Violet
Dethi

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Truyện hoàng tử hạnh phúc

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: lê thị lành (trang riêng)
Ngày gửi: 06h:54' 25-09-2023
Dung lượng: 808.1 KB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích: 0 người
HOÀNG TỬ HẠNH PHÚC VÀ NHỮNG TRUYỆN
KHÁC


Oscar Wilde

Dự án ebook #1 thuộc Tủ sách BOOKBT

Thông tin sách
Tên sách: Hoàng Tử Hạnh Phúc Và Những Truyện Khác (Truyện Thần Tiên)
Nguyên tác: The Happy Prince and Other Tales
Tác giả: Oscar Wilde
Biên dịch: Hồng Vân
Xuất bản: 3/2005
Trọng lượng: 160g
NXB: Hội Nhà Văn
Số trang: 216 trang
Kích thước 13x19
Giá bán: 22.000đ
Thể loại: Cổ tích, Truyện Thần tiên
Thông tin ebook
Type+Làm ebook: thanhbt
Ngày hoàn thành:
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
18/04/2015

Dự án ebook #1 thuộc Tủ sách BOOKBT
Ebook này được thực hiện nhằm chia sẻ cho những bạn không có điều kiện mua sách!
Còn nếu bạn có khả năng hãy mua ủng hộ nha!



Giới thiệu
Hoàng Tử Hạnh Phúc Và Những Truyện Khác là một trong hai tập truyện thần tiên mà nhà văn nổi
tiếng người Ireland - Oscar Wilde (1854 - 1900) viết cho hai cậu con trai của ông. Mặc dù không viết
nhiều cho thiếu nhi, nhưng hai tập truyện thần tiên của ông đã để lại dấu ấn riêng trong văn học thiếu
nhi. Truyện thần tiên của ông có phong cách riêng vừa đầy chất thơ vừa thấm đẫm chất suy tưởng.
Chính vì thế mà nó được dành cho cả người lớn trong những chiêm nghiệm về cuộc đời.



Mục lục
Lời nói đầu











Hoàng tử hạnh phúc
Người bạn tận tụy
Sinh nhật của công chúa Tây Ban Nha
Họa mi và hồng nhung
Giấc mơ của một nhà vua trẻ
Tên khổng lồ ích kỷ
Quả pháo sáng phi thường
Người đánh cá và linh hồn
Cậu bé ngôi sao

Lời nói đầu


Hoàng tử hạnh phúc và những truyện khác là một trong hai tập truyện thần tiên mà nhà văn nổi tiếng
người Ireland - Oscar Wilde (1854 - 1900) viết cho hai cậu con trai của ông. Wilde sinh trưởng trong
một gia đình khá nổi tiếng, mẹ của ông làm thơ và viết báo. Cha ông - William Wilde - là một nhà
nghiên cứu cổ vật, một nhà văn có tài và là một bác sĩ chuyên khoa về tai và mắt. Wilde nổi tiếng từ
khi còn khá trẻ, tài năng và phong cách viết dí dỏm của ông chẳng mấy chốc đã đưa ông lên địa vị của
một người phát ngôn cho trào lưu duy mỹ nổi tiếng ở châu Âu vào cuối thế kỉ XIX.
Trong vòng 20 năm kể từ 1878 đến 1898 Oscar viết vào khoảng 17 tác phẩm gồm cả các tuyển tập
thơ, kịch và truyện ngắn. Nhưng ông nổi tiếng hơn cả về những tập thơ giàu chất suy tưởng và giá trị
nhân văn. Vào những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XIX ông chuyển sang viết kịch và mau chóng
có một vị trí quan trọng trong làng kịch thế giới vào cuối thế kỉ XIX với một loạt những vở kịch làm
xôn xao giới kịch nghệ ở Anh, Pháp và Mỹ.
Mặc dù không viết nhiều cho thiếu nhi, nhưng hai tập truyện thần tiên của ông đã để lại dấu ấn riêng
trong văn học thiếu nhi. Truyện thần tiên của ông có phong cách riêng vừa đầy chất thơ vừa thấm đẫm
chất suy tưởng, chính vì thế mà nó cũng được dành cho cả người lớn trong những chiêm nghiệm về
cuộc đời.
Nhà Xuất bản Hội Nhà Văn và Công ty Văn hóa Phương Nam hân hạnh giới thiệu với bạn đọc trọn bộ
truyện thần tiên này. Trước đây, truyện Hoàng tử hạnh phúc cũng đã từng được dịch ra tiếng Việt in
trong một tuyển tập truyện cổ tích và một truyện vừa nổi tiếng khác Chân dung của Dorian Gray cũng
đã được Nhà Xuất bản Đà Nẵng ấn hành. Oscar Wilde không phải là chưa được biết đến ở Việt Nam,
nhưng những cuốn sách giới thiệu về ông và những tác phẩm của ông được chuyển ngữ sang tiếng
Việt còn chưa nhiều. Chúng tôi hi vọng cuốn sách này góp một phần nhỏ vào việc giới thiệu các danh
nhân văn hóa trên thế giới được tốt hơn với bạn đọc xa gần. Chúng tôi cũng hi vọng nhận được ý kiến
phê bình đóng góp của bạn đọc để chúng tôi có điều kiện cải thiện chất lượng phục vụ.

