Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Các đề luyện thi

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Huệ
Ngày gửi: 03h:38' 17-05-2024
Dung lượng: 27.8 KB
Số lượt tải: 106
Số lượt thích: 0 người
1

VIẾNG LĂNG BÁC – TỰ LUẬN
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim!”
(Trích “Viếng lăng Bác”-Viễn Phương, Ngữ Văn 9, Tập 2)
I. Mở bài
Bác Hồ-Người là nguồn cảm hứng bất tận trong thơ ca Việt Nam. Nếu “Sáng tháng năm” của
Tố Hữu là tình cảm tha thiết, sôi nổi của nhà thơ với Bác khi ở chiến khu, hay “Đêm nay Bác không
ngủ” của nhà thơ Minh Huệ là niềm xúc động của Bác trước tình thương bao la của nguồn sáng dân
tộc với mọi người thì “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương lại là bài ca chân thành, cảm động của nhà
thơ đối với người. Và có lẽ đây chính là một trong những bài hay nhất viết về Người. Bài thơ có bốn
khổ nhưng em ấn tượng nhất là hai khổ thơ trên vì thông qua hai khổ thơ đó tác giả thể hiện tình cảm
thành kính, thiêng liêng, sâu sắc mà nhân dân dành cho Người cũng như khẳng định Bác bất tử, trường
tồn cùng núi sông, dân tộc Việt Nam.
II. Thân bài
1.Khái quát chung
Bài thơ được viết vào tháng 4 năm 1976, một năm sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất
đất nước. Bài thơ được in trong tập thơ “Như mây mùa xuân” (1978). Bài thơ được xem như là cuộc
hành hương của Viễn Phương sau bao năm chờ đợi để được trở về bên cha già kính yêu. Bố cục bài thơ
có 4 phần, tương ứng với bốn khổ thơ. Mạch vận động của cảm xúc trong bài theo trình tự của một
cuộc viếng thăm. Hai khổ thơ trên nằm ở phần 2 và 3 của bài. Nếu khổ thơ đầu của bài thơ là cảm xúc
của tác giả khi viếng lăng Bác thì đến hai khổ thơ này là cảm xúc của tác giả khi đứng trước lăng Bác
và khi vào trong lăng viếng Bác.
2.Cảm nhận hai khổ thơ
Luận điểm 1:  Những cảm xúc, suy ngẫm của nhà thơ khi đứng trước lăng
viếng Bác (Khổ 2)
- Tác giả bước theo dòng người chầm chậm vào lăng, tâm hồn trào dâng niềm thành kính, biết ơn và
ngưỡng mộ sâu sắc:
“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một Mặt Trời trong lăng rất đỏ
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”
- Đến đây, nhà thơ tiếp tục sáng tạo những hình ảnh thơ vô cùng độc đáo. Hình ảnh “mặt trời đi qua
trên lăng” là hình ảnh thực. Đó là mặt trời thiên tạo, là hành tinh quan trọng nhất của vũ trụ, nó gợi ra
sự kì vĩ, sự bất tử, vĩnh hằng. Mặt trời là nguồn cội của sự sống, ánh sáng.
- Hình ảnh “mặt trời trong lăng” là một ẩn dụ đầy sáng tạo, độc đáo – đó là hình ảnh của Bác Hồ.
Giống như “mặt trời”, Bác Hồ cũng là nguồn ánh sáng, nguồn sức mạnh. “Mặt trời” – Bác Hồ soi
đường dẫn lối cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do, thống nhất đất nước.
Bác đã cùng nhân dân vượt qua trăm ngàn gian khổ, hi sinh để đi tới chiến thắng quanh vinh, trọn vẹn.
- “Mặt trời” – Bác Hồ tỏa hơi ấm tình thương bao la trong lòng mỗi con người Việt Nam. Nhà thơ Tố
Hữu đã so sánh Bác như: “Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”. Cái nghĩa, cái nhân lớn lao của Bác
đã tác động mạnh mẽ, sâu xa tới mỗi số phận con người. Liên hệ=>Thật ra so sánh Bác Hồ với mặt
trời đã được các nhà thơ sử dụng từ rất lâu:

2

Người rực rỡ một mặt trời cách mạng
Mà đế quốc là loài dơi hốt hoảng
Đêm tàn bay chập chạng dưới chân người.
(Tố Hữu – “Sáng tháng năm”)

