Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Đề cương ôn thi HK1 Ngữ văn 12

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: http://thaiphiendanang.edu.vn/baigiangs/view/de-cuong-on-tap-cuoi-ky-1-nam-hoc-2004_2025-mon-ngu-van.html
Người gửi: Bùi Thị Phương Thảo
Ngày gửi: 14h:49' 24-02-2026
Dung lượng: 186.3 KB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích: 0 người
TRƯỜNG THPT THÁI PHIÊN
ÔN TẬP KIỂM TRA CUỐI KÌ I – NĂM HỌC 2024 -2025
MÔN VĂN LỚP 12
I. KHUNG MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA CUỐI KÌ I MÔN NGỮ VĂN LỚP 12
Mức độ nhận thức

TT
1

2


năng
Đọc

Viết

Nội dung kiến thức / Đơn vị kĩ năng
Văn bản nghị luận.

Viết văn bản nghị luận về một vấn đề liên
quan đến tuổi trẻ.
Tổng

Nhận
biết

Thông
hiểu

Vận dụng

Tổng
%
điểm

2

3

1

60

(15%)

(30%)

(15%)

1*

1*

1*

(5%)

(20%)

(15%)

20%

50%

30%

40
100

Ti lê chung
70%
30%
II. BẢNG ĐẶC TẢ ĐỀ KIỂM TRA CUỐI KÌ I MÔN NGỮ VĂN LỚP 12

TT
1


năng
1. Đọc
hiểu

Đơn
vị
kiến thức
/ Kĩ năng

Mức độ đánh giá

Số lượng câu hỏi theo mức
độ nhận thức
Nhận
biết

Thông
hiểu

Tổng
%

Vận dụng

Văn bản Nhận biết:
Theo ma trận ở trên
nghị luận - Nhận biết được luận đề, luận
điểm, lí lẽ và bằng chứng tiêu
biểu, độc đáo trong văn bản.
- Nhận biết được một số thao
tác nghị luận (chẳng hạn chứng
minh, giải thích, bình luận, so
sánh, phân tích hoặc bác bỏ).
- Chỉ ra được được các biện
pháp tu từ, từ ngữ, câu khẳng
định, phủ định trong văn bản.
- Nhận biết được cách lập luận
và ngôn ngữ biểu cảm trong
văn bản nghị luận.
Thông hiểu:
- Chỉ ra được mối liên hệ giữa
nội dung của luận đề, luận
điểm, lí lẽ và bằng chứng tiêu
biểu, độc đáo trong văn bản.
- Đánh giá được mức độ phù
hợp giữa nội dung nghị luận

60

với nhan đề của văn bản.
- Tiếp nhận và đánh giá được
nội dung với tư duy phê phán;
nhận biết được mục đích, tình
cảm và quan điểm của người
viết.
- Phân tích và đánh giá được
cách tác giả sử dụng một số
thao tác nghị luận (chẳng hạn
chứng minh, giải thích, bình
luận, so sánh, phân tích hoặc
bác bỏ) trong văn bản để đạt
được mục đích.
- Phân tích được các biện pháp
tu từ, từ ngữ, câu khẳng định,
phủ định trong văn bản nghị
luận và đánh giá hiệu quả của
việc sử dụng các hình thức
này.
- Phân tích được vai trò của
cách lập luận và ngôn ngữ biểu
cảm trong văn bản nghị luận.
Vận dụng:
- Rút ra bài học từ tác phẩm;
thể hiện quan điểm đồng tình
hoặc không đồng tình với
những vấn đề đặt ra trong tác
phẩm.
- Đánh giá, phê bình văn bản
dựa trên trải nghiệm và quan
điểm của người đọc.
2. Viết Viết bài
văn nghị
luận về
một vấn
đề có liên
quan đến
tuổi trẻ.