Hoàng tử hạnh phúc


Cao cao phía trên thành phố, trên một cái cột ngay quảng trường sừng sững bức tượng của Hoàng tử
Hạnh Phúc. Khắp người Hoàng tử được thếp bằng những lá vàng mười, đôi mắt là hai viên xa phia rực
sáng, một viên hồng ngọc cực lớn đính ở chuôi gươm của cậu bé Hoàng tử.
Thực vậy, trông cậu rất đáng ngưỡng mộ. “Cậu ta đẹp như một cái chong chóng,” một ủy viên trong
Hội đồng Thành phố nhận xét - người này nôn nóng muốn được tiếng là có gu thẩm mỹ. “Chỉ có điều
không thật có ích,” ông nói thêm vì sợ rằng người ta nghĩ ông là người thiếu thực tế, một điều chắc
chắn là oan cho ông lắm lắm.
“Tại sao con không giống như Hoàng tử Hạnh Phúc kia?” một bà mẹ nhạy cảm hỏi đứa con nhỏ khi
thằng bé dai dẳng khóc đòi mặt trăng. “Hoàng tử có bao giờ nghĩ đến chuyện khóc vì bất cứ cái gì
đâu”.
“Mình lấy làm sung sướng là trên đời này còn có một người thật sự hạnh phúc,” một người đàn ông
tuyệt vọng làu bàu trong miệng khi nhìn lên bức tượng tuyệt đẹp. “Trông cậu ấy giống như một thiên
thần vậy,” những đứa trẻ mồ côi xúng xính những chiếc áo khoác màu đỏ và những cái yếm trắng tinh
kêu lên khi chạy từ trong nhà thờ ra. “Sao các con biết?” Thầy giáo dạy toán hỏi, “các con đã thấy một
thiên thần nào chưa?”
“Có mà, chúng con có thấy, trong những giấc mơ,” bọn trẻ đáp. Thầy giáo dạy toán cau mày nghiêm
nghị vì không muốn khuyến khích bọn trẻ con mơ mộng.
Một đêm nọ, có một chú chim nhạn lẻ loi bay trên bầu trời thành phố. Bạn bè của nó đã bay cả sang Ai
Cập từ 6 tuần trước, còn nó thì quyết định ở lại bởi vì nó đem lòng say mê một cây sậy đẹp tuyệt. Nó
đã gặp nàng Sậy vào một ngày đầu mùa xuân khi bay ra sông theo một con bướm đêm lớn màu vàng
và cái eo mảnh dẻ của nàng Sậy đã quyến rũ nó, làm nó phải đậu lại bắt chuyện với nàng. “Tôi có thể
nói tôi yêu nàng được không?” Nhạn hỏi, nó vốn thích đi thẳng vào vấn đề. Nghe thế Sậy ta cúi đầu e
thẹn. Anh chàng khoái quá cứ lượn tròn quanh nàng, chạm cả cánh xuống mặt nước làm văng lên
những tia nước bạc. Thế là công cuộc chinh phục người đẹp của nó kéo dài suốt mùa hè.
“Thật là một sự gắn bó ngu ngốc,” bọn Nhạn khác kháo nhau, “cô ả chẳng có tiền bạc gì, lại có một lô
một lốc bà con!” Quả vậy, dòng sông ấy mọc đầy lau sậy. Rồi gió heo may kéo về, cả đàn chim kéo
nhau về phương Nam ấm áp.
Sau khi các bạn đi cả, Nhạn trở nên thật cô đơn và bắt đầu cảm thấy mệt mỏi vì người yêu. “Cô nàng
chẳng chuyện trò gì cả,” nó nói một mình, “và ta sợ rằng cô nàng không được nết na cho lắm bởi vì cô
ta còn ỡm ờ với cả anh chàng Gió”. Chắc chắn là một khi Gió ùa tới chòng ghẹo, chị chàng bao giờ
cũng nhún gối chào duyên dáng. “Mình thừa nhận là cô nàng chỉ thích ru rú nơi xó nhà, mà mình thì
lại có máu phiêu lưu đây đó. Ai là vợ mình cũng phải thích đi du lịch mới được”.
“Nàng vui lòng đi theo tôi chứ?” Cuối cùng Nhạn hỏi nhưng Sậy lắc đầu nhè nhẹ, nàng quá gắn bó với
quê hương mà.
“Với tôi, cô em chỉ là một kẻ tầm thường,” nó nóng nảy kêu lên. “Thôi, tôi đi đến với các Kim tự tháp
đây. Vĩnh biệt nhé.” Và nó tung cánh bay đi.

