Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Các đề luyện thi

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Thương
Ngày gửi: 20h:42' 30-03-2022
Dung lượng: 18.7 KB
Số lượt tải: 185
Số lượt thích: 0 người
Phân tích bài “Vọng nguyệt” (Ngắm trăng) – HCM
Mở bài
* Cách 1:Trăng vốn là đề tài vô tận của thơ ca.Một trong những tác giả viết nhiều về trăng là Hồ Chí Minh. Suốt cuộc đời cách mạng gian truân và vẻ vang của Bác, Bác luôn coi trăng là tri âm, tri kỉ. “Vọng nguyệt” (Ngắm trăng) là bài thơ tiêu biểu của Người:
“Ngục trung vô tửu diệc vô hoa
Đôi thử lương tiêu nại nhược hà
Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt
Nguyệt tòng song khích khán thi gia”

* Cách 2: Hồ Chí Minh không những là vị lãnh tụ vĩ đại mà còn là nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc ta. Nhắc đến thơ ca của Bác, chúng ta nhớ ngay đến bài thơ “Vọng nguyệt” (Ngắm trăng). Bài thể hiện tình yêu thiên nhiên, tinh thần lạc quan của Bác trong cảnh ngục tù:
“Ngục trung vô tửu diệc vô hoa
Đối thử lương tiêu nại nhược hà?

Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt
Nguyệt tòng song khích khánthi gia”
Thân bài
2.1. Khái quát chung
Bài thơ "Vọng nguyệt”(Ngắm trăng) nằm trong tập "Nhật kí trong tù", được Hồ Chí Minh viết vào giai đoạn 1942 - 1943, khi đang bị cầm tù trong nhà lao Tưởng Giới Thạch. Tập thơ ấy không chỉ ghi lại những gian khổ Người trải qua mà còn ghi lại cả hình ảnh một thi nhân với tấm lòng yêu thiên nhiên đầy mãnh liệt. Và "Vọng nguyệt" chính là một minh chứng rõ ràng nhất cho điều đó. Nó vừa là bức tranh hiện thực chốn lao tù, vừa là tình yêu thiên nhiên, vừa chứa đựng tinh thần lạc quan, yêu đời của Bác.
Phân tích
* Luận điểm 1: Hoàn cảnh ngắm trăng và tâm trạng của Bác
Đến với hai câu thơ đầu của bài thơ, chúng ta bắt gặp hoàn cảnh ngắm trăng và tâm trạng của Bác:
“Ngục trung vô tửu diệc vô hoa– hoàn cảnh thiếu thốn
Đối thử lương tiêu nại nhược hà? – tâm trạng bối rối, lấy làm tiếc
(Xưa nay, thi nhân khi gặp cảnh trăng đẹp sẽ mang rượu ra, ngồi dưới ánh trăng thư thái uống rượu, thưởng hoa, ngắm trăng, làm thơ. Đây được coi là thú vui tao nhã, đầy lãng mạn và thi vị. Thế nhưng) Bác lại ngắm trăng trong một hoàn cảnh vô cùng đặc biệt. Cụ thể vào lúc nửa đêm, trong không gian tù túng, nơi chỉ có bốn bức tường tối tăm và xiềng xích. Không những thế trong điều kiện “vô tửu diệc vô hoa” (không rượu cũng không hoa). Với biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ “vô”, câu thơ đã nhấn mạnh hoàn cảnh đặc biệt thiếu thốn, gian khổ của Người. Ở cái hoàn cảnh, cái nơi mà người ta chỉ có thể nghĩ đến cái chết, sự tra tấn, đau khổ nhưng dường như Bác đã quên đi hoàn cảnh và thân phận tù nhân của mình mà thoải mái đứng ngắm trăng, làm thơ. Bên cạnh đó chúng ta còn phát hiện ra tâm trạng của Bác trước cảnh đêm trăng đẹp “khó hững hờ”. Câu thơ thứ hai là một câu hỏi tu từ, thể hiện tâm trạng bối rối, xao xuyến trước cảnh đẹp ngoài song sắt.Và Bác lấy làm tiếc khi không có rượu, có hoa để đáp lại tình tứ của ánh trăng.
* Luận điểm 2: Mối giao hoà giữa Bác và trăng đồng thờilà phong thái ung dung tự tại của Người.
Tiếp đến, hai câu thơ sau là mối giao hoà giữa Bác và trăng đồng thời là phong thái ung dung tự tại của Người.
Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt
Nguyệt tòng song khích khánthi gia”

- Tình yêu thiên nhiên đến say mê của Bác:
+ Qua song sắt nhà tù, Bác vẫn cảm nhận được vẻ đẹp tuyệt vời của thiên nhiên, của ánh trăng. Xiềng xích nhà tù chỉ có thể trói được thân thể Bác chứ không thể ngăn được tâm hồn thi nhân bay đến với thiên nhiên rộng lớn.
+ Hai câu thơ 3, 4 đối nhau: Mỗi câu thơ chia làm 3, 1 bên là “nhân” (chỉ thi nhân), 1 bên là “nguyệt” (trăng), và ở giữa là song sắt nhà tù. Cấu trúc đối này đã vẽ ra hoàn cảnh thực tại (song sắt nhà tù chia rẽ người và trăng), nhưng chính từ đó, người đọc lại thấy nổi bật lên đó là sự giao thoa, sự hòa quyện giữa thi nhân với ánh trăng, với thiên nhiên trong mọi hoàn cảnh, Qua đó thể hiện tình bạn tri âm tri kỉ đầy xúc động giữa nhà thơ với trăng.
Nghệ thuật nhân hoá “trăng: nhòm, ngắm”
Với một phép nhân hóa tài tình, Hồ Chí Minh đã biến vầng trăng kia trở thành một con người
 
Gửi ý kiến