạch Đằng mà tác giả gặp trên đường vãn cảnh. - Cũng có thể nhân vật này chi có tính hư cấu, là tâm tư tình cảm của tác giả hiện thành nhân vật để qua cuộc gặp gỡ, đối thoại của họ với nhân vật "khách’’, tác giả bộc lộ hết những suy nghĩ và cảm xúc của mình trước cảnh sông Bạch Đằng. - Các bô lão kể với khách những chiến công “buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt ô Mã” - Diễn biến chiến thắng trên sông Bạch Đằng thời Trần: + Ban đầu, ta xuất quân với khí thế hào hùng ("Thuyền bè muôn đội, tinh kì phấp phới - Hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói”). Còn quân giặc cũng ra oai ("Những tưởng gieo roi một lần - Quét sạnh Nam bang bốn cõi"). + Tiếp đến, trận đánh diễn
 








Các ý kiến mới nhất