Nó bay suốt một ngày dài và đến đêm thì tới một thành phố. “Mình có thể hạ cánh ở đâu đây? Hi vọng
thành phố cũng có một vài nơi để cho ta chuẩn bị...”. Thế rồi nó thấy một bức tượng trên một cái cột
cao. “Mình sẽ dừng cánh ở đây,” Nhạn kêu lên, “nơi này cũng khá lắm, không khí thật trong lành”.
Thế là nó đậu xuống chỗ trống giữa hai chân của Hoàng tử Hạnh Phúc.
“Ta sẽ có một cái giường vàng,” nó nói nhỏ một mình trong lúc đưa mắt nhìn quanh rồi chuẩn bị đánh
một giấc, nhưng vừa mới rúc đầu dưới một bên cánh nó cảm thấy có một giọt nước to rơi trúng người.
“Thật lạ lùng!” nó kêu lên, “trên trời không có một đám mây, những ngôi sao hiện rõ và lấp lánh trên
bầu trời thế kia thì làm gì có mưa nhỉ. Thời tiết ở vùng Bắc Âu này thật dễ sợ. Cô nàng Sậy thích mưa
nhưng chỉ thuần túy là vì bản thân mình mà thôi.”
Rồi lại một giọt nước nữa.
“Cái pho tượng này còn có ích gì cơ chứ nếu nó không tránh cho ta được những giọt mưa?” Nhạn hỏi.
“Mình đến phải đi tìm một cái ống khói tươm tươm một chút thôi.” Nói rồi nó quyết định bay đi chỗ
khác.
Nhưng trước khi nó toan giang rộng cánh bay lên lại có một giọt nữa, giọt thứ ba rơi xuống và nó nhìn.
Nó thấy gì?
Đôi mắt của Hoàng tử Hạnh Phúc dâng đầy nước mắt, nước mắt thánh thót rơi trên đôi má vàng của
cậu. Dưới ánh trăng khuôn mặt cậu đẹp đến nỗi cả con Nhạn nhỏ bé cũng cảm thấy xúc động.
“Anh là ai?”
“Tôi là Hoàng tử Hạnh Phúc”.
“Thế tại sao anh lại khóc? Anh làm người tôi ướt sũng đây này”.
“Khi tôi còn sống và còn có trái tim con người,” pho tượng đáp, “tôi nào biết nước mắt là gì bởi vì tôi
sống trong lâu đài Sans - Souci nơi mà nỗi buồn không được phép đặt chân vào. Ban ngày tôi chơi với
bạn bè trong vườn thượng uyển, buổi tối tôi nhảy múa ở đại sảnh. Bao quanh vườn thượng uyển là một
bức tường cao ngất nhưng chưa bao giờ tôi đặt ra câu hỏi là có cái gì nằm phía ngoài bức tường ấy,
mọi thứ xung quanh tôi đã tốt đẹp quá mức rồi. Triều thần gọi tôi là Hoàng tử Hạnh Phúc và thực sự
tôi rất hạnh phúc nếu có thể gọi những niềm vui lớn nhỏ là hạnh phúc. Vâng, tôi đã sống và đã chết.
Khi tôi chết người ta đưa tôi lên đây, cao đến nỗi tôi có thể thấy tất cả những xấu xa, ô trọc và đau khổ
của thành phố này. Và dẫu trái tim tôi được đúc bằng chì thì tôi cũng không thể không khóc được.”
“Cái gì, anh ta không phải được làm bằng vàng thật sao?” Chú Nhạn ta tự hỏi. Nó quá lịch thiệp để có
thể nói ra bất cứ một nhận xét có tính cách cá nhân nào.
“Cách đây khá xa,” pho tượng tiếp tục bằng một giọng trầm trầm đầy nhạc tính, “cách đây khá xa
trong một con phố hẹp có một ngôi nhà nhỏ tồi tàn. Một ô cửa sổ đang mở và qua đó tôi có thể nhìn
thấy một người đàn bà đang ngồi bên bàn. Khuôn mặt gầy gò, hốc hác, đôi tay đỏ ửng, sần sùi, đầy vết
kim châm bởi vì bà làm nghề thợ may. Bà phải thêu những bông hoa lạc tiên lên những chiếc váy xa
tanh cho cô phù dâu dễ thương nhất của Nữ hoàng mặc trong buổi dạ hội lần tới, được tổ chức trong
hoàng cung. Trong chiếc giường ở góc phòng là đứa con trai bé bỏng của bà đang bị ốm. Nó sốt rất
cao, chỉ muốn ăn cam. Nhưng mẹ nó chẳng có gì cho nó uống trừ nước lã mang từ sông về, thế nên nó
mới khóc như thế. Nhạn ơi, Nhạn bé nhỏ ơi, bạn có vui lòng mang đến cho người mẹ viên hồng ngọc
trên chuôi gươm của tôi không? Chân tôi bị vít chặt vào cái bệ này và tôi không thể đi đâu được”.
“Người ta đang đợi tôi ở bên Ai Cập,” Nhạn tâm sự. “Bạn tôi đang bay lên bay xuống vùng lưu vực
sông Nile, trò chuyện với những bông sen lớn. Chẳng bao lâu sau họ sẽ ngủ trong lăng mộ của một vị

