Phân tích truyện ngắn "Giấc mơ của bà nội" (Ma Văn Kháng)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Gia Bảo
Ngày gửi: 14h:26' 25-05-2025
Dung lượng: 17.9 KB
Số lượt tải: 78
Nguồn:
Người gửi: Trần Gia Bảo
Ngày gửi: 14h:26' 25-05-2025
Dung lượng: 17.9 KB
Số lượt tải: 78
Số lượt thích:
0 người
Giấc mơ của bà nội
(Ma Văn Kháng)
Bao giờ cũng vậy, cứ đến chủ nhật là bà nội lại từ làng quê ngoại thành vào
phố chơi với chúng tôi. Bà đến quãng chín giờ sáng. Đến là cho quà ríu rít và
chuyện trò. Ôi, dường như là bao nhiêu thương nhớ sau một tuần xa cách và
tích đọng từ bao năm, giờ mới có dịp bộc lộ. Bà giở cái túi xách tay ra. Cái túi
xách bằng vải thô ông vẫn dùng từ ngày còn là nhân viên phục vụ trên tầu chạy
tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội là cái túi có phép thần. ở trong nó có đủ
mùa nào thức ấy: Nhãn tháng sáu. Na tháng bẩy. Roi mùa hạ. Gương sen mùa
thu. Lại còn bột sắn cho mẹ tôi vốn hay bị nhiệt và hoa hoè cho bố tôi mới
chớm bị cao huyết áp. Vườn nhà bà có hai cây hoè. Hoè ra nụ, bà bắc thang hái
rồi sao phơi, đóng vào từng bọc giấy báo mang ra.
– Bố anh ngày xưa cũng hay bị nhức đầu, hoa mắt, uống hoa hoè quanh năm là
đỡ đấy.
Bà nhớ chả sót điều gì. Thấy tôi mồ hôi mồ kê nhễ nhại, bà bảo chả bù cho ông
cháu, chả bao giờ thấy ra tí mồ hôi nào, kể cả lúc ngồi ở toa tầu bí gió. Ngày
chủ nhật có bà đến chơi là ngày vui vẻ nhất đời. Với bà, đó cũng là những giờ
phút bận rộn nhất. Bà sửa sang lại bàn thờ. Bà phủi bụi những tấm huân
chương của bố tôi. Bà luôn chân luôn tay dọn dẹp, quét quáy. Bà lau chùi bát
đĩa, bàn ghế. Bà đem quần áo của chúng tôi ra phơi phóng. Khô rồi cũng đem
ra nắng phơi, cho nó thơm như lời bà nói. Bà chải đầu, tết tóc cho cái Tú. Lại
còn dậy nó chơi chuyền, chơi bắt hình giây chun. Bà nắm cổ tay tôi kêu sao
cháu bà gầy thế. Thấy tôi gãi đùi, gãi cẳng chân, bà bắt tôi kéo quần lên cho bà
xem. Rồi bà rẫy nẩy lên: “Thằng bố, con mẹ mày nó bận công bận việc nhà tầu,
nó chả để ý gì đến con cả. Ai lại để con gầy gò, ghẻ lở thế!” Rồi bà ra chợ mua
nắm lá về đun tắm cho tôi. Rồi giao hẹn với mẹ tôi, ngày nào cũng phải như
thế. Phải cho tôi ăn uống ngon lành. Không thì bà đón về ở với bà. Bà ở làng
một mình từ khi ông nội mất. Nhưng bà không thể ra ở với bố mẹ tôi được, vì
như bà nói, còn họ hàng nội ngoại, nhà cửa, vườn tược, còn hàng xóm láng
giềng, còn là nơi đi về của các hương hồn tiên tổ.
Thích nhất là những bữa ăn có bàn tay bà lo liệu. Đâu có phải chỉ là đồng tiền,
mà còn là cả sự trìu mến ruột thịt. Nên bố tôi đi làm ở nhà ga về, ngồi vào mâm
cơm, liền toét miệng cười, bảo mẹ tôi:
– Thấy chưa, không có bà thì bao giờ trẻ con nhà mình mới được ăn canh cua
rau rút?
Mẹ tôi cười thèn lẹn, nhưng chưa kịp nói, đã được bà đỡ lời:
– Tôi có công lên việc xuống gì nữa đâu mà chả vẽ vời được. Mà dễ không ấy
mà.
– À bà ơi, hôm nào bà nấu chân giò với dấm tỏi nhé. Lâu lâu, cháu chưa được
ăn rồi. Cái Tú nũng nịu.
Bà gật đầu. Rồi bà ngồi chắp tay trước bụng nhìn chúng tôi ăn. Bố tôi nhấc đũa
đưa bà, bà cầm rồi lại đặt xuống, kêu bụng dạ hồi này cứ lủng củng thế nào,
không muốn ăn.
Cái Tú và cơm chan canh cua sùm sụp, ngẩng lên, cười tít mắt, nói:
– Bà ơi, bố mẹ ơi, cứ được mãi mãi như thế này thì thích quá nhỉ!
Mẹ tôi nguýt yêu cái Tú:
– Có bà, được ỷ vào bà, bà làm hộ hết mọi việc, gì mà chẳng thích!
Bà nheo nheo cặp mắt già, đưa tay vuốt mái tóc óng như tơ của cái Tú.
Cứ mãi mãi như thế này thì thích nhỉ! Ôi, bức tranh sinh hoạt gia đình. Bà nội
hiền hậu, thương yêu con cháu. Bố mẹ đang tuổi đi làm, khoẻ mạnh, thuận hoà.
Con cái còn nhỏ, ngoan ngoãn, chăm chỉ học hành. Chính là lời cái Tú khiến
cho mọi người cùng ngỡ ngàng hoan hỉ, nhận ra cái hạnh phúc vô giá của gia
đình tôi những ngày này.
Bức tranh sinh hoạt gia đình cứ thế, cứ thế mà tiếp diễn, tiếp diễn đều đặn. Đến
mức tôi gần như không để ý đến nó nữa. Thì đến một hôm, bố tôi đi làm về,
trông lạ hẳn đi, đến nỗi con chó Bông tưởng người lạ, sủa gầu một tiếng. Mẹ
tôi ở trong bếp ngó ra kêu to: Hoá ra đã đeo kính lão rồi đấy! Bố tôi gật đầu
đứng ngẩn, rồi lẩm bẩm: Mình đã bốn mươi lăm. Bà nội đã ngoại bẩy mươi rồi
còn gì.
Bà nội đã ngoại bẩy mươi! Điều đó thấy rõ trước hết là việc bà không đi xe
đạp, rồi không đi bộ đến chơi với chúng tôi ngày chủ nhật nữa. Bà đi xe ôm
được một thời gian rồi sau cùng không dám đi cả xe máy bố tôi đến đón. Bà kêu
sóc, đau xương cốt. Bà đi xích lô và bảo người đạp xe đi thật chậm.
Bà đến nhà chúng tôi thưa dần. Một lần, sau ba bốn chủ nhật qua bà mới tới.
Nhưng vừa tới, bà đã lên tiếng: Không phải lo cho bà, đừng đến thăm bà, cứ
yên tâm mà công tác, học hành, bà già rồi, mệt nhọc là chuyện thường tình, chứ
bà còn khoẻ chán.
Chủ nhật ấy, chờ đến mười hai giờ, vẫn chưa thấy bà nội ra chơi, bố tôi đón
được một cú điện thoại, vội dắt xe đi. Hai giờ chiều, không thấy bố tôi về, mẹ
tôi sốt ruột quá, cũng lại dắt xe đi.
Tám giờ tối, bố mẹ tôi mới cùng trở về. Hai người ướt đẫm nước mưa, mặt nhợt
nhạt, thở không ra hơi. Chúng tôi dọn cơm cho bố mẹ ăn. Nhưng cả hai ngồi
vào mâm cơm đều im lặng. Bố tôi úp hai bàn tay vào mặt, đầu lắc lắc:
– Mình thật vô tâm quá! Năm lần bẩy lượt bà cụ nhắc đưa bà cụ lên bốc mộ
ông cụ ở Trái Hút mà cứ để việc này việc khác lấp khuất đi. Cả việc làm đơn
xin huân chương cho hai cụ cũng thế. Khổ! Bây giờ khéo không là muộn rồi!
Mẹ tôi bần thần nói:
– Có mỗi cái việc lắp cho cụ cái điện thoại cứ định mãi mà em chưa làm được.
Tôi rụt rè hỏi mẹ có phải bà bị ốm nặng phải đưa vào viện cấp cứu không. Mẹ
tôi chưa kịp nói, bố tôi đã quay phắt lại, to tiếng, như sừng sộ.
– Này, nghe bố nói đây: Con cái là một lũ ích kỷ. Một lũ ích kỷ, đại ích kỷ! Nhớ
chưa!