- Nhưng cái so sánh ngầm Bác Hồ nằm trong lăng rất đỏ trong cái nhìn chiêm ngưỡng hàng ngày của
mặt trời tự nhiên là một sáng tạo độc đáo và mới mẻ của Viễn Phương. Cách ví đó một mặt ca ngợi sự
vĩ đại, công lao trời biển của Người đối với các thế hệ con người Việt Nam. Mặt khác bộc lộ rõ niềm tự
hào của dân tộc Việt Nam khi có Bác Hồ - có được mặt trời của cách mạng soi đường chỉ lối cũng như
ánh sáng của mặt trời thiên nhiên.
- Hình ảnh “dòng người” đi liền với điệp từ “ngày ngày” gợi dòng thời gian vô tận và sự sống vĩnh
cữu; mang giá trị tạo hình, vẽ lên quang cảnh những đoàn người nối tiếp nhau không dứt, lặng lẽ và
thành kính vào viếng Bác. Lối nói “đi trong thương nhớ” thể hiện nỗi tiếc thương, nhớ nhung lớn lao
của bao thế hệ người dân Việt Nam trong giây phút vào lăng viếng Bác. Họ là đại diện cho người Việt
Nam từ ba miền Bắc Trung Nam, từ 54 dân tộc anh em trên khắp mọi miền Tổ Quốc. Hình ảnh ẩn dụ
“tràng hoa” biểu tượng cho những gì tinh túy, đẹp đẽ nhất của đất nước và con người Việt Nam kính
dâng lên Bác. “Tràng hoa” ấy được kết từ hàng ngàn, hàng vạn trái tim của dân tộc Việt Nam. Ngoài
ra, tác giả cũng sáng tạo hình ảnh hoán dụ “bảy mươi chín mùa xuân” diễn tả bảy mươi chín năm
tuổi đời của Bác là bảy mươi chín mùa xuân tươi đẹp, tràn đầy ý nghĩa. 79 mùa xuân, 79 năm cuộc đời
ấy Người đã hiến dâng trọn vẹn để đem đến cho dân tộc ta một mùa xuân độc lập, tự do và hạnh phúc
vĩnh hằng.
Luận điểm 2: Cảm xúc của nhà thơ khi vào trong lăng (Khổ 3)
- Để rồi khi đứng trước di hài của Bác, trái tim nhà thơ trào dâng cảm xúc nghẹn ngào không thể kìm
nén, lay động trái tim của hàng triệu người:
“Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim”
- Viễn Phương vẫn tiếp tục dùng phép nói giảm, nói tránh “giấc ngủ bình yên” như muốn cố gắng
giảm bớt sự thật đau đớn về sự ra đi của Bác. Chỉ là mệt nên Bác ngủ thôi bởi
“Suốt cuộc đời Bác có ngủ yên đâu/
Nay Bác ngủ chúng con canh giấc ngủ”
(Chúng con canh giấc Bác ngủ, Bác Hồ ơi- Hải Như).
- Hình ảnh “vầng trăng sáng dịu hiền” gợi cho chúng ta nghĩ đến tâm hồn, cách sống cao đẹp, thanh
cao, sáng trong của Bác và những vần thơ tràn ngập ánh trăng của Người. Trăng với Bác đã từng vào
thơ Bác trong nhà lao, trên chiến trận, giờ đây trăng cũng đến để giữ giấc ngủ ngàn thu cho Người. Chỉ
có thể bằng trí tưởng tượng, sự thấu hiểu và yêu quí những vẻ đẹp trong nhân cách của Hồ Chí Minh
thì nhà thơ mới sáng tạo nên được những ảnh thơ đẹp như vậy!
- Hình ảnh “trời xanh” được hiểu theo nghĩa tả thực đó là thiên nhiên mà chúng ta hằng ngày vẫn đang
chiêm ngưỡng, nó tồn tại mãi mãi và vĩnh hằng. Mặt khác, “trời xanh” còn là một hình ảnh ẩn dụ sâu
xa: Bác vẫn còn mãi với non sông đất nước, như “trời xanh” vĩnh hằng.
- Nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Bác sống như trời đất của ta”, bởi Bác đã hóa thân thành thiên nhiên, đất
nước và dân tộc.
- Cặp quan hệ từ “vẫn biết – mà sao” diễn tả cảm xúc nghẹn ngào trào dâng. Biết rằng Người sẽ luôn
sống mãi trong lòng dân tộc nhưng sự thật Bác đã ra đi mãi mãi vẫn khiến nhà thơ cũng như mấy chục
triệu người dân Việt Nam “nghe nhói ở trong tim”.

3- Nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác “nghe nhói” nhấn mạnh niềm đau xót tột cùng của nhà thơ
trước thực tại Bác không còn nữa. (Liên hệ)=>Cảm xúc đau đớn, vô vọng này đã từng xuất hiện trong
bài thơ của Tố Hữu:
Trái bưởi kia vàng ngọt với ai
Thơm cho ai nữa hỡi hoa nhài
Còn đâu bóng Bác đi hôm sớm…
- Cảm xúc này là đỉnh điểm của nỗi nhớ thương, của niềm đau xót. Nó chính là nguyên nhân dẫn đến
những khát vọng ở khổ cuối bài thơ.
3. Đánh giá
Với lời thơ cô đọng, giọng thơ trang nghiêm thành kính, tha thiết và rất giàu cảm xúc, đoạn thơ
đã để lại ấn tượng rất sâu đậm trong lòng người đọc. Bởi lẽ, đoạn thơ không những chỉ bộc lộ tình cảm
sâu sắc của tác giả đối với Bác Hồ mà còn nói lên tình cảm chân thành tha thiết của hàng triệu con
người Việt Nam đối với vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc.
III. Kết bài
Mỗi lần có dịp đi qua Quảng trường Ba Đình lịch sử, ta vẫn sẽ thấy dòng người như bất tận vào
lăng viếng Bác. Ta chợt nhớ tới bài thơ của Viễn Phương mà đặc biệt là hai đoạn thơ trên với những
tình cảm ấm áp, thiết tha. Giờ đây, Bác đã đi xa và Viễn Phương cũng đã trở thành người thiên cổ
nhưng dư âm của “Viếng lăng Bác”nói chung và hai đoạn thơ trên nói riêng sẽ còn mãi ngân vang
trong lòng của mỗi người dân đất Việt.
ĐỀ SỐ 2
Phân tích khổ cuối bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương
“Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này…”
I. Mở bài
Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới –
Người đã cống hiến trọn đời vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Có nhiều nhà thơ, nhà văn đã viết về Bác
bằng niềm trân trọng và xúc động sâu sắc trong đó “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương là một trong
những bài thơ xuất sắc nhất. Bài thơ có nhiều khổ nhưng em ấn tượng nhất là khổ cuối – khổ thơ thể
hiện sự thương nhớ và tâm nguyện của tác giả được ở mãi bên Người:
“Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này…”
II. Thân bài
1. Khái quát chung
Bài thơ được viết vào tháng 4 năm 1976, một năm sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất
nước, được in trong tập thơ “Như mây mùa xuân” (1978). Bài thơ được xem như là cuộc hành hương
của Viễn Phương sau bao năm chờ đợi để được trở về bên cha già kính yêu. Mạch cảm xúc của bài
thơ sắp xếp theo trình tự thời gian – không gian hợp lý, nếu ba khổ đầu bài thơ là cảm xúc của tác giả
khi đứng trước lăng Bác, ở trong lăng thì khổ cuối là cảm xúc của tác giả trước khi rời lăng ra về.
2.Phân tích khổ thơ
Luận điểm 1: Niềm thương cảm lớn lao của tác giả
- Trước hết, khổ thơ thể hiện niềm thương cảm lớn lao của tác giả khi phải chia xa Bác:
“Mai về miền Nam thương trào nước mắt”
- Ngôn ngữ Việt phong phú vô cùng. Từ “thương” có lẽ là từ đặc biệt mà không một ngôn ngữ nào có
thể cắt nghĩa, lí giải được. Chỉ một tiếng tiếng “thương” thôi, tình cảm của nhân dân miền Nam đối với

4Bác đã được bày tỏ một cách vô cùng trọn vẹn. Đó là niềm yêu kính, là quý trọng cả cuộc đời cao