Hoàng đế. Vị Hoàng đế này nằm trong một chiếc quan tài có vẽ hoa văn lộng lẫy. Người ông ta quấn
trong một tấm vải liệm bằng len màu vàng và toàn thân tẩm đầy hương liệu quý. Cổ ông ta đeo một sợi
dây chuyền cẩn những viên ngọc màu xanh lá cây, đôi tay ông ta nom như những chiếc lá khô héo”.
“Nhạn ơi, Nhạn ơi, Nhạn bé nhỏ ơi,” Hoàng tử gọi, giọng tha thiết, “bạn có thể ở lại với tôi một đêm
và làm sứ giả cho tôi không? Cậu bé kia đang khát quá, còn người mẹ mới có vẻ buồn nẫu ruột làm
sao”.
“Tôi không nghĩ mình khoái bọn con trai,” Nhạn trả lời. “Năm ngoái, tôi ở gần một con sông, có hai
thằng bé rất hỗn, con của ông chủ cối xay, bọn chúng ấy à... cứ lấy đá ném tôi. Tất nhiên làm sao ném
trúng tôi được; loài nhạn chúng tôi bay nhanh lắm.
Nhưng nom Hoàng tử Hạnh Phúc buồn đến độ chim Nhạn cũng cảm thấy thương hại. “Ở đây lạnh
khiếp,” chim nói, “nhưng tôi sẽ ở lại đây một đêm và làm sứ giả của anh”.
“Cảm ơn bạn, chim Nhạn bé nhỏ của tôi”.
Nhạn mổ viên hồng ngọc gắn ở chuôi gươm của Hoàng tử rồi bay đi, ngậm viên ngọc trong mỏ trong
khi lướt qua những mái nhà mấp mô trong thành phố.
Nó bay qua một tháp chuông nhà thờ, nơi có những pho tượng các thiên thần tạc bằng đá hoa cương
trắng. Nó bay qua hoàng cung, nghe vẳng lên không trung tiếng nhạc dập dìu trong phòng khiêu vũ.
Một mỹ nhân bước ra ngoài ban công với người yêu của nàng. “Những vì sao mới kỳ diệu làm sao,”
chàng trai ghé tai người yêu thì thầm, “và sức mạnh của tình yêu mới tuyệt vời làm sao!” “Em hi vọng
áo dạ hội của em sẽ xong đúng vào lúc tổ chức buổi dạ hội cung đình,” nàng thỏ thẻ: “Em đã đặt người
ta thêu hoa lạc tiên lên áo, nhưng cái bọn thợ thêu ấy thật lười quá thể”.
Nó bay qua sông, thấy những chiếc đèn lồng treo trên cột buồm các con tàu. Nó bay qua khu dân cư
của người Do Thái, thấy mấy người Do Thái già đang mặc cả với nhau và tính tiền bằng những cái cân
đồng. Cuối cùng nó cũng bay đến ngôi nhà tồi tàn nọ và nhìn vào trong. Thằng bé đang giãy đạp trong
cơn sốt nóng đùng đùng còn người mẹ thì chợt thiếp đi, bà quá mệt. Chim nhảy nhót, nhả hòn ngọc lên
bàn bên cạnh cái đê tay của người thợ thêu. Rồi nó nhẹ nhàng bay lượn quanh giường, dùng cánh quạt
mát trán thằng bé. “Sao mát mẻ thế,” cậu bé thốt lên, “chắc mình sẽ khỏe ngay,” rồi cậu bé lại chìm
vào một giấc ngủ dễ chịu hơn.
Nhạn quay về với Hoàng tử Hạnh Phúc, kể cho cậu nghe việc nó đã làm. “Thật lạ,” nó nói, “tôi cảm
thấy ấm áp hơn dù trời rất lạnh”.
“Đó là bởi vì bạn vừa thực hiện một hành động đẹp,” Hoàng tử nói. Chim Nhạn bắt đầu suy nghĩ rồi
lim dim ngủ. Suy tư bao giờ cũng làm nó buồn ngủ.
Khi ngày vừa rạng lên ở chân trời, Nhạn bay ra sông tắm táp.
“Thật là một hiện tượng lạ lùng,” Giáo sư bộ môn triết học kêu lên trong lúc ông đang đi qua cầu.
“Một con chim Nhạn trong tiết đông!” Sau đó ông viết cả một bài báo dài về nó đăng trên tờ báo địa
phương. Ai ai cũng trích dẫn lời bài báo đó, nó đầy rẫy những từ không một ai hiểu nổi.
“Tối nay mình bay đi Ai Cập,” Nhạn nói, lòng hân hoan với viễn cảnh ấy. Nó đi thăm tất cả các tượng
đài nơi công cộng, đậu hồi lâu trong một tháp chuông nhà thờ. Bất cứ nơi nào nó đến bọn chim Sẻ
cũng líu ra líu ríu nói với nhau: “Thật là một vị khách lạ khác thường!” Câu nói ấy làm cho Nhạn ta
cảm thấy mình thật oách.
Khi mảnh trăng bắt đầu đi lên, chim bay về chỗ Hoàng tử Hạnh Phúc. “Anh có gửi tin nhắn nào sang