Nhận biết:
- Xác định được yêu cầu về nội
dung và hình thức của bài văn
nghị luận.
- Nêu được cụ thể vấn đề xã
hội có liên quan đến tuổi trẻ.
- Xác định rõ được mục đích,
đối tượng nghị luận.
- Đảm bảo cấu trúc, bố cục của
một văn bản nghị luận.
Thông hiểu:
- Phân tích được lí do và các
phương diện liên quan đến tuổi
trẻ của vấn đề.
- Kết hợp được lí lẽ và dẫn
chứng để tạo tính chặt chẽ,

40

Ti lê %
Ti lê chung

logic của mỗi luận điểm.
- Cấu trúc chặt chẽ, có mở đầu
và kết thúc gây ấn tượng; sử
dụng các lí lẽ và bằng chứng
thuyết phục, chính xác, tin cậy,
thích hợp, đầy đủ; đảm bảo
chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng
Việt.
Vận dụng:
- Đánh giá được ý nghĩa, ảnh
hưởng của vấn đề đối với tuổi
trẻ.
- Nêu được những bài học,
những đề nghị, khuyến nghị rút
ra từ vấn đề bàn luận.
- Sử dụng kết hợp các phương
thức miêu tả, biểu cảm, tự
sự,… để tăng sức thuyết phục
cho bài viết.
- Vận dụng hiệu quả những
kiến thức Tiếng Việt lớp 12 để
tăng tính thuyết phục, sức hấp
dẫn cho bài viết.
20%

50%

70%

30%

30%

100
%

III. HƯỚNG DẪN VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN TUỔI
TRẺ

-

-

-

*MB: Giới thiệu vấn đề có liên quan đến tuổi trẻ cần bàn luận, nêu quan điểm của người viết về
vấn đề bàn luận.
*TB:
Giải thích từ ngữ, khái niệm để làm rõ bản chất vấn đề cần bàn luận liên quan đến tuổi trẻ:
Trình bày các khía cạnh của vấn đề (Gợi ý: Vì sao vấn đề này thiết yếu đối với tuổi trẻ? Vấn đề
gợi cho tuổi trẻ những suy nghĩ và hành động như thế nào? Cần có những điều kiện gì để tuổi trẻ
thực hiện yêu cầu mà vấn đề nêu ra?). Với từng luận điểm, cần sử dụng lí lẽ và bằng chứng phù
hợp để lập luận nhằm tạo nên sức thuyết phục cho bài viết.
Bình luận về sự đúng đắn, thiết thực của vấn đề, bác bỏ ý kiến trái chiều để củng cố quan điểm
của mình.
*KB:
Khái quát lại ý nghĩa của vấn đề, liên hệ với đời sống thực tại, rút ra bài học cho bản thân.

IV. ĐỀ MINH HỌA KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ I – MÔN NGỮ VĂN LỚP 12
ĐỀ 01
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
TÌNH THƯƠNG LÀ HẠNH PHÚC CỦA CON NGƯỜI*
(*Đầu đề bài trích do người trích biên soạn Sách giáo khoa đặt)
[...]Trong các điểm nói trên, tình thương là cơ sở quan trọng nhất tạo nên cái
đẹp của xã hội xã hội chủ nghĩa. Tình thương là hạnh phúc của con người, là tình cảm
cao đẹp thuộc bản chất của người lao động. Giai cấp áp bức bóc lột giai cấp khác thì
không có tình thương, không có bình đẳng. Trước đây, Đảng ta giáo dục cho người
lớn tuổi lòng căm thù giai cấp để đấu tranh chống lại cường quyền, áp bức của đế
quốc và phong kiến. Bây giờ, sau khi thủ tiêu giai cấp bóc lột, phải giáo dục cho thế
hệ mới tình thương yêu nhau giữa những người lao động và coi đó là một cơ sở của
đạo đức mới, một cơ sở tình cảm để xây dựng quan hệ giữa người với người trong xã
hội xã hội chủ nghĩa. Bác Hồ dạy thanh niên phải yêu Tổ quốc, yêu đồng bào. Tôi nói
tình thương, nói lòng nhân ái là nói trên quan điểm của giai cấp công nhân và cùng
một ý nghĩa với lời dạy của Bác.
Dân tộc Việt Nam ta xây dựng đất nước trên tình thương và đấu tranh: thương
nước, thương nhà, thương người, thương mình; đồng thời đấu tranh kiên cường, bất
khuất chống cường quyền, chống xâm lược. Dân tộc ta có tinh thần yêu nước rất cao,
đồng thời là một dân tộc giàu lòng nhân ái. Ngày nay, trong chế độ mới, chúng ta cần
nêu cao giá trị tinh thần đó. Đặc biệt thanh niên cần phải xây dựng tình thương sâu
sắc đối với nhân dân lao động, và vì tình thương đó mà căm ghét bóc lột, ăn bám và
tội ác. Đối với nhân dân, thanh niên phải luôn luôn tỏ lòng thương yêu, kính trọng.
Tình cảm ấy, ý thức ấy phải biểu hiện trong nếp sống, trong sự tiếp xúc hằng ngày với
nhân dân. Tôi lấy một số ví dụ để làm rõ vấn đề này.
Đối với ông già, bà già, thanh niên phải có thái độ kính nhường và hết lòng
giúp đỡ, bởi vì một lẽ dễ hiểu là có ông già, bà già thì mới có chúng ta. Trên đường đi,
thanh niên phải nhường bước cho người cao tuổi, phải đỡ gánh nặng cho cụ già, phải
dìu bà lão qua cầu, qua suối. Những việc như thế, thanh niên không thể làm ngơ, và
cũng không phải là việc khó nếu thanh niên thực lòng kính yêu ông già, bà già.
Khi đi tàu, đi xe, thanh niên không được chen lấn phụ nữ. Trong trường hợp
phụ nữ, nhất là phụ nữ có thai, chưa có chỗ ngồi, thanh niên phải nhường chỗ của
mình cho họ. Như vậy là biết khiêm nhường và tôn trọng phụ nữ. Sỗ sàng, thô bạo với
phụ nữ là hành vi xấu xa, đáng chê trách.
Trong xã hội ta, nhiều thanh niên biết tỏ lòng thương yêu, quý mến nhân dân
bằng những hành động dũng cảm và hào hiệp; lúc chiến tranh xông pha lửa đạn để
bảo vệ tính mạng và tài sản của đồng bào; lúc bình thường cứu giúp trẻ em bị tai nạn,
đỡ đần người đi đường bị ốm đau v.v… Những việc làm mang nội dung đạo đức tốt
đẹp của người thanh niên như thế rất đáng biểu dương, khuyến khích.