thượng, vĩ đại của Hồ Chủ tịch. Người đã dành hết cả đời mình cho dân, cho nước, cho sự nghiệp giải
phóng của dân tộc. Là sự hi sinh không tiếc mình của người cha già lặng lẽ, nhiều trăn trở:
“Bác để tình thương cho chúng con
Một đời thanh bạch chẳng vàng son”
- Đó còn là sự xót xa, đau đớn của tác giả nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung. Giờ đây, chúng
ta đã mãi mãi mất đi người cha già kính yêu. Nỗi đau ấy, sau những kìm nén trong suốt cuộc hành trình
về với Bác, giờ đây khi phải chia xa lại “trào nước mắt”. Mọi xót thương dồn nén lại, tuôn “trào”. Và
không chỉ con người mới xót thương, dường như thiên nhiên đất trời cũng đã động lòng:
“Suốt mấy đêm dài đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt trời tuôn mưa”
(Tố Hữu)
- Chỉ với một câu thơ 8 chữ, tình cảm của nhà thơ Viễn Phương đã được bộc lộ rất chân thành. Đó là
nỗi xót thương vô hạn sau khi bị kìm nén đã tuôn thành dòng lệ trong giây phút chia tay.
Luận điểm 2: Nguyện ước của tác giả
- Không chỉ bày tỏ cảm xúc một cách đơn thuần, tác giả Viễn Phương còn thể hiện ước nguyện nhỏ bé
được ở bên Bác:
“Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này…”
- Trong giây phút chia xa đầy lưu luyến, cảm xúc nghẹn ngào của nhà thơ đã khiến tác giả như muốn
được hóa thân để mãi mãi bên Người. Ở đây, tác giả đã sử dụng liên tiếp ba lần điệp ngữ “muốn
làm”. Cùng với đó, các hình ảnh con chim, đoá hoa, cây tre được lồng ghép và sử dụng đầy ý nghĩa.
Tất cả đã nói lên ước nguyện tha thiết của nhà thơ. Ông muốn Bác được yên lòng nghỉ ngơi, còn mình
thì muốn đền đáp công ơn trời biển của Người. Tác giả không mong ước gì quá lớn lao mà chỉ mong
được ở bên Bác mỗi ngày, trở thành con chim, đóa hoa, cành tre lặng lẽ, âm thầm. Điều này đã cho
thấy sự thấu hiểu của tác giả về Bác. 
- Tác giả muốn làm “con chim” để hót quanh lăng Bác. Tiếng chim ấy sẽ như lời yêu thương của
nhân dân Việt Nam ở bên, bầu bạn với Người. Cánh chim ấy cũng là cánh chim của tự do, hoà bình, là
minh chứng cho khát vọng độc lập thuở hàn vi Bác đã hằng mong mỏi. Không ước làm ánh mặt trời, là
cái gì lớn lao mà chỉ là cánh chim không mỏi, nhỏ bé nhưng lại mạnh mẽ và kiên cường vô cùng.
- Tác giả còn ước được làm “đóa hoa” để luôn “tỏa hương đâu đây”. Sinh thời, Bác rất yêu hoa. Và
dường như hiểu được tâm ý này, nhà thơ Viễn Phương đã ước được hóa thân thành sự vật quen thuộc
và ý nghĩa ấy. Không làm cây hoa, cành hoa mà chỉ ước làm một “đóa hoa” giữa rừng hoa tươi đẹp.
Đóa hoa ấy còn không hề có tên gọi, màu sắc, hương thơm cụ thể. Chỉ là một đóa hoa vô danh, thế
nhưng luôn tỏa hương, làm đẹp cho đời.
- Ở đây, tác giả đã sử dụng kết cấu đầu cuối cho bài thơ. Mở đầu là “hàng tre bát ngát”, kết thúc cũng
là “cây tre trung hiếu”. Cũng như cánh chim, đóa hoa, tác giả vẫn chỉ ước làm “cây tre trung hiếu
chốn này” giữa hàng triệu cây tre khác. Cây tre trung hiếu” là hình ảnh ẩn dụ thể hiện lòng kính yêu,
sự trung thành vô hạn với Bác, nguyện mãi mãi đi theo con đường cách mạng mà Người đã đưa đường
chỉ lối. “Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta/ Ta bỗng lớn ở bên Người một chút”.
- Nhân dân Việt Nam sẽ luôn đứng cùng với nhau, đoàn kết, kiên cường trước mọi biến chuyển. Đó
cũng chính là mong mỏi của Bác lúc sinh thời. Những nguyện ước nhỏ bé ấy của tác giả Viễn Phương
vừa chân thành lại vừa sâu sắc. Đó cũng chính là những cảm xúc và mong muốn của hàng triệu con
người miền Nam, của toàn bộ nhân dân Việt Nam trước khi rời lăng sau những lần đến thăm Người.
“Mai về miền Nam” nhưng tấm lòng chân thành đã gửi lại trọn vẹn nơi lăng Bác. Ba câu thơ khuyết
chủ ngữ ấy như là lời thay mặt cho triệu triệu đồng bào Việt Nam bày tỏ cảm xúc thành kính, tha thiết
tới Người cha già dân tộc.
3.Đánh giá, mở rộng
Đánh giá=> Với ngôn ngữ giàu cảm xúc cùng những hình ảnh điển hình, khổ cuối bài thơ
“Viếng lăng Bác” đã để lại trong lòng người đọc nhiều xúc cảm mạnh mẽ. Đó là niềm tiếc nuối, bâng

5khuâng cùng những mong mỏi đau đáu của tác giả – cũng chính là nguyện ước của triệu triệu người

dân Việt Nam với Bác.
Mở rộng=> Nguyện ước ấy lúc sinh thời nhà thơ xứ Huế Thanh Hải cũng đã từng ước mơ : 
“Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc".
III. Kết bài
Có lẽ về sau, chúng ta vẫn sẽ không quên “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương - một bài thơ
hay ngọt ngào, da diết mà đặc biệt là khổ thơ cuối với những ước nguyện cao đẹp dâng hiến lên Người.
Đã hơn 50 năm kể từ ngày Bác ra đi vào cõi vĩnh hằng và cũng hơn một thập kỉ Viễn Phương trở thành
người thiên cổ nhưng nhưng dư âm của “Viếng lăng Bác” sẽ còn mãi ngân vang trong tâm hồn mỗi
người con đất Việt.
---------------------------------------------------------------
 
Gửi ý kiến