Ai Cập không? Tôi sắp xuất phát đây”.
“Nhạn ơi, Nhạn bé nhỏ ơi, bạn có thể ở lại bên tôi một đêm nữa không?”
“Người ta đang ngóng tôi ở Ai Cập,” Nhạn đáp. “Ngày mai bạn bè tôi sẽ bay cả đến Thác nước thứ
hai. Con hà mã nằm ườn trong những bụi cây hương bồ và trên cái ngai làm bằng đá granite là Chúa
Memnon. Suốt một đêm dài, Ngài ngồi ngắm các vì sao và khi sao mai sáng rực một vùng trời, Ngài
thốt lên một tiếng kêu sung sướng, sau đó lại rơi vào im lặng. Đến trưa những con sư tử vàng ra bờ
sông uống nước. Chúng có đôi mắt giống như chất berin xanh, tiếng gầm của chúng còn to hơn tiếng
gầm của thác nước”.
“Nhạn ơi, Nhạn bé nhỏ ơi,” Hoàng tử nói: “Xa xa bên đầu kia thành phố tôi thấy một chàng trai sống
trên một gác xép áp mái. Chàng đang tựa cả người vào cái bàn phủ đầy giấy tờ, và trong cái li không
chân để cạnh chàng có một cành viôlét héo. Tóc chàng vàng ươm và quăn quăn, môi chàng đỏ tựa múi
lựu, đôi mắt to mơ màng. Chàng đang cố hoàn thành một vở kịch cho đạo diễn nhà hát, nhưng trời
lạnh đến nỗi chàng không thể viết được nữa. Không có lửa trong lò và cái đói làm chàng xỉu dần”.
“Thôi thì tôi sẽ đợi thêm một đêm nữa vậy,” Nhạn nói, nó vốn có một trái tim nhân hậu. “Tôi lại mang
cho anh ta một viên hồng ngọc nữa sao?”
“Ồ không! Tôi chẳng còn viên ngọc nào nữa, đôi mắt là tất cả những gì mà tôi còn có được. Chúng
được làm bằng 2 viên xa phia cực hiếm, được mang đến đây từ Ấn Độ một ngàn năm về trước. Hãy
móc lấy một viên và mang đến cho chàng ta. Chàng sẽ bán nó cho tiệm kim hoàn để có tiền mua thức
ăn, củi đun mà hoàn thành vở kịch.”
“Hoàng tử thân mến, tôi không thể làm thế được,” Nhạn nói và bắt đầu khóc thút thít.
“Nhạn ơi, Nhạn bé bỏng ơi, hãy làm theo lời tôi dặn”. Thế là Nhạn mổ vào mắt Hoàng tử lấy viên xa
phia và bay về phía gác xép của chàng sinh viên. Thật dễ dàng bay vào chỗ chàng vì có một lỗ thủng
trên mái. Chim bay qua lỗ vào phòng. Chàng thanh niên đang vùi đầu giữa hai cánh tay nên không
nghe thấy tiếng chim vỗ cánh và khi nhìn lên chàng thấy một viên đá xa phia tuyệt đẹp nằm trên cành
hoa viôlét héo.
“Mình đã bắt đầu được hâm mộ,” chàng kêu lên, “đây chính là món quà của một người mến trọng tài
năng của mình. Bây giờ thì mình có thể hoàn thành vở kịch rồi”. Vẻ mặt chàng thanh niên nom thật
hạnh phúc.
Ngày hôm sau Nhạn bay ra bến cảng. Nó ngồi trên cột buồm một con tàu lớn ngắm cảnh các thủy thủ
cẩu những thùng hàng lớn lên tàu bằng những sợi dây thừng. “Hò dô ta nào!” Họ hét lên với nhau mỗi
khi kéo một thùng hàng lên. “Mình sẽ đi Ai Cập,” Nhạn kêu lên nhưng làm gì có ai để ý đến chuyện
của nó và khi trăng lên nó bay về chỗ Hoàng tử Hạnh Phúc.
“Tôi đến để chào tạm biệt anh.” Chim kêu lên.
“Nhạn ơi, Nhạn bé nhỏ ơi,” Hoàng tử lại nài nỉ, “bạn sẽ ở lại với tôi thêm một đêm nữa chứ?”
“Ở đây đã là mùa đông rồi,” chim Nhạn đáp, “chẳng bao lâu nữa tuyết sẽ trút xuống đây. Ở Ai Cập,
mặt trời rải nắng ấm lên những cây cọ xanh tươi cả bốn mùa, lũ cá sấu tắm mình trong bùn lười nhác
nhìn lên những cây cọ xòe ô. Bạn bè tôi sẽ làm tổ trong đền thờ Boallac, những con bồ câu trắng và
hồng sẽ quan sát chúng trong khi gù lẫn nhau. Hoàng tử thân yêu ơi, tôi phải rời anh thôi, nhưng tôi sẽ
nhớ anh lắm đấy và mùa xuân tới tôi sẽ mang về cho anh 2 viên kim cương đẹp mà anh đã cho đi.
Hồng ngọc sẽ đỏ hơn cả một đóa hồng nhung còn viên xa phia sẽ xanh như biển xanh gợn sóng”.

“Ở quảng trường bên dưới,” Hoàng tử nói, “có một cô bé bán diêm đang đứng. Cô bé đã đánh rơi hết
cả diêm xuống rãnh nước, thế là chúng chẳng còn dùng vào được việc gì nữa. Cha cô sẽ đánh cô nếu
cô không mang tiền về cho ông, vì thế mà cô bé đang khóc. Chân không giày không vớ, mái đầu nhỏ
để trần... Hãy móc nốt con mắt bên kia trao cho cô bé để cha cô ấy không đánh cô ấy nữa”.
“Thôi cũng đành ở với anh thêm một đêm nữa vậy, nhưng tôi không thể móc nốt con mắt ấy. Anh sẽ bị
mù.”
“Chim Nhạn ơi, Nhạn bé bỏng ơi, xin cứ làm như tôi bảo.”
Thế là chim mổ nốt con mắt còn lại, ngậm viên đá xa phia sà thấp xuống chỗ cô bé bán diêm đang
đứng, nhả viên ngọc vào bàn tay cô bé. “Ôi một viên thủy tinh đẹp quá này,” cô bé kêu lên, rồi chạy về
nhà vừa chạy vừa cười.
Sau đó Nhạn quay lại chỗ Hoàng tử. “Bây giờ anh đã mù rồi, tôi quyết định sẽ ở lại với anh mãi mãi”.
“Không được, bạn thân yêu của tôi,” Hoàng tử đáng thương nói, “bạn phải bay đi Ai Cập ngay”.
“Tôi sẽ ở lại với anh mãi mãi,” Nhạn khẳng định rồi nó ngủ ngay dưới chân Hoàng tử.
Cả ngày hôm sau Nhạn đậu trên vai Hoàng tử kể cho cậu nghe những câu chuyện mà nó tận mắt chứng
kiến trên những vùng đất lạ. Nó kể cho cậu nghe về những con cò quăm màu đỏ, chúng đứng thành
một hàng dài dọc theo bờ sông Nile, mỗi con quắp một con cá vàng mà chúng bắt được trong mơ. Về
những tượng Nhân sư sống trong hoang mạc, chúng cũng già như chính trái đất này nên chúng biết tất
tần tật mọi thứ; về những tay lái buôn, chậm rãi đi bên cạnh những con lạc đà cao ngất nghểu, mỗi một
ông lại cầm trên tay một chuỗi hạt hổ phách; về đức vua của dãy núi Hằng Nga, một người đen như gỗ
mun rất ngưỡng mộ những viên ngọc lớn; về con rắn lục Khổng Lồ ngủ dưới hàng cây cọ được 20
thầy tu hàng ngày nuôi dưỡng bằng bánh mật; về những người lùn picmê có thể vượt qua một cái hồ
lớn bằng những chiếc lá rộng bản và họ bao giờ cũng có chuyện gây hấn với đàn bướm xinh đẹp.
“Nhạn thân yêu ơi,” Hoàng tử thốt lên, “bạn kể cho tôi nghe bao nhiêu điều kì thú nhưng có lẽ không
có gì phi thường hơn sức chịu đựng của con người. Không có một bí mật nào ghê gớm như nỗi thống
khổ của nhân gian. Hãy bay trên bầu trời thành phố đi Nhạn bé nhỏ của tôi và kể cho tôi nghe xem bạn
thấy gì”.
Thế là Nhạn tung cánh bay ngang dọc suốt phạm vi thành phố, thấy người giàu sống vui vẻ trong
những ngôi nhà đẹp của họ, trong khi người ăn mày ngồi trơ ngoài cổng. Nó bay qua những con hẻm
tối tăm, tận mắt thấy những khuôn mặt trắng bệch của những đứa trẻ đói khát lờ đờ nhìn ra những
đường phố nhếch nhác, u ám. Dưới chân cầu có hai thằng bé đang nằm ôm nhau giữ cho nhau khỏi bị
chết rét. “Chúng cháu đói quá,” bọn trẻ kêu lên. “Bọn bay không được nằm ở đây,” người gác cây cầu
nói và thế là bọn trẻ lại phải lang thang dưới trời mưa.
Nhạn lại quay về kể cho Hoàng tử những điều tai nghe mắt thấy.
“Người tôi phủ đầy vàng lá”, Hoàng tử nói, “bạn hãy gỡ nó ra, từng lá từng lá một, rồi đem cho những
kẻ khốn cùng; ấy người đời vẫn nghĩ vàng bạc có thể làm cho họ hạnh phúc”.
Thế là Nhạn dùng mỏ gỡ ra từng miếng vàng cho đến khi Hoàng tử Hạnh Phúc chỉ còn là một cái
khung chì xám xịt. Những miếng vàng tới tay người nghèo, má bọn trẻ con hồng hào hơn, chúng cười
đùa và chạy nhảy trên hè phố. “Chúng ta đã có được cái gật đầu của bánh mì,” chúng kêu lên.
Rồi tuyết bắt đầu rơi và sau tuyết là đến băng giá. Đường phố trông như được làm bằng bạc, sáng bừng
lên, lấp lánh. Nhũ băng dài rủ xuống như những con dao găm bằng pha lê từ dưới các hiên nhà. Người