Thanh niên phải có tinh thần xung phong, gương mẫu; bất cứ việc gì tập thể
cần thì thanh niên phải làm với tinh thần trách nhiệm cao nhất; song luôn phải khiên
tốn, thật thà không được phô trương, dối trá. Đó cũng là một thái độ đúng đắn của
thanh niên đối với nhân dân, của cá nhân đối với tập thể.
Thanh niên cũng phải dành thì giờ nhất định để giúp đỡ cha mẹ, săn sóc các em,
chăm lo một phần công việc gia đình. Người thanh niên nào không biết tí gì đến việc
nhà, không kính yêu cha mẹ, không thương mến người thân trong gia đình thì ra ngoài
xã hội làm sao có lòng yêu mến nhân dân thực sự được? Thanh niên cần phải biết tổ
chức tốt cuộc sống gia đình hợp với những tiêu chuẩn đạo đức mới nhằm tạo điều kiện
cho mọi người trong gia đình làm tròn nghĩa vụ công dân, hoàn thành nhiệm vụ cách
mạng.
(Lê Duẩn, Con đường tu dưỡng rèn luyện đạo đức của thanh niên,
Làm văn 10, NXB Giáo dục, 2003, tr. 74-75)

Thực hiên các yêu cầu:
Câu 1. Xác định luận đề của văn bản. (0,75 điểm)
Câu 2. Chỉ ra ít nhất 02 thao tác nghị luận được sử dụng trong văn bản. (0,75 điểm)
Câu 3. Nêu tác dụng của việc sử dụng hình thức câu hỏi tu từ trong đoạn văn sau:
Thanh niên cũng phải dành thì giờ nhất định để giúp đỡ cha mẹ, săn sóc các em, chăm
lo một phần công việc gia đình. Người thanh niên nào không biết tí gì đến việc nhà,
không kính yêu cha mẹ, không thương mến người thân trong gia đình thì ra ngoài xã
hội làm sao có lòng yêu mến nhân dân thực sự được? (1,0 điểm)
Câu 4. Nhận xét về cách sử dụng bằng chứng của tác giả trong văn bản. (1,0 điểm)
Câu 5. Chỉ ra thái độ và mục đích của người viết đối với vấn đề được bàn luận trong
văn bản. (1,0 điểm)
Câu 6. Anh/Chị có đồng tình với quan điểm: Thanh niên phải có tinh thần xung phong,
gương mẫu; bất cứ việc gì tập thể cần thì thanh niên phải làm với tinh thần trách
nhiệm cao nhất; song luôn phải khiên tốn, thật thà không được phô trương, dối trá
không? (Trả lời bằng 6-7 dòng) (1,5 điểm)
II. VIẾT (4,0 điểm)
Để không bị bỏ lại phía sau, con người trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0
hiện nay cần phải chuẩn bị nhiều thứ. Trong số đó, có người cho rằng, một trong
những thứ không thể thiếu là khả năng sử dụng ngoại ngữ; người khác lại khẳng định:
thứ không thể thiếu là năng lực Công nghệ thông tin.
Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày
suy nghĩ của bản thân về sự lựa chọn của mình.
ĐỀ 02