Thì ra bà tôi bắc thang để hái nụ hoa hoè cho bố tôi, thang trượt, bà bị ngã,
nằm bất tỉnh, may có người hàng xóm gọi điện báo cho bố tôi biết. Giờ bà nằm
ở khoa cấp cứu bệnh viện Sanh Pôn.
May, trời còn thương gia đình mình, còn cho bố mẹ, con cái mình có dịp báo
hiếu bà. Đó là câu bố tôi nói hôm đón bà từ bệnh viện về. May, bà chỉ bị chấn
thương não ở thể nhẹ, sau mấy ngày mê man, giờ bà đã tinh tỉnh được chút ít.
Bế bà từ ngoài xe taxi vào nhà, đặt bà lên cái giường gỗ trải nệm êm, bố tôi
đứng ở giữa nhà, gọi chúng tôi lại, nói:
– Từ nay, bố mẹ đón bà về ở, các con có trách nhiệm phải săn sóc trông nom
bà. Hai đứa học hành quanh quẩn ở nhà, để giúp bà mọi việc. Nhớ chưa? Nhất
là Tú đấy. chơi bời, bạn bè ít thôi!
Bà nằm, mặt thiêm thiếp, chỉ thi thoảng mới cựa mình, rên khe khẽ.
Từ hôm ấy, nhà tôi có bà đến ở. Từ hôm ấy, chúng tôi có cảm giác đã lớn khôn
thêm một nấc tuổi. Chúng tôi đã gánh thêm một trách nhiệm. Tôi đi học, hết
buổi là nhào vội về nhà với bà. Cái Tú, hễ có bạn đến nhà rủ ra sân chơi nhẩy
lò cò, chơi truyền là nó chạy ra, nghiêm trang bảo: “Hôm khác các bạn hãy
đến nhé. Bà tớ đang ốm đấy.”
Ngày qua, bà đã hé mắt, nhưng vẫn nằm bất động, có cảm giác thân hình bà
ngày càng lép xẹp, lọt thỏm vào lòng nệm. Nhìn bà một thân hình gầy teo mà
thương quá! Bà đã sống một cuộc sống sôi nổi bền bỉ suốt từ năm 16 tuổi làm
thợ tiện ở xưởng quân giới, cho hết tuổi 60 mới về nghỉ; suốt đời bà chăm chỉ
với việc chung, về già bà vẫn hết lòng thương yêu và lo toan cho con cháu.
Thương bà quá, nhất là những lúc mẹ tôi đỡ bà dậy, bón cho bà ăn. Ngồi cạnh
trông bà ăn, thấy bà chúm môi như đứa trẻ, gắng nuốt từng thìa, rồi mệt nhọc
nằm thừ, đuôi mắt ướt nhoèn, bố tôi ôm mặt khóc nghẹn. Tôi cũng khóc theo.
Tôi nhớ nhà thơ Thanh Tịnh có câu thơ rất hay thế này: “Bố bón cho con ăn,
con cười, bố cười. Con bón cho bố ăn, con khóc, bố khóc.”
Nghe tiếng bố tôi khóc, có lẽ vậy, bà tôi liền mở mắt. Rồi bà chép chép môi. Mẹ
tôi mừng quá, vội đưa thìa bón tiếp cho bà. Bà cố ăn để khoẻ mạnh, sống mãi
với con cháu, bà ơi!
Bà nội tôi gắng chống trả với cơn tai biến hiểm nghèo để khoẻ lại. Tuy vậy, sức
khoẻ là thứ của cải một khi đã mất đi, rất khó lấy lại, nhất là ở tuổi già. Tỉnh
tỉnh mê mê, bà tôi thường ở trạng thái dang dở ấy có khi cả tuần liền. Một đêm
vào quãng gần sáng cả nhà đang ngủ, bỗng nghe tiếng bà quát rất to, bố tôi và
tôi liền bật dậy.
– Mẹ ơi! Bố tôi bước vội đến bên giường bà, càng thảng thốt vì thấy bà tôi đã
chống tay ngồi dậy, đang vấn khăn đầu.
– Mẹ, mẹ có sao không ạ?
– Bố Tuấn Tú đấy à? Ngủ thế nào mà kẻ trộm nó vào bếp, nó bắt mất hai con
ngan mà không biết!
– Ngan nào, hả mẹ?
– Thế nhà không nuôi ngan à? Ơ, chả lẽ là ra mẹ mê ngủ? Rõ ràng mẹ đang
nấu chân giò với dấm tỏi cho cái Tú và cả nhà ăn thì thấy một anh ăn mặc rất
chải chuốt vào nhà ta xin nước uống rồi lẻn vào bếp bắt mất hai con ngan. Mẹ
xót quá. Mẹ gào tướng lên: Này, anh kia, tôi nuôi hai con ngan là để làm thịt
cho con, cháu tôi ăn, sao anh nhẫn tâm thế! Biết điều thì trả lại cho tôi đi! Rồi
mẹ xông ra, xắn tay áo lên…
Mẹ tôi và cái Tú cùng choàng dậy lúc đó. Ngơ ngác một thoáng, rồi ai cũng
hiểu chuyện, rồi vô cùng vui mừng vì thấy bà tôi đã ngồi được dậy, chải đầu,
vấn khăn gọn ghẽ, nói rằng hôm nay thấy người đã trở lại bình thường, từ nay
không phải lo gì cho bà nữa và hỏi: Có phải là tết nhất và mùa xuân sắp đến
rồi không? Thế là cái vận cái hạn đã qua rồi!
Cái Tú đến bên bà, ôm bà, thẽ thọt:
– Bà ơi, có phải mê bị mất của là điềm lành không, bà?
Bà gật đầu.
– Ừ, bà khoẻ, rồi bà sẽ nấu canh cua rau rút, nấu chân giò dấm tỏi, nấu nhiều
món ngon cho các cháu ăn.
Tôi rưng rưng bồi hồi và ngờ ngợ. Bà nội tôi đã khoẻ trở lại bằng tất cả sự nỗ
lực của chính bà, bà không muốn con cháu vất vả vì bà, và điều ấy là sự thật,
nhưng là một sự thật mong manh làm sao! Mẹ già như trái chín cây. Tuổi già
như ngọn đèn trước gió. Mặt bà hanh hao, là lạ như người đi đâu xa mới về, và
những cặp mắt xung quanh bà bỗng nhiên trở nên hoang dại, ngất ngơ thế nào!
Bố tôi úp mặt vào hai bàn tay. Làm con phải biết đến tuổi của bố mẹ để kính
trọng và để lo liệu. Bố tôi thường nói vậy với chúng tôi. Ông cũng đang ở trong
trạng thái run rẩy sợ hãi như tôi, nhưng còn thêm cả nỗi day dứt xót xa nữa. Ôi,
ngay cả lúc ốm đau, tình thương của bà, cũng dành cho con cháu! Còn con
cháu đúng như bố tôi đã có lần nói, thật là một lũ ích kỷ! Đại ích kỷ!
* Ma Văn Kháng, tên khai sinh Đinh Trọng Đoàn, sinh năm 1936 tại Hà Nội. Dù sinh ra ở Hà
Nội, ông đã có hơn 25 năm gắn bó với vùng cao Tây Bắc từ năm 18 tuổi. Ông từng là giáo viên
Văn học và hiệu trưởng trường cấp 3 ở Lào Cai sau khi tốt nghiệp sư phạm. Bút danh Ma Văn
Kháng được ông đặt để bày tỏ lòng biết ơn với ông Ma Văn Nho, người đã giúp ông chữa bệnh
và trở thành anh em kết nghĩa. Sự gắn bó với vùng cao đã ảnh hưởng sâu sắc đến các tác phẩm
của ông, đặc biệt là những truyện ngắn và tiểu thuyết từ năm 1974 trở đi, tập trung vào cuộc
sống và con người Tây Bắc. Sau này, khi chuyển về Hà Nội năm 1976, ông mở rộng đề tài sang
cuộc sống đô thị, tiêu biểu là tiểu thuyết "Võ sỹ lên đài" lấy cảm hứng từ võ sĩ Phạm Xuân
Nhàn. Ma Văn Kháng là một nhà văn sung sức với hơn 20 tiểu thuyết và gần 200 truyện ngắn,
khai thác cả đề tài lịch sử, sử thi và đời tư. Tác phẩm đầu tiên của ông là truyện ngắn "Phố cụt"
(1961), và tác phẩm được dự kiến cuối cùng là tiểu thuyết "Chim én liệng trời cao" (2017). Ông
quan niệm văn học cần phản ánh những bước đi lớn của đất nước. Ông đã vinh dự nhận nhiều
giải thưởng văn học uy tín, bao gồm Giải thưởng Văn học ASEAN (1998), Giải thưởng Nhà
nước về Văn học - Nghệ thuật (2001), và Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật
(2012) cho các tác phẩm tiêu biểu như "Truyện ngắn chọn lọc", "Mưa mùa hạ", "Côi cút giữa
cảnh đời", và "Gặp gỡ ở La Pan Tẩn". Ông cũng từng giữ các vị trí quan trọng như Tổng biên
tập Nhà xuất bản Lao động và Tổng biên tập tạp chí Văn học nước ngoài.