lớn đi ra ngoài trong chiếc áo choàng lông; trẻ con đội những chiếc mũ đỏ và rủ nhau ra ngoài trượt
tuyết.
Con Nhạn đáng thương càng lúc càng không chịu nổi cái lạnh thấu xương nhưng nó không thể rời bỏ
Hoàng tử, nó đã yêu quý cậu bé quá mất rồi. Nó quanh quẩn ngoài hiệu làm bánh, nhân lúc ông chủ
không để ý, lượm lấy vài mẩu vụn và cố giữ hơi ấm với đôi cánh mỏng manh. Nhưng thực ra nó biết
mình sẽ chết. Nó chỉ còn đủ sức lực bay lên vai Hoàng tử một lần nữa. “Vĩnh biệt Hoàng tử thân yêu!”
nó thì thầm, “anh sẽ để tôi hôn tay anh chứ?”
“Tôi rất sung sướng là cuối cùng bạn cũng bay sang Ai Cập”, Hoàng tử nói, “bạn đã ở lại đây quá lâu
rồi. Nhưng bạn phải hôn lên môi tôi mới được bởi vì tôi yêu bạn”.
“Tôi không bay đến Ai Cập đâu,” Nhạn nói. “Tôi sẽ đến ngôi nhà của Thần Chết. Thần Chết có phải là
người anh em của Giấc ngủ không?”
Nói xong chim bay lên hôn đôi môi Hoàng tử rồi rơi xuống chết ngay dưới chân bức tượng. Đúng lúc
ấy có tiếng răng rắc kì lạ ngay trong pho tượng như thể có một cái gì đó vỡ ra. Sự thật thì trái tim bằng
chì vỡ ra làm hai. Chắc chắn đó là do sương giá dữ dội quá.
Sớm hôm sau ngài Thị trưởng tản bộ trên quảng trường phía dưới cùng với vài Ủy viên Hội đồng
Thành phố. Khi đi ngang qua cái cột họ ngẩng đầu nhìn lên pho tượng.
“Trời đất ơi, sao trông tượng Hoàng tử Hạnh Phúc lại thảm hại làm vậy?”
“Quả đúng như thế,” một Ủy viên kêu lên, ông này thấy bao giờ Thị trưởng cũng chỉ nói đúng mà thôi
và tất cả mọi người đứng lại chăm chú nhìn lên.
“Viên hồng ngọc đã rơi khỏi chuôi gươm, đôi mắt cũng bị móc mất, vàng dát quanh người không còn
nữa,” Thị trưởng nói, “trong thực tế Hoàng tử chỉ khá hơn một tên ăn mày!” “Khá hơn tên ăn mày một
chút!”, các Ủy viên đồng thanh kêu lên.
“Lại có một con chim chết ở dưới chân tượng nữa chứ,” Thị trưởng tiếp tục. “Chúng ta phải đưa ra
thông báo, chim không được phép chết ở đây.” Thế là Ủy viên thư kí vội vàng thảo ngay một thông
báo.
Người ta hạ bệ pho tượng Hoàng tử Hạnh Phúc. “Khi một vật không còn giá trị thẩm mỹ thì nó cũng
không có giá trị sử dụng”, đó là lời giáo sư môn Nghệ thuật ở trường Đại học.
Sau khi họ cho bức tượng vào lò nung, ngài Thị trưởng tổ chức một hội nghị liên ngành để quyết định
xem phải làm gì với đống kim loại này. “Tất nhiên, chúng ta phải đúc một bức tượng khác, và đó sẽ là
tượng của tôi”.
“Của tôi chứ,” mỗi Ủy viên lại nhao nhao lên nói và họ cãi nhau ỏm tỏi. Lần cuối cùng tôi nghe được
thì họ vẫn còn cãi nhau chưa ngã ngũ.
“Thật là lạ!” viên đốc công trong lò luyện kim khí thốt lên. “Trái tim chì đã bị vỡ này sao không thể
nung chảy ra được. Chúng ta đành phải vứt đi thôi.” Thế là họ lẳng nó ra đống rác nơi xác con Nhạn
vẫn còn đó.
“Hãy mang cho ta hai vật quý báu nhất trong thành phố”. Chúa trời nói với một trong những vị thiên
sứ của Người. Và Thiên sứ mang về dâng Người xác con chim Nhạn và trái tim chì bị vỡ.
“Ngươi đã có một sự lựa chọn đúng,” Chúa trời phán, “bởi vì trong khu vườn trên thiên đường của ta