I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc văn bản:
Có lẽ bạn muốn trở thành mặt trời nhưng bạn chỉ là một ngôi sao. Có lẽ bạn
muốn thành cây lớn nhưng bạn lại là một ngọn cỏ. Có lẽ bạn muốn trở thành một
con sông lớn nhưng bạn lại chỉ là một con suối nhỏ…Thế là bạn tự ti với những gì

mình có. Thực ra bạn cũng giống như những người khác, bạn cũng là một phong
cảnh đẹp, cũng có không khí, cũng có bốn mùa xuân hạ thu đông, cũng là một phần
đặc sắc của thế giới này… Bình thường đâu phải là đáng xấu hổ. Chỉ cần có vai
trong cuộc sống là đã có vị trí thuộc về mình thực sự và bạn sáng lấp lánh từ vị trí
ấy của mình…
Mỗi chúng ta đều là một sự mới mẻ, độc nhất vô nhị. Nếu chúng ta muốn
độc lập tự chủ, muốn phát triển đặc điểm của mình thì chỉ có dựa vào chính bản
thân mình. Nhưng điều đó không có nghĩa chúng ta phải xây dựng những cái mới lạ
đặc biệt, cũng không có nghĩa là chúng ta ăn mặc quái dị, có những hành vi lạ lùng.
Thực ra chỉ cần chúng ta tuân thủ những quy định của tập thể với điều kiện là gìn
giữ cái tôi của mình, không tát nước theo mưa, không tranh thủ giậu đổ bìm leo thì
bạn sẽ vẫn chính là bản thân mình…
Việc gìn giữ bản sắc riêng cũng giống như lịch sử lâu đời của loài người.
Angelo Patrick, người đã viết mười ba cuốn sách và nhiều bài báo liên quan đến
việc dạy dỗ trẻ con, nói “Điều tồi tệ nhất của con người chính là không thể trở
thành chính mình và không giữ được cái tôi trong thể xác và tinh thần của mình”.
Mọi nghệ thuật đều là cách thể hiện cái tôi, vậy thì chúng ta phải hát về
mình, vẽ về mình, làm nên bản thân mình. Chỉ khi nào chúng ta chăm chút cho
mảnh đất nhỏ bé là cuộc sống của bản thân thì mới có thể thể hiện tốt vai trò của
mình trong cuộc đời.

(Theo Giáo dục thành công kiểu Harvard, Thuỷ Trung Ngư - Vương Nghệ Lộ - Đặng Chi,
NXB Lao động, 2018, tr. 310-314)

Trả lời các câu hỏi:
Câu 1. Văn bản trên bàn luận về vấn đề gì? (0,75 điểm)
Câu 2. Để làm rõ cho luận điểm: mỗi người đều là sự mới mẻ, độc nhất vô nhị, tác giả
đã sử dụng thao tác lập luận nào trong đoạn văn sau: Mỗi chúng ta đều là một sự mới
mẻ, độc nhất vô nhị. Nếu chúng ta muốn độc lập tự chủ, muốn phát triển đặc điểm
của mình thì chỉ có dựa vào chính bản thân mình. Nhưng điều đó không có nghĩa
chúng ta phải xây dựng những cái mới lạ đặc biệt, cũng không có nghĩa là chúng ta
ăn mặc quái dị, có những hành vi lạ lùng ? (0,75 điểm)
Câu 3. Nêu hiệu quả của phép lặp cấu trúc được sử dụng trong đoạn văn: Có lẽ bạn
muốn trở thành mặt trời nhưng bạn chỉ là một ngôi sao. Có lẽ bạn muốn thành cây
lớn nhưng bạn lại là một ngọn cỏ. Có lẽ bạn muốn trở thành một con sông lớn
nhưng bạn lại chỉ là một con suối nhỏ… (1,0 điểm)
Câu 4. Nhận xét về quan điểm của tác giả được thể hiện trong câu: Thực ra bạn
cũng giống như những người khác, bạn cũng là một phong cảnh đẹp, cũng có không
khí, cũng có bốn mùa xuân hạ thu đông, cũng là một phần đặc sắc của thế giới
này… (1,0 điểm)
Câu 5. Nhận định: Mọi nghệ thuật đều là cách thể hiện cái tôi, vậy thì chúng ta phải
hát về mình, vẽ về mình, làm nên bản thân mình trong đoạn trích gợi cho anh/chị suy
nghĩ gì? (1,0 điểm)
Câu 6. Anh/chị có đồng tình với quan điểm của Angelo Patrick: Điều tồi tệ nhất của