(*) Giới thiệu tác phẩm truyện (nhan đề, tác giả, thể loại) và nêu ý kiến khái quát về tác
phẩm:
- Giới thiệu tác phẩm:
+ Nhan đề: Giấc mơ của bà nội
+ Tác giả: Ma Văn Kháng
+ Thể loại: Truyện ngắn
- Ý kiến khái quát về tác phẩm:
+ "Giấc mơ của bà nội" là một truyện ngắn thấm đẫm tình cảm gia đình, đặc biệt là tình yêu
thương bao la và sự hy sinh thầm lặng của người bà dành cho con cháu. Qua những chi tiết
sinh hoạt đời thường giản dị, tác giả Ma Văn Kháng đã khắc họa một cách chân thực và xúc
động hình ảnh người bà tần tảo, giàu đức hy sinh và tâm hồn lạc quan, ngay cả khi đối diện
với tuổi già và bệnh tật. Câu chuyện không chỉ gợi nhắc về những ký ức đẹp đẽ của tuổi thơ
bên bà mà còn khơi dậy trong lòng người đọc sự trân trọng đối với những giá trị gia đình và
tình thân thiêng liêng. Đồng thời, tác phẩm cũng đặt ra những suy ngẫm về sự vô tâm của con
cháu và sự mong manh của tuổi già.
(*) Phân tích nội dung chủ đề của tác phẩm truyện (phân tích hiện thực đời sống; hình tượng
con người; tư tưởng, tình cảm của nhà văn…), có lí lẽ và bằng chứng:
- Phân tích hiện thực đời sống:
+ Cuộc sống gia đình đa thế hệ: Tác phẩm tái hiện chân thực hình ảnh gia đình Việt Nam
truyền thống với nhiều thế hệ cùng chung sống. Đó là sự gắn kết yêu thương giữa bà nội, bố
mẹ và hai đứa cháu. Những sinh hoạt thường nhật như bữa cơm gia đình ấm cúng với những
món ăn đậm chất quê hương (canh cua rau rút, chân giò nấu dấm tỏi), những ngày chủ nhật
bà lên phố mang theo quà quê, chăm sóc con cháu, dọn dẹp nhà cửa... tất cả tạo nên một
không gian gia đình đầm ấm, hạnh phúc.
+ Sự tần tảo, đức hy sinh của người bà: Hình ảnh bà nội hiện lên là một người phụ nữ nông
thôn tần tảo, giàu đức hy sinh. Dù tuổi cao, bà vẫn lặn lội từ quê lên phố để chăm sóc con
cháu. Chiếc túi xách cũ kỹ của ông nội trở thành biểu tượng cho sự chu đáo, đảm đang của
bà, chứa đựng cả tấm lòng thương yêu dành cho gia đình. Bà nhớ từng sở thích, từng bệnh tật
của các thành viên để mang theo những món quà quê phù hợp.
+ Gánh nặng cuộc sống của bố mẹ: Tác phẩm cũng phác họa cuộc sống bận rộn của bố mẹ
nhân vật chính với công việc ở nhà ga. Sự bận rộn đôi khi khiến họ xao nhãng việc chăm sóc
con cái, thể hiện qua chi tiết cậu bé gầy gò, ghẻ lở. Điều này phản ánh một phần hiện thực
cuộc sống của nhiều gia đình Việt Nam trong giai đoạn đó, khi cuộc sống còn nhiều khó
khăn, vất vả.
+ Sự thay đổi của thời gian và tuổi tác: Câu chuyện không né tránh quy luật khắc nghiệt của
thời gian. Sự thay đổi trong sức khỏe của bà nội được miêu tả một cách chân thực: từ việc đi
xe đạp, đi bộ đến phải đi xích lô rồi cuối cùng là nằm liệt giường. Điều này gợi nhắc về sự
mong manh của tuổi già và sự hữu hạn của đời người.
Sự vô tâm, ích kỷ của con cái (ban đầu): Chi tiết bố mẹ bận rộn, chưa thực sự quan tâm đến
những lời nhắc nhở của bà về việc bốc mộ ông hay lắp điện thoại cho bà cho thấy sự vô tâm,
đôi khi là ích kỷ của con cái trong cuộc sống hiện đại. Lời trách mắng của bố "Con cái là một
lũ ích kỷ! Một lũ ích kỷ, đại ích kỷ!" là một lời tự vấn sâu sắc, đánh động người đọc về trách
nhiệm của con cái đối với cha mẹ, ông bà.
- Hình tượng con người:
+ Hình tượng người bà: Đây là nhân vật trung tâm, tỏa sáng với vẻ đẹp của sự tần tảo, đức hy
sinh, lòng thương yêu bao la dành cho con cháu. Bà là hiện thân của những giá trị truyền
thống tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Dù tuổi cao sức yếu, bà vẫn luôn nghĩ đến gia
đình, lo lắng cho từng thành viên. Giấc mơ của bà về việc nấu những món ăn ngon cho con
cháu thể hiện khát khao được chăm sóc, yêu thương và sum vầy bên gia đình. Ngay cả trong
cơn mê sảng, bà vẫn lo lắng cho đàn ngan, một hình ảnh vừa đáng thương vừa đáng quý, cho
thấy sự quan tâm sâu sắc của bà đến cuộc sống gia đình.
+ Hình tượng người bố: Ban đầu có vẻ bận rộn, vô tâm, nhưng sau sự việc bà ngã, người bố
đã có sự thay đổi sâu sắc trong nhận thức. Lời tự trách "Mình thật vô tâm quá!" và hành động
đón bà về chăm sóc thể hiện sự hối hận và tình yêu thương, trách nhiệm đối với mẹ. Câu nói
"Làm con phải biết đến tuổi của bố mẹ để kính trọng và để lo liệu" cho thấy sự trưởng thành
trong suy nghĩ của người bố.
+ Hình tượng người mẹ: Cũng như người bố, người mẹ ban đầu có phần lơ là trong việc quan
tâm đến bà. Tuy nhiên, sự lo lắng, sốt ruột khi bố vắng nhà và hành động chăm sóc bà sau
này cho thấy tình yêu thương và sự quan tâm của người mẹ đối với mẹ chồng.
+ Hình tượng những đứa cháu: Cái Tú hồn nhiên, đáng yêu với những câu nói ngây thơ thể
hiện niềm hạnh phúc khi có bà bên cạnh. Sự thay đổi trong hành động của hai anh em sau khi
bà ốm cho thấy sự trưởng thành, ý thức được trách nhiệm chăm sóc bà.
- Tư tưởng, tình cảm của nhà văn:
+ Sự trân trọng những giá trị gia đình: Ma Văn Kháng thể hiện sự trân trọng sâu sắc đối với
những giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam, đặc biệt là tình cảm gia đình, sự gắn kết
giữa các thế hệ.
Tình yêu thương, kính trọng đối với người già: Tác phẩm là một khúc ca cảm động về tình bà
cháu, đồng thời thể hiện sự kính trọng, thương xót của nhà văn đối với người già, những
người đã dành cả cuộc đời để chăm lo cho gia đình.
+ Sự thức tỉnh về trách nhiệm của con cái: Qua câu chuyện, nhà văn gửi gắm một thông điệp
sâu sắc về trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ, ông bà. Sự vô tâm, thờ ơ có thể gây ra
những hối hận muộn màng.
+ Niềm hy vọng và sự lạc quan: Dù câu chuyện có những khoảnh khắc buồn bã, lo lắng,
nhưng cuối cùng, sự hồi tỉnh của bà nội mang đến một tia hy vọng. Tuy nhiên, cái "sự thật
mong manh" mà người cháu cảm nhận được cho thấy sự lo lắng thường trực về sức khỏe của
bà, đồng thời nhắc nhở về sự quý giá của những khoảnh khắc hiện tại bên người thân.
+ Ngòi bút nhân văn, giàu cảm xúc: Ma Văn Kháng đã sử dụng một giọng văn nhẹ nhàng,
giàu cảm xúc để kể câu chuyện. Những chi tiết nhỏ nhặt, những lời thoại chân thực đã chạm
đến trái tim người đọc, khơi gợi những tình cảm sâu sắc về gia đình và những người thân yêu.
(*) Phân tích những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm (cốt truyện, nghệ thuật
xây dựng nhân vật, ngôi kể, ngôn ngữ người kể chuyện, không gian, thời gian, chi tiết tiêu
biểu,…) và hiệu quả thẩm mĩ của nó, có lí lẽ và bằng chứng:
- Cốt truyện giản dị mà giàu ý nghĩa:
+ Cốt truyện tuyến tính, xoay quanh những khoảnh khắc đời thường: Tác phẩm không có
những tình tiết gay cấn, kịch tính mà tập trung vào những sinh hoạt bình dị hàng ngày của gia
đình có bà nội. Từ những buổi chủ nhật bà lên phố, những món quà quê, bữa cơm ấm cúng
đến những lo toan, chăm sóc khi bà ốm đau. Chính sự giản dị này lại làm nổi bật lên tình cảm
gia đình chân thực và thiêng liêng.
+ Điểm nhấn ở giấc mơ của bà: Giấc mơ của bà ở cuối truyện không chỉ là một ảo ảnh do
bệnh tật mà còn là một chi tiết đắt giá, hé lộ những mong mỏi sâu kín của bà về một cuộc
sống đủ đầy, ấm no cho con cháu. Nó vừa thể hiện sự lẫn lộn giữa thực và mơ của người
bệnh, vừa gợi lên sự xót xa về sức khỏe ngày càng suy yếu của bà.
+ Sự thay đổi trong nhận thức của người cháu: Cốt truyện còn là hành trình trưởng thành
trong nhận thức của người cháu. Từ sự vô tư, hưởng thụ tình yêu thương của bà đến sự lo
lắng, trách nhiệm khi bà ốm, cuối cùng là sự thấu hiểu và trân trọng những gì bà đã dành cho
gia đình.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật chân thực, sống động:
+ Nhân vật bà nội: Được khắc họa với những nét tính cách tiêu biểu của người bà Việt Nam
truyền thống: hiền hậu, tần tảo, thương yêu con cháu vô bờ bến. Hình ảnh bà hiện lên qua
những hành động cụ thể: mang quà quê, chăm sóc nhà cửa, lo lắng cho sức khỏe của con
cháu, đến cả trong giấc mơ vẫn nghĩ đến việc nấu những món ngon cho gia đình. Ngôn ngữ
của bà mộc mạc, giản dị nhưng chứa đựng tình cảm sâu sắc.
+ Nhân vật người cháu: Là người kể chuyện, đồng thời là một nhân vật đang trong quá trình
cảm nhận và thấu hiểu tình cảm gia đình. Ban đầu, cậu bé đón nhận tình yêu thương của bà
một cách tự nhiên, đến khi bà ốm mới thực sự cảm nhận được sự mất mát và trách nhiệm của
mình.
+ Nhân vật bố mẹ: Được phác họa qua sự bận rộn, đôi khi vô tâm với bà, nhưng sâu thẳm là
tình yêu thương và sự hối hận khi nhận ra sự suy yếu của mẹ. Chi tiết người bố trách mắng
các con "ích kỷ" cho thấy sự day dứt và thức tỉnh sâu sắc.
+ Nhân vật cái Tú: Đại diện cho sự hồn nhiên, trong sáng của trẻ thơ, đồng thời cũng thể hiện
sự quan tâm, lo lắng cho bà khi bà ốm. Câu nói ngây thơ của Tú "Cứ được mãi mãi như thế
này thì thích quá nhỉ!" đã chạm đến trái tim người đọc, làm nổi bật giá trị của những khoảnh
khắc bình dị bên gia đình.
- Ngôi kể thứ nhất với giọng điệu chân thành, xúc động:
+ Ngôi kể thứ nhất ("tôi"): Tạo sự gần gũi, chân thực, giúp người đọc cảm nhận sâu sắc
những suy nghĩ, cảm xúc của người cháu về bà nội và gia đình.
+ Giọng điệu hồi tưởng, xen lẫn cảm xúc: Người kể chuyện hồi tưởng về những kỷ niệm với
bà bằng giọng điệu trìu mến, yêu thương. Khi bà ốm, giọng điệu trở nên lo lắng, xót xa, thể
hiện sự trưởng thành trong tình cảm. Những câu cảm thán, những dòng suy nghĩ nội tâm đã
truyền tải một cách mạnh mẽ tình cảm của người cháu đối với bà.
- Ngôn ngữ người kể chuyện giản dị, giàu hình ảnh:
+ Sử dụng ngôn ngữ đời thường: Câu văn tự nhiên, mộc mạc, gần gũi với lời ăn tiếng nói
hàng ngày, tạo cảm giác chân thật.
+ Hình ảnh sinh động, gợi cảm: Những chi tiết miêu tả cụ thể như "cái túi xách bằng vải thô
ông vẫn dùng từ ngày còn là nhân viên phục vụ trên tầu", "nhãn tháng sáu. Na tháng bẩy. Roi
mùa hạ. Gương sen mùa thu", "bà bắc thang hái rồi sao phơi, đóng vào từng bọc giấy báo" đã
tái hiện một cách sinh động hình ảnh người bà và cuộc sống gia đình.
+ Sử dụng các phép so sánh, ẩn dụ tinh tế: "Mẹ già như trái chín cây. Tuổi già như ngọn đèn
trước gió" là những hình ảnh so sánh gợi sự mong manh, yếu ớt của tuổi già, khơi gợi lòng
thương cảm sâu sắc.
- Không gian và thời gian quen thuộc, gần gũi:
+ Không gian gia đình ấm cúng: Ngôi nhà với bàn thờ, những kỷ vật của bố, vườn cây trái
của bà tạo nên một không gian quen thuộc, gắn bó với những kỷ niệm êm đẹp. Bệnh viện lại
là không gian của sự lo lắng, bất an.
+ Thời gian tuyến tính kết hợp hồi tưởng: Câu chuyện diễn ra theo trình tự thời gian, nhưng
người kể chuyện thường xuyên hồi tưởng về những kỷ niệm trong quá khứ, làm nổi bật sự
thay đổi và trôi chảy của thời gian, đồng thời nhấn mạnh những giá trị bền vững của tình cảm
gia đình.
- Chi tiết tiêu biểu, giàu sức gợi:
+ Chiếc túi xách tay của bà: Biểu tượng cho tình yêu thương, sự quan tâm chu đáo của bà
dành cho con cháu.
+ Những món quà quê: Thể hiện sự tần tảo, chắt chiu và tấm lòng thơm thảo của bà.
+ Bàn thờ và những tấm huân chương của bố: Gợi nhớ về quá khứ, về những đóng góp của
gia đình, đồng thời thể hiện sự kính trọng của bà đối với chồng con.
+ Giấc mơ của bà về hai con ngan: Chi tiết vừa thể hiện sự lú lẫn của người bệnh, vừa ẩn
chứa mong ước về một cuộc sống ấm no, đủ đầy cho con cháu.
+ Câu nói của bố "Con cái là một lũ ích kỷ, đại ích kỷ!": Lời tự trách sâu sắc, thức tỉnh sự vô
tâm của những người con.
- Hiệu quả thẩm mỹ:
+ Những đặc sắc về hình thức nghệ thuật trên đã góp phần tạo nên hiệu quả thẩm mỹ sâu sắc
cho tác phẩm:
-> Gợi lên tình cảm gia đình thiêng liêng, ấm áp: Người đọc cảm nhận được sâu sắc tình yêu
thương vô bờ bến của bà dành cho con cháu, sự gắn bó giữa các thành viên trong gia đình.
-> Khơi gợi lòng trắc ẩn, sự cảm thông: Tình cảnh của bà khi ốm đau, những lo lắng của con
cháu đã chạm đến trái tim người đọc, khơi gợi sự đồng cảm và trân trọng những người thân
yêu.
-> Nhấn mạnh giá trị của những khoảnh khắc bình dị: Tác phẩm cho thấy hạnh phúc không
phải là điều gì xa xôi mà nằm ngay trong những sinh hoạt đời thường, trong sự quan tâm,
chăm sóc lẫn nhau của các thành viên trong gia đình.
-> Để lại những suy ngẫm sâu sắc về trách nhiệm của con cháu đối với ông bà, cha mẹ: Câu
chuyện là một lời nhắc nhở về sự vô tâm mà đôi khi chúng ta mắc phải, đồng thời kêu gọi sự
quan tâm, yêu thương và báo hiếu đối với những người thân yêu khi họ còn ở bên cạnh.
=> Tóm lại, "Giấc mơ của bà nội" không chỉ là một câu chuyện cảm động về tình bà cháu mà
còn là một tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, sử dụng ngôn ngữ giản dị, hình ảnh chân thực để
truyền tải những giá trị nhân văn sâu sắc về tình cảm gia đình.
(*) Khẳng định ý nghĩa, giá trị của tác phẩm truyện:
Tóm lại, "Giấc mơ của bà nội" của Ma Văn Kháng khép lại trang sách nhưng mở ra trong
lòng người đọc những suy ngẫm sâu sắc về tình thân gia đình, sự hy sinh cao cả và trách
nhiệm của mỗi người đối với những người thân yêu. Tác phẩm như một lời nhắc nhở dịu
dàng mà thấm thía về những giá trị nhân văn bền vững, thức tỉnh chúng ta khỏi sự hối hả, vô
tâm của cuộc sống hiện đại để trân trọng hơn những khoảnh khắc hiện tại bên gia đình. Bởi
lẽ, như nhà văn Thạch Lam đã từng viết: "Tình yêu thương cũng như ngọn đèn, càng để lâu
càng sáng."
(Ma Văn Kháng)
Bao giờ cũng vậy, cứ đến chủ nhật là bà nội lại từ làng quê ngoại thành vào
phố chơi với chúng tôi. Bà đến quãng chín giờ sáng. Đến là cho quà ríu rít và
chuyện trò. Ôi, dường như là bao nhiêu thương nhớ sau một tuần xa cách và
tích đọng từ bao năm, giờ mới có dịp bộc lộ. Bà giở cái túi xách tay ra. Cái túi
xách bằng vải thô ông vẫn dùng từ ngày còn là nhân viên phục vụ trên tầu chạy
tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội là cái túi có phép thần. ở trong nó có đủ
mùa nào thức ấy: Nhãn tháng sáu. Na tháng bẩy. Roi mùa hạ. Gương sen mùa
thu. Lại còn bột sắn cho mẹ tôi vốn hay bị nhiệt và hoa hoè cho bố tôi mới
chớm bị cao huyết áp. Vườn nhà bà có hai cây hoè. Hoè ra nụ, bà bắc thang hái
rồi sao phơi, đóng vào từng bọc giấy báo mang ra.
– Bố anh ngày xưa cũng hay bị nhức đầu, hoa mắt, uống hoa hoè quanh năm là
đỡ đấy.
Bà nhớ chả sót điều gì. Thấy tôi mồ hôi mồ kê nhễ nhại, bà bảo chả bù cho ông
cháu, chả bao giờ thấy ra tí mồ hôi nào, kể cả lúc ngồi ở toa tầu bí gió. Ngày
chủ nhật có bà đến chơi là ngày vui vẻ nhất đời. Với bà, đó cũng là những giờ
phút bận rộn nhất. Bà sửa sang lại bàn thờ. Bà phủi bụi những tấm huân
chương của bố tôi. Bà luôn chân luôn tay dọn dẹp, quét quáy. Bà lau chùi bát
đĩa, bàn ghế. Bà đem quần áo của chúng tôi ra phơi phóng. Khô rồi cũng đem
ra nắng phơi, cho nó thơm như lời bà nói. Bà chải đầu, tết tóc cho cái Tú. Lại
còn dậy nó chơi chuyền, chơi bắt hình giây chun. Bà nắm cổ tay tôi kêu sao
cháu bà gầy thế. Thấy tôi gãi đùi, gãi cẳng chân, bà bắt tôi kéo quần lên cho bà
xem. Rồi bà rẫy nẩy lên: “Thằng bố, con mẹ mày nó bận công bận việc nhà tầu,
nó chả để ý gì đến con cả. Ai lại để con gầy gò, ghẻ lở thế!” Rồi bà ra chợ mua
nắm lá về đun tắm cho tôi. Rồi giao hẹn với mẹ tôi, ngày nào cũng phải như
thế. Phải cho tôi ăn uống ngon lành. Không thì bà đón về ở với bà. Bà ở làng
một mình từ khi ông nội mất. Nhưng bà không thể ra ở với bố mẹ tôi được, vì
như bà nói, còn họ hàng nội ngoại, nhà cửa, vườn tược, còn hàng xóm láng
giềng, còn là nơi đi về của các hương hồn tiên tổ.
Thích nhất là những bữa ăn có bàn tay bà lo liệu. Đâu có phải chỉ là đồng tiền,
mà còn là cả sự trìu mến ruột thịt. Nên bố tôi đi làm ở nhà ga về, ngồi vào mâm
cơm, liền toét miệng cười, bảo mẹ tôi:
– Thấy chưa, không có bà thì bao giờ trẻ con nhà mình mới được ăn canh cua
rau rút?
Mẹ tôi cười thèn lẹn, nhưng chưa kịp nói, đã được bà đỡ lời:
– Tôi có công lên việc xuống gì nữa đâu mà chả vẽ vời được. Mà dễ không ấy
mà.
– À bà ơi, hôm nào bà nấu chân giò với dấm tỏi nhé. Lâu lâu, cháu chưa được
ăn rồi. Cái Tú nũng nịu.
Bà gật đầu. Rồi bà ngồi chắp tay trước bụng nhìn chúng tôi ăn. Bố tôi nhấc đũa
đưa bà, bà cầm rồi lại đặt xuống, kêu bụng dạ hồi này cứ lủng củng thế nào,
không muốn ăn.
Cái Tú và cơm chan canh cua sùm sụp, ngẩng lên, cười tít mắt, nói:
– Bà ơi, bố mẹ ơi, cứ được mãi mãi như thế này thì thích quá nhỉ!
Mẹ tôi nguýt yêu cái Tú:
– Có bà, được ỷ vào bà, bà làm hộ hết mọi việc, gì mà chẳng thích!
Bà nheo nheo cặp mắt già, đưa tay vuốt mái tóc óng như tơ của cái Tú.
Cứ mãi mãi như thế này thì thích nhỉ! Ôi, bức tranh sinh hoạt gia đình. Bà nội
hiền hậu, thương yêu con cháu. Bố mẹ đang tuổi đi làm, khoẻ mạnh, thuận hoà.
Con cái còn nhỏ, ngoan ngoãn, chăm chỉ học hành. Chính là lời cái Tú khiến
cho mọi người cùng ngỡ ngàng hoan hỉ, nhận ra cái hạnh phúc vô giá của gia
đình tôi những ngày này.
Bức tranh sinh hoạt gia đình cứ thế, cứ thế mà tiếp diễn, tiếp diễn đều đặn. Đến
mức tôi gần như không để ý đến nó nữa. Thì đến một hôm, bố tôi đi làm về,
trông lạ hẳn đi, đến nỗi con chó Bông tưởng người lạ, sủa gầu một tiếng. Mẹ
tôi ở trong bếp ngó ra kêu to: Hoá ra đã đeo kính lão rồi đấy! Bố tôi gật đầu
đứng ngẩn, rồi lẩm bẩm: Mình đã bốn mươi lăm. Bà nội đã ngoại bẩy mươi rồi
còn gì.
Bà nội đã ngoại bẩy mươi! Điều đó thấy rõ trước hết là việc bà không đi xe
đạp, rồi không đi bộ đến chơi với chúng tôi ngày chủ nhật nữa. Bà đi xe ôm
được một thời gian rồi sau cùng không dám đi cả xe máy bố tôi đến đón. Bà kêu
sóc, đau xương cốt. Bà đi xích lô và bảo người đạp xe đi thật chậm.
Bà đến nhà chúng tôi thưa dần. Một lần, sau ba bốn chủ nhật qua bà mới tới.
Nhưng vừa tới, bà đã lên tiếng: Không phải lo cho bà, đừng đến thăm bà, cứ
yên tâm mà công tác, học hành, bà già rồi, mệt nhọc là chuyện thường tình, chứ
bà còn khoẻ chán.
Chủ nhật ấy, chờ đến mười hai giờ, vẫn chưa thấy bà nội ra chơi, bố tôi đón
được một cú điện thoại, vội dắt xe đi. Hai giờ chiều, không thấy bố tôi về, mẹ
tôi sốt ruột quá, cũng lại dắt xe đi.
Tám giờ tối, bố mẹ tôi mới cùng trở về. Hai người ướt đẫm nước mưa, mặt nhợt
nhạt, thở không ra hơi. Chúng tôi dọn cơm cho bố mẹ ăn. Nhưng cả hai ngồi
vào mâm cơm đều im lặng. Bố tôi úp hai bàn tay vào mặt, đầu lắc lắc:
– Mình thật vô tâm quá! Năm lần bẩy lượt bà cụ nhắc đưa bà cụ lên bốc mộ
ông cụ ở Trái Hút mà cứ để việc này việc khác lấp khuất đi. Cả việc làm đơn
xin huân chương cho hai cụ cũng thế. Khổ! Bây giờ khéo không là muộn rồi!
Mẹ tôi bần thần nói:
– Có mỗi cái việc lắp cho cụ cái điện thoại cứ định mãi mà em chưa làm được.
Tôi rụt rè hỏi mẹ có phải bà bị ốm nặng phải đưa vào viện cấp cứu không. Mẹ
tôi chưa kịp nói, bố tôi đã quay phắt lại, to tiếng, như sừng sộ.
– Này, nghe bố nói đây: Con cái là một lũ ích kỷ. Một lũ ích kỷ, đại ích kỷ! Nhớ
chưa!
Thì ra bà tôi bắc thang để hái nụ hoa hoè cho bố tôi, thang trượt, bà bị ngã,
nằm bất tỉnh, may có người hàng xóm gọi điện báo cho bố tôi biết. Giờ bà nằm
ở khoa cấp cứu bệnh viện Sanh Pôn.
May, trời còn thương gia đình mình, còn cho bố mẹ, con cái mình có dịp báo
hiếu bà. Đó là câu bố tôi nói hôm đón bà từ bệnh viện về. May, bà chỉ bị chấn
thương não ở thể nhẹ, sau mấy ngày mê man, giờ bà đã tinh tỉnh được chút ít.
Bế bà từ ngoài xe taxi vào nhà, đặt bà lên cái giường gỗ trải nệm êm, bố tôi
đứng ở giữa nhà, gọi chúng tôi lại, nói:
– Từ nay, bố mẹ đón bà về ở, các con có trách nhiệm phải săn sóc trông nom
bà. Hai đứa học hành quanh quẩn ở nhà, để giúp bà mọi việc. Nhớ chưa? Nhất
là Tú đấy. chơi bời, bạn bè ít thôi!
Bà nằm, mặt thiêm thiếp, chỉ thi thoảng mới cựa mình, rên khe khẽ.
Từ hôm ấy, nhà tôi có bà đến ở. Từ hôm ấy, chúng tôi có cảm giác đã lớn khôn
thêm một nấc tuổi. Chúng tôi đã gánh thêm một trách nhiệm. Tôi đi học, hết
buổi là nhào vội về nhà với bà. Cái Tú, hễ có bạn đến nhà rủ ra sân chơi nhẩy
lò cò, chơi truyền là nó chạy ra, nghiêm trang bảo: “Hôm khác các bạn hãy
đến nhé. Bà tớ đang ốm đấy.”
Ngày qua, bà đã hé mắt, nhưng vẫn nằm bất động, có cảm giác thân hình bà
ngày càng lép xẹp, lọt thỏm vào lòng nệm. Nhìn bà một thân hình gầy teo mà
thương quá! Bà đã sống một cuộc sống sôi nổi bền bỉ suốt từ năm 16 tuổi làm
thợ tiện ở xưởng quân giới, cho hết tuổi 60 mới về nghỉ; suốt đời bà chăm chỉ
với việc chung, về già bà vẫn hết lòng thương yêu và lo toan cho con cháu.
Thương bà quá, nhất là những lúc mẹ tôi đỡ bà dậy, bón cho bà ăn. Ngồi cạnh
trông bà ăn, thấy bà chúm môi như đứa trẻ, gắng nuốt từng thìa, rồi mệt nhọc
nằm thừ, đuôi mắt ướt nhoèn, bố tôi ôm mặt khóc nghẹn. Tôi cũng khóc theo.
Tôi nhớ nhà thơ Thanh Tịnh có câu thơ rất hay thế này: “Bố bón cho con ăn,
con cười, bố cười. Con bón cho bố ăn, con khóc, bố khóc.”
Nghe tiếng bố tôi khóc, có lẽ vậy, bà tôi liền mở mắt. Rồi bà chép chép môi. Mẹ
tôi mừng quá, vội đưa thìa bón tiếp cho bà. Bà cố ăn để khoẻ mạnh, sống mãi
với con cháu, bà ơi!
Bà nội tôi gắng chống trả với cơn tai biến hiểm nghèo để khoẻ lại. Tuy vậy, sức
khoẻ là thứ của cải một khi đã mất đi, rất khó lấy lại, nhất là ở tuổi già. Tỉnh
tỉnh mê mê, bà tôi thường ở trạng thái dang dở ấy có khi cả tuần liền. Một đêm
vào quãng gần sáng cả nhà đang ngủ, bỗng nghe tiếng bà quát rất to, bố tôi và
tôi liền bật dậy.
– Mẹ ơi! Bố tôi bước vội đến bên giường bà, càng thảng thốt vì thấy bà tôi đã
chống tay ngồi dậy, đang vấn khăn đầu.
– Mẹ, mẹ có sao không ạ?
– Bố Tuấn Tú đấy à? Ngủ thế nào mà kẻ trộm nó vào bếp, nó bắt mất hai con
ngan mà không biết!
– Ngan nào, hả mẹ?
– Thế nhà không nuôi ngan à? Ơ, chả lẽ là ra mẹ mê ngủ? Rõ ràng mẹ đang
nấu chân giò với dấm tỏi cho cái Tú và cả nhà ăn thì thấy một anh ăn mặc rất
chải chuốt vào nhà ta xin nước uống rồi lẻn vào bếp bắt mất hai con ngan. Mẹ
xót quá. Mẹ gào tướng lên: Này, anh kia, tôi nuôi hai con ngan là để làm thịt
cho con, cháu tôi ăn, sao anh nhẫn tâm thế! Biết điều thì trả lại cho tôi đi! Rồi
mẹ xông ra, xắn tay áo lên…
Mẹ tôi và cái Tú cùng choàng dậy lúc đó. Ngơ ngác một thoáng, rồi ai cũng
hiểu chuyện, rồi vô cùng vui mừng vì thấy bà tôi đã ngồi được dậy, chải đầu,
vấn khăn gọn ghẽ, nói rằng hôm nay thấy người đã trở lại bình thường, từ nay
không phải lo gì cho bà nữa và hỏi: Có phải là tết nhất và mùa xuân sắp đến
rồi không? Thế là cái vận cái hạn đã qua rồi!
Cái Tú đến bên bà, ôm bà, thẽ thọt:
– Bà ơi, có phải mê bị mất của là điềm lành không, bà?
Bà gật đầu.
– Ừ, bà khoẻ, rồi bà sẽ nấu canh cua rau rút, nấu chân giò dấm tỏi, nấu nhiều
món ngon cho các cháu ăn.
Tôi rưng rưng bồi hồi và ngờ ngợ. Bà nội tôi đã khoẻ trở lại bằng tất cả sự nỗ
lực của chính bà, bà không muốn con cháu vất vả vì bà, và điều ấy là sự thật,
nhưng là một sự thật mong manh làm sao! Mẹ già như trái chín cây. Tuổi già
như ngọn đèn trước gió. Mặt bà hanh hao, là lạ như người đi đâu xa mới về, và
những cặp mắt xung quanh bà bỗng nhiên trở nên hoang dại, ngất ngơ thế nào!
Bố tôi úp mặt vào hai bàn tay. Làm con phải biết đến tuổi của bố mẹ để kính
trọng và để lo liệu. Bố tôi thường nói vậy với chúng tôi. Ông cũng đang ở trong
trạng thái run rẩy sợ hãi như tôi, nhưng còn thêm cả nỗi day dứt xót xa nữa. Ôi,
ngay cả lúc ốm đau, tình thương của bà, cũng dành cho con cháu! Còn con
cháu đúng như bố tôi đã có lần nói, thật là một lũ ích kỷ! Đại ích kỷ!
* Ma Văn Kháng, tên khai sinh Đinh Trọng Đoàn, sinh năm 1936 tại Hà Nội. Dù sinh ra ở Hà
Nội, ông đã có hơn 25 năm gắn bó với vùng cao Tây Bắc từ năm 18 tuổi. Ông từng là giáo viên
Văn học và hiệu trưởng trường cấp 3 ở Lào Cai sau khi tốt nghiệp sư phạm. Bút danh Ma Văn
Kháng được ông đặt để bày tỏ lòng biết ơn với ông Ma Văn Nho, người đã giúp ông chữa bệnh
và trở thành anh em kết nghĩa. Sự gắn bó với vùng cao đã ảnh hưởng sâu sắc đến các tác phẩm
của ông, đặc biệt là những truyện ngắn và tiểu thuyết từ năm 1974 trở đi, tập trung vào cuộc
sống và con người Tây Bắc. Sau này, khi chuyển về Hà Nội năm 1976, ông mở rộng đề tài sang
cuộc sống đô thị, tiêu biểu là tiểu thuyết "Võ sỹ lên đài" lấy cảm hứng từ võ sĩ Phạm Xuân
Nhàn. Ma Văn Kháng là một nhà văn sung sức với hơn 20 tiểu thuyết và gần 200 truyện ngắn,
khai thác cả đề tài lịch sử, sử thi và đời tư. Tác phẩm đầu tiên của ông là truyện ngắn "Phố cụt"
(1961), và tác phẩm được dự kiến cuối cùng là tiểu thuyết "Chim én liệng trời cao" (2017). Ông
quan niệm văn học cần phản ánh những bước đi lớn của đất nước. Ông đã vinh dự nhận nhiều
giải thưởng văn học uy tín, bao gồm Giải thưởng Văn học ASEAN (1998), Giải thưởng Nhà
nước về Văn học - Nghệ thuật (2001), và Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật
(2012) cho các tác phẩm tiêu biểu như "Truyện ngắn chọn lọc", "Mưa mùa hạ", "Côi cút giữa
cảnh đời", và "Gặp gỡ ở La Pan Tẩn". Ông cũng từng giữ các vị trí quan trọng như Tổng biên
tập Nhà xuất bản Lao động và Tổng biên tập tạp chí Văn học nước ngoài.
(*) Giới thiệu tác phẩm truyện (nhan đề, tác giả, thể loại) và nêu ý kiến khái quát về tác
phẩm:
- Giới thiệu tác phẩm:
+ Nhan đề: Giấc mơ của bà nội
+ Tác giả: Ma Văn Kháng
+ Thể loại: Truyện ngắn
- Ý kiến khái quát về tác phẩm:
+ "Giấc mơ của bà nội" là một truyện ngắn thấm đẫm tình cảm gia đình, đặc biệt là tình yêu
thương bao la và sự hy sinh thầm lặng của người bà dành cho con cháu. Qua những chi tiết
sinh hoạt đời thường giản dị, tác giả Ma Văn Kháng đã khắc họa một cách chân thực và xúc
động hình ảnh người bà tần tảo, giàu đức hy sinh và tâm hồn lạc quan, ngay cả khi đối diện
với tuổi già và bệnh tật. Câu chuyện không chỉ gợi nhắc về những ký ức đẹp đẽ của tuổi thơ
bên bà mà còn khơi dậy trong lòng người đọc sự trân trọng đối với những giá trị gia đình và
tình thân thiêng liêng. Đồng thời, tác phẩm cũng đặt ra những suy ngẫm về sự vô tâm của con
cháu và sự mong manh của tuổi già.
(*) Phân tích nội dung chủ đề của tác phẩm truyện (phân tích hiện thực đời sống; hình tượng
con người; tư tưởng, tình cảm của nhà văn…), có lí lẽ và bằng chứng:
- Phân tích hiện thực đời sống:
+ Cuộc sống gia đình đa thế hệ: Tác phẩm tái hiện chân thực hình ảnh gia đình Việt Nam
truyền thống với nhiều thế hệ cùng chung sống. Đó là sự gắn kết yêu thương giữa bà nội, bố
mẹ và hai đứa cháu. Những sinh hoạt thường nhật như bữa cơm gia đình ấm cúng với những
món ăn đậm chất quê hương (canh cua rau rút, chân giò nấu dấm tỏi), những ngày chủ nhật
bà lên phố mang theo quà quê, chăm sóc con cháu, dọn dẹp nhà cửa... tất cả tạo nên một
không gian gia đình đầm ấm, hạnh phúc.
+ Sự tần tảo, đức hy sinh của người bà: Hình ảnh bà nội hiện lên là một người phụ nữ nông
thôn tần tảo, giàu đức hy sinh. Dù tuổi cao, bà vẫn lặn lội từ quê lên phố để chăm sóc con
cháu. Chiếc túi xách cũ kỹ của ông nội trở thành biểu tượng cho sự chu đáo, đảm đang của
bà, chứa đựng cả tấm lòng thương yêu dành cho gia đình. Bà nhớ từng sở thích, từng bệnh tật
của các thành viên để mang theo những món quà quê phù hợp.
+ Gánh nặng cuộc sống của bố mẹ: Tác phẩm cũng phác họa cuộc sống bận rộn của bố mẹ
nhân vật chính với công việc ở nhà ga. Sự bận rộn đôi khi khiến họ xao nhãng việc chăm sóc
con cái, thể hiện qua chi tiết cậu bé gầy gò, ghẻ lở. Điều này phản ánh một phần hiện thực
cuộc sống của nhiều gia đình Việt Nam trong giai đoạn đó, khi cuộc sống còn nhiều khó
khăn, vất vả.
+ Sự thay đổi của thời gian và tuổi tác: Câu chuyện không né tránh quy luật khắc nghiệt của
thời gian. Sự thay đổi trong sức khỏe của bà nội được miêu tả một cách chân thực: từ việc đi
xe đạp, đi bộ đến phải đi xích lô rồi cuối cùng là nằm liệt giường. Điều này gợi nhắc về sự
mong manh của tuổi già và sự hữu hạn của đời người.
Sự vô tâm, ích kỷ của con cái (ban đầu): Chi tiết bố mẹ bận rộn, chưa thực sự quan tâm đến
những lời nhắc nhở của bà về việc bốc mộ ông hay lắp điện thoại cho bà cho thấy sự vô tâm,
đôi khi là ích kỷ của con cái trong cuộc sống hiện đại. Lời trách mắng của bố "Con cái là một
lũ ích kỷ! Một lũ ích kỷ, đại ích kỷ!" là một lời tự vấn sâu sắc, đánh động người đọc về trách
nhiệm của con cái đối với cha mẹ, ông bà.
- Hình tượng con người:
+ Hình tượng người bà: Đây là nhân vật trung tâm, tỏa sáng với vẻ đẹp của sự tần tảo, đức hy
sinh, lòng thương yêu bao la dành cho con cháu. Bà là hiện thân của những giá trị truyền
thống tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Dù tuổi cao sức yếu, bà vẫn luôn nghĩ đến gia
đình, lo lắng cho từng thành viên. Giấc mơ của bà về việc nấu những món ăn ngon cho con
cháu thể hiện khát khao được chăm sóc, yêu thương và sum vầy bên gia đình. Ngay cả trong
cơn mê sảng, bà vẫn lo lắng cho đàn ngan, một hình ảnh vừa đáng thương vừa đáng quý, cho
thấy sự quan tâm sâu sắc của bà đến cuộc sống gia đình.
+ Hình tượng người bố: Ban đầu có vẻ bận rộn, vô tâm, nhưng sau sự việc bà ngã, người bố
đã có sự thay đổi sâu sắc trong nhận thức. Lời tự trách "Mình thật vô tâm quá!" và hành động
đón bà về chăm sóc thể hiện sự hối hận và tình yêu thương, trách nhiệm đối với mẹ. Câu nói
"Làm con phải biết đến tuổi của bố mẹ để kính trọng và để lo liệu" cho thấy sự trưởng thành
trong suy nghĩ của người bố.
+ Hình tượng người mẹ: Cũng như người bố, người mẹ ban đầu có phần lơ là trong việc quan
tâm đến bà. Tuy nhiên, sự lo lắng, sốt ruột khi bố vắng nhà và hành động chăm sóc bà sau
này cho thấy tình yêu thương và sự quan tâm của người mẹ đối với mẹ chồng.
+ Hình tượng những đứa cháu: Cái Tú hồn nhiên, đáng yêu với những câu nói ngây thơ thể
hiện niềm hạnh phúc khi có bà bên cạnh. Sự thay đổi trong hành động của hai anh em sau khi
bà ốm cho thấy sự trưởng thành, ý thức được trách nhiệm chăm sóc bà.
- Tư tưởng, tình cảm của nhà văn:
+ Sự trân trọng những giá trị gia đình: Ma Văn Kháng thể hiện sự trân trọng sâu sắc đối với
những giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam, đặc biệt là tình cảm gia đình, sự gắn kết
giữa các thế hệ.
Tình yêu thương, kính trọng đối với người già: Tác phẩm là một khúc ca cảm động về tình bà
cháu, đồng thời thể hiện sự kính trọng, thương xót của nhà văn đối với người già, những
người đã dành cả cuộc đời để chăm lo cho gia đình.
+ Sự thức tỉnh về trách nhiệm của con cái: Qua câu chuyện, nhà văn gửi gắm một thông điệp
sâu sắc về trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ, ông bà. Sự vô tâm, thờ ơ có thể gây ra
những hối hận muộn màng.
+ Niềm hy vọng và sự lạc quan: Dù câu chuyện có những khoảnh khắc buồn bã, lo lắng,
nhưng cuối cùng, sự hồi tỉnh của bà nội mang đến một tia hy vọng. Tuy nhiên, cái "sự thật
mong manh" mà người cháu cảm nhận được cho thấy sự lo lắng thường trực về sức khỏe của
bà, đồng thời nhắc nhở về sự quý giá của những khoảnh khắc hiện tại bên người thân.
+ Ngòi bút nhân văn, giàu cảm xúc: Ma Văn Kháng đã sử dụng một giọng văn nhẹ nhàng,
giàu cảm xúc để kể câu chuyện. Những chi tiết nhỏ nhặt, những lời thoại chân thực đã chạm
đến trái tim người đọc, khơi gợi những tình cảm sâu sắc về gia đình và những người thân yêu.
(*) Phân tích những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm (cốt truyện, nghệ thuật
xây dựng nhân vật, ngôi kể, ngôn ngữ người kể chuyện, không gian, thời gian, chi tiết tiêu
biểu,…) và hiệu quả thẩm mĩ của nó, có lí lẽ và bằng chứng:
- Cốt truyện giản dị mà giàu ý nghĩa:
+ Cốt truyện tuyến tính, xoay quanh những khoảnh khắc đời thường: Tác phẩm không có
những tình tiết gay cấn, kịch tính mà tập trung vào những sinh hoạt bình dị hàng ngày của gia
đình có bà nội. Từ những buổi chủ nhật bà lên phố, những món quà quê, bữa cơm ấm cúng
đến những lo toan, chăm sóc khi bà ốm đau. Chính sự giản dị này lại làm nổi bật lên tình cảm
gia đình chân thực và thiêng liêng.
+ Điểm nhấn ở giấc mơ của bà: Giấc mơ của bà ở cuối truyện không chỉ là một ảo ảnh do
bệnh tật mà còn là một chi tiết đắt giá, hé lộ những mong mỏi sâu kín của bà về một cuộc
sống đủ đầy, ấm no cho con cháu. Nó vừa thể hiện sự lẫn lộn giữa thực và mơ của người
bệnh, vừa gợi lên sự xót xa về sức khỏe ngày càng suy yếu của bà.
+ Sự thay đổi trong nhận thức của người cháu: Cốt truyện còn là hành trình trưởng thành
trong nhận thức của người cháu. Từ sự vô tư, hưởng thụ tình yêu thương của bà đến sự lo
lắng, trách nhiệm khi bà ốm, cuối cùng là sự thấu hiểu và trân trọng những gì bà đã dành cho
gia đình.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật chân thực, sống động:
+ Nhân vật bà nội: Được khắc họa với những nét tính cách tiêu biểu của người bà Việt Nam
truyền thống: hiền hậu, tần tảo, thương yêu con cháu vô bờ bến. Hình ảnh bà hiện lên qua
những hành động cụ thể: mang quà quê, chăm sóc nhà cửa, lo lắng cho sức khỏe của con
cháu, đến cả trong giấc mơ vẫn nghĩ đến việc nấu những món ngon cho gia đình. Ngôn ngữ
của bà mộc mạc, giản dị nhưng chứa đựng tình cảm sâu sắc.
+ Nhân vật người cháu: Là người kể chuyện, đồng thời là một nhân vật đang trong quá trình
cảm nhận và thấu hiểu tình cảm gia đình. Ban đầu, cậu bé đón nhận tình yêu thương của bà
một cách tự nhiên, đến khi bà ốm mới thực sự cảm nhận được sự mất mát và trách nhiệm của
mình.
+ Nhân vật bố mẹ: Được phác họa qua sự bận rộn, đôi khi vô tâm với bà, nhưng sâu thẳm là
tình yêu thương và sự hối hận khi nhận ra sự suy yếu của mẹ. Chi tiết người bố trách mắng
các con "ích kỷ" cho thấy sự day dứt và thức tỉnh sâu sắc.
+ Nhân vật cái Tú: Đại diện cho sự hồn nhiên, trong sáng của trẻ thơ, đồng thời cũng thể hiện
sự quan tâm, lo lắng cho bà khi bà ốm. Câu nói ngây thơ của Tú "Cứ được mãi mãi như thế
này thì thích quá nhỉ!" đã chạm đến trái tim người đọc, làm nổi bật giá trị của những khoảnh
khắc bình dị bên gia đình.
- Ngôi kể thứ nhất với giọng điệu chân thành, xúc động:
+ Ngôi kể thứ nhất ("tôi"): Tạo sự gần gũi, chân thực, giúp người đọc cảm nhận sâu sắc
những suy nghĩ, cảm xúc của người cháu về bà nội và gia đình.
+ Giọng điệu hồi tưởng, xen lẫn cảm xúc: Người kể chuyện hồi tưởng về những kỷ niệm với
bà bằng giọng điệu trìu mến, yêu thương. Khi bà ốm, giọng điệu trở nên lo lắng, xót xa, thể
hiện sự trưởng thành trong tình cảm. Những câu cảm thán, những dòng suy nghĩ nội tâm đã
truyền tải một cách mạnh mẽ tình cảm của người cháu đối với bà.
- Ngôn ngữ người kể chuyện giản dị, giàu hình ảnh:
+ Sử dụng ngôn ngữ đời thường: Câu văn tự nhiên, mộc mạc, gần gũi với lời ăn tiếng nói
hàng ngày, tạo cảm giác chân thật.
+ Hình ảnh sinh động, gợi cảm: Những chi tiết miêu tả cụ thể như "cái túi xách bằng vải thô
ông vẫn dùng từ ngày còn là nhân viên phục vụ trên tầu", "nhãn tháng sáu. Na tháng bẩy. Roi
mùa hạ. Gương sen mùa thu", "bà bắc thang hái rồi sao phơi, đóng vào từng bọc giấy báo" đã
tái hiện một cách sinh động hình ảnh người bà và cuộc sống gia đình.
+ Sử dụng các phép so sánh, ẩn dụ tinh tế: "Mẹ già như trái chín cây. Tuổi già như ngọn đèn
trước gió" là những hình ảnh so sánh gợi sự mong manh, yếu ớt của tuổi già, khơi gợi lòng
thương cảm sâu sắc.
- Không gian và thời gian quen thuộc, gần gũi:
+ Không gian gia đình ấm cúng: Ngôi nhà với bàn thờ, những kỷ vật của bố, vườn cây trái
của bà tạo nên một không gian quen thuộc, gắn bó với những kỷ niệm êm đẹp. Bệnh viện lại
là không gian của sự lo lắng, bất an.
+ Thời gian tuyến tính kết hợp hồi tưởng: Câu chuyện diễn ra theo trình tự thời gian, nhưng
người kể chuyện thường xuyên hồi tưởng về những kỷ niệm trong quá khứ, làm nổi bật sự
thay đổi và trôi chảy của thời gian, đồng thời nhấn mạnh những giá trị bền vững của tình cảm
gia đình.
- Chi tiết tiêu biểu, giàu sức gợi:
+ Chiếc túi xách tay của bà: Biểu tượng cho tình yêu thương, sự quan tâm chu đáo của bà
dành cho con cháu.
+ Những món quà quê: Thể hiện sự tần tảo, chắt chiu và tấm lòng thơm thảo của bà.
+ Bàn thờ và những tấm huân chương của bố: Gợi nhớ về quá khứ, về những đóng góp của
gia đình, đồng thời thể hiện sự kính trọng của bà đối với chồng con.
+ Giấc mơ của bà về hai con ngan: Chi tiết vừa thể hiện sự lú lẫn của người bệnh, vừa ẩn
chứa mong ước về một cuộc sống ấm no, đủ đầy cho con cháu.
+ Câu nói của bố "Con cái là một lũ ích kỷ, đại ích kỷ!": Lời tự trách sâu sắc, thức tỉnh sự vô
tâm của những người con.
- Hiệu quả thẩm mỹ:
+ Những đặc sắc về hình thức nghệ thuật trên đã góp phần tạo nên hiệu quả thẩm mỹ sâu sắc
cho tác phẩm:
-> Gợi lên tình cảm gia đình thiêng liêng, ấm áp: Người đọc cảm nhận được sâu sắc tình yêu
thương vô bờ bến của bà dành cho con cháu, sự gắn bó giữa các thành viên trong gia đình.
-> Khơi gợi lòng trắc ẩn, sự cảm thông: Tình cảnh của bà khi ốm đau, những lo lắng của con
cháu đã chạm đến trái tim người đọc, khơi gợi sự đồng cảm và trân trọng những người thân
yêu.
-> Nhấn mạnh giá trị của những khoảnh khắc bình dị: Tác phẩm cho thấy hạnh phúc không
phải là điều gì xa xôi mà nằm ngay trong những sinh hoạt đời thường, trong sự quan tâm,
chăm sóc lẫn nhau của các thành viên trong gia đình.
-> Để lại những suy ngẫm sâu sắc về trách nhiệm của con cháu đối với ông bà, cha mẹ: Câu
chuyện là một lời nhắc nhở về sự vô tâm mà đôi khi chúng ta mắc phải, đồng thời kêu gọi sự
quan tâm, yêu thương và báo hiếu đối với những người thân yêu khi họ còn ở bên cạnh.
=> Tóm lại, "Giấc mơ của bà nội" không chỉ là một câu chuyện cảm động về tình bà cháu mà
còn là một tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, sử dụng ngôn ngữ giản dị, hình ảnh chân thực để
truyền tải những giá trị nhân văn sâu sắc về tình cảm gia đình.
(*) Khẳng định ý nghĩa, giá trị của tác phẩm truyện:
Tóm lại, "Giấc mơ của bà nội" của Ma Văn Kháng khép lại trang sách nhưng mở ra trong
lòng người đọc những suy ngẫm sâu sắc về tình thân gia đình, sự hy sinh cao cả và trách
nhiệm của mỗi người đối với những người thân yêu. Tác phẩm như một lời nhắc nhở dịu
dàng mà thấm thía về những giá trị nhân văn bền vững, thức tỉnh chúng ta khỏi sự hối hả, vô
tâm của cuộc sống hiện đại để trân trọng hơn những khoảnh khắc hiện tại bên gia đình. Bởi
lẽ, như nhà văn Thạch Lam đã từng viết: "Tình yêu thương cũng như ngọn đèn, càng để lâu
càng sáng."
 









Các ý kiến mới nhất