con chim nhỏ này sẽ hót cho đến muôn đời và trong thành phố vàng của ta, Hoàng tử Hạnh Phúc sẽ
làm sáng danh ta”.

Người bạn tận tụy


Một buổi sáng nọ, một con Chuột Già thò cổ ra khỏi hang. Đôi mắt nó long lanh như hai hạt cườm, hai
cái ria mép màu xám dài và thẳng, cái đuôi giống một cái roi cao su dài màu đen. Lũ vịt con bơi vòng
vòng trên mặt ao, trông khá giống những con bạch yến màu vàng. Mẹ chúng, toàn thân trắng phau
phau, trừ đôi chân đỏ như son đang cố dạy lũ con trồng cây chuối trên mặt nước.
“Các con sẽ không bao giờ có mặt trong xã hội thượng lưu nếu không biết đứng bằng đầu trên mặt
nước.” Vịt Mẹ rao giảng với lũ con, thỉnh thoảng nó lại biểu diễn cho lũ con thấy để làm theo. Nhưng
bọn vịt con đâu để tâm. Chúng còn quá bé để hiểu được những lợi ích của việc có mặt trong xã hội
thượng lưu.
“Thật là một lũ nhóc cứng đầu, khó bảo,” Chuột Già không nhịn được, kêu lên, “chúng đáng bị chết
chìm cả lũ”. “Làm gì có chuyện đó,” Vịt Mẹ đáp, “ai mà chẳng có những bước khởi đầu, đã làm cha
làm mẹ thì phải kiên nhẫn chứ”.
“Ồ, tôi không biết cái cảm xúc ấy của các ông bố bà mẹ,” Chuột Già nói, “chả là tôi không phải là một
người có ý thức gia đình. Thực vậy, tôi chưa bao giờ lập gia đình mà cũng tuyệt không có cái ý định
ấy. Tình yêu tốt đẹp ở tất cả mọi phương diện của nó nhưng tình bạn đáng quý hơn. Thực vậy, tôi
không biết có cái gì trên đời này vừa cao quý hơn vừa hiếm hoi hơn một tình bạn tận tụy”.
“Và nếu vậy thì theo bác bổn phận của một người bạn tận tụy là gì?” Một con hồng tước màu xanh lên
tiếng. Nãy giờ nó đậu trên một cây sậy ở gần đấy nên nghe được câu chuyện trên.
“Phải, đó cũng là điều mà tôi muốn biết đấy,” Vịt Mẹ nói, bơi lại cuối ao, chúc đầu xuống nước để cho
lũ con có một tấm gương mà noi theo.
“Thật là một câu hỏi chẳng đâu vào đâu!” Chuột Già cao giọng ta thán. “Tất nhiên tôi mong đợi người
bạn tận tụy của tôi hết lòng đối với tôi”.
“Và bác cũng làm như thế để đáp lại?” con chim nhỏ hỏi, nhún nhảy trên một cành cây trong bụi, xốc
lại đôi cánh cũn cỡn của nó.
“Tôi không hiểu chú em nói gì đấy.” Chuột Già mát mẻ. “Nếu vậy cho phép tôi kể hầu bác một câu
chuyện về đề tài này.” Hồng Tước nói.
“Chuyện về tôi ư?” Chuột Già hỏi lại. “Nếu vậy tôi xin rửa tai lắng nghe, vì tôi ấy à... tôi khoái ba cái
chuyện tưởng tượng này lắm”.
“Nó có thể vận vào bác được,” Hồng Tước đáp, bay khỏi ngọn cây sậy, sà vào bờ và ở đấy nó kể lại
câu chuyện về người bạn tận tụy.
“Ngày xửa ngày xưa,” Hồng Tước bắt đầu, “có một chàng trai trung hậu tên là Hans”.
“Thế anh ta có cái gì đặc biệt không?” Chuột Già hỏi giọng xách mé.
“Không,” Hồng Tước đáp thân tình, “tôi không nghĩ anh ta có điểm gì khác biệt ngoài một trái tim
nhân hậu và một khuôn mặt tròn tếu tếu trông rất nhộn. Hans sống trong một túp lều nhỏ, chỉ có một

mình và hàng ngày anh làm việc ngoài vườn. Trong vùng không có một khu vườn nào dễ thương như
khu vườn của anh. Cẩm chướng râu cũng mọc ở đây nhé, ngoài ra còn có các loại hoa Gilly, rau tề, rau
cá tráp của Pháp. Trong vườn có hoa hồng Đa Mát, hồng vàng, hoa nghệ tây tím, viôlét tím vàng và cả
viôlét tím nữa. Ngoài ra còn có hoa bồ công anh, kinh giới và húng quế, anh thảo hoa vàng, hoa Tris,
hoa thủy tiên màu vàng nhạt và đinh hương màu hồng... tất cả đua nhau nở hoa. Khi loài này bắt đầu
tàn thì loại khác bắt đầu nở rộ. Vì thế lúc nào trong vườn cũng có những bông hoa đẹp ngào ngạt tỏa
hương thơm.
“Hans bé nhỏ có nhiều bạn tốt, nhưng người bạn trung thành, tận tụy hơn ai hết chính là - ông chủ cối
xay - Miller lớn. Thực ra thì Hans nhỏ rất tận tình với Miller giàu có. Cái anh chàng Hans bé nhỏ ấy
không bao giờ để bạn đi qua vườn của mình mà không tựa vào tường hái một bó hoa quý hay một nắm
rau thơm cho bạn hoặc nhét đầy vào túi bạn mận hoặc sêry, nếu đó là mùa cây ra trái.
“Những người bạn thật sự bao giờ cũng phải có những điểm chung,” Miller thường nói còn Hans thì
gật gù theo và mỉm cười. Anh hết sức tự hào khi có một người bạn có những ý tưởng sâu sắc đến thế.
Những người xung quanh thường thắc mắc là Miller giàu có không bao giờ cho Hans bé nhỏ bất cứ vật
gì để đáp lại tấm lòng của bạn, mặc dù trong nhà máy xay của anh ta có đến hàng trăm bao bột mì dự
trữ, trong chuồng có 6 con bò sữa và một đàn cừu nuôi để lấy lông. Nhưng Hans bé nhỏ không bao giờ
cho những điều vụn vặt ấy vào đầu. Không có gì làm anh sung sướng hơn việc ngồi nghe tất cả những
điều hay lẽ phải mà Miller thường nói về sự vị tha của một tình bạn chân chính.
Phải, Hans bé nhỏ làm việc trên mảnh vườn của mình. Mùa xuân, mùa hè và mùa thu anh rất vui
nhưng khi những ngày rét mướt đến gần anh chẳng có hoa hay cây trái mang ra chợ bán nên thường
chịu cảnh đói rét. Anh thường lên giường đi ngủ với cái dạ dày lép kẹp, chẳng có gì ngoài một vài quả
đào khô hay vài hạt dẻ cứng ngắc. Những ngày mùa đông anh còn hết sức cô đơn nữa vì rằng Miller
chẳng thấy ló mặt đến bao giờ.
“Việc tôi đến thăm Hans bé nhỏ vào những ngày tuyết rơi thì có lợi gì kia chứ?” Miller thường nói với
vợ, “khi người ta đang gặp khó khăn thì nên để cho họ ở một mình, đừng làm phiền họ với những lần
thăm viếng. Ít nhất thì đó cũng là quan niệm của tôi về tình bạn mà tôi chắc là mình nghĩ đúng. Vì thế
cứ đợi đến lúc xuân sang tôi sẽ đến thăm bạn, lúc ấy anh ta mới có khả năng tặng tôi một lẵng xum
xuê những bông hoa anh thảo và làm như vậy anh ấy sẽ lấy làm vui sướng lắm”.
“Mình thật là người chu đáo, tận tình với người khác,” vợ của Miller giàu có nói trong khi ngồi trên
chiếc ghế bành êm ái, cạnh lò sưởi rực rỡ ánh lửa hồng. “Phải, mình là người tình nghĩa, sống có trước
có sau. Thật là sung sướng khi được nghe mình nói về tình bạn. Em chắc là cả cha xứ cũng không thể
nói hay như mình đâu mặc dù ông ấy sống trong một ngôi nhà ba tầng và đeo một cái nhẫn vàng thật
bự ở ngón tay út”.
“Nhưng sao chúng ta không mời chú Hans đến đây hả bố,” cậu con út của Miller nói: “Nếu chú Hans
đáng thương gặp khó khăn con sẽ nhường cho chú ấy nửa tô cháo yến mạch và khoe với chú ấy những
con thỏ trắng tinh của con”.
“Con thật là một đứa trẻ ngốc nghếch!” Miller kêu lên, “bố cũng không hiểu là cho con đến trường đi
học có được tích sự gì không nữa. Xem ra con chẳng học hỏi được cái gì hết. Tại sao à? Nếu Hans bé
nhỏ đến đây, chú ấy sẽ thấy lò sưởi ấm áp nhà ta, bữa ăn ngon lành của nhà ta, cả cái vò rượu vang đỏ
to đùng kia nữa. Thế thì chú ấy lại nảy lòng đố kị mà đố kị là một thói xấu tai hại nhất, có thể hủy hoại
bản chất lương thiện của một con người. Chắc chắn là bố không cho phép bản chất của chú ấy bị hủy
hoại. Bố là người bạn tốt nhất của chú ấy, bố phải luôn quan tâm đến chú ấy, không để chú ấy chịu ảnh
hưởng của bất cứ một sự cám dỗ nào. Ngoài ra nếu Hans đến đây chú ấy có thể hỏi vay một ít bột mì
mà điều này thì bố khôn...
 
Gửi ý kiến