con người chính là không thể trở thành chính mình và không giữ được cái tôi trong
thể xác và tinh thần của mình không? (Trả lời bằng 6-7 câu) (1,5 điểm)
II. VIẾT (4,0 điểm)
Anh, chị hãy viết bài nghị luận (khoảng 600 chữ) về cách ứng xử có văn hóa
của thế hệ trẻ trên không gian mạng.
ĐỀ 03.

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
Có nhiều người hỏi rằng, lúc đó điều kiện kinh tế còn khó khăn nên tôi mới
phải cho con ăn đồ thừa hay mặc quần áo người ta không dùng nữa, còn bây giờ điều
kiện kinh tế đã khấm khá hơn, liệu có cần thiết phải dạy con biết tiết kiệm nữa hay
không?
Theo tôi là cần thiết. Ở Israel, dù điều kiện gia đình có thế nào đi chăng nữa,
các bậc phụ huynh vẫn luôn kiên trì quy tắc phải tiết kiệm, dạy con thói tiết kiệm ngay
từ nhỏ.
Xin kể ví dụ như sau: Khi chúng tôi vừa dọn đến Tel Aviv, hàng xóm phía đối
diện nhà tôi đến chơi, tôi đã chuẩn bị một chút hoa quả để tiếp đãi họ. Thằng bé con
nhà họ cầm miếng dưa hấu lên, cắn được hai miếng bỏ xuống bàn rồi với tay lấy một
quả dâu tây, ăn được một miếng thì cũng bỏ dở, đang định cầm thêm một miếng dưa
nữa lên thì bị bố nó nhìn thấy và nghiêm giọng nói: “Ăn nốt dưa hấu và dâu tây rồi
mới được ăn thứ khác". Thấy vậy, tôi cười nói: “Thằng bé muốn ăn gì thì cứ để nó ăn,
ở đây vẫn còn nhiều mà.”. Bố thằng bé lại nói: “Không được lãng phí, tiết kiệm không
có nghĩa là thiếu thốn, nghèo khổ. Đây là thói quen mà bọn trẻ phải được học từ khi
còn nhỏ.”. Tiếp đó, bố thằng bé kể cho nó nghe một câu chuyện: “Ngày xưa có một
người rất giàu có nhưng lại sống vô cùng tiết kiệm. Nhiều người nói với ông ta rằng:
“Ông giàu như vậy, tiền của ông có tiêu đến mấy đời cũng chẳng hết, tại sao lại phải
sống cuộc sống thanh đạm, giản dị? Làm như thế, người ta lại tưởng ông đang giả
nghèo, giả khổ.” Người đàn ông đó trả lời rằng: “Đúng là bây giờ thu nhập của tôi
rất cao, nhưng tôi không chắc là mình có được như thế này mãi mãi hay không. Nếu
để vợ con quen với cuộc sống xa hoa rồi thì sau này nếu tôi không còn tiền nữa, họ sẽ
rất khó thích ứng. Chi bằng để họ học được cách sống giản dị, tiết kiệm để sau này dù
không còn tiền, họ vẫn có thể sống một cách thoải mái, thanh thản.”. Con này, nếu sau
này nhà mình không có nhiều thứ để con có thể ăn như bây giờ, chẳng phải con sẽ rất
khó chịu sao? Ngay từ bây giờ, chúng ta cần phải học cách trân trọng mọi thứ mà
mình đang có. Trước khi ăn phải nghĩ xem mình có thể ăn bao nhiêu, ăn bao nhiêu thì
lấy bấy nhiêu, mà đã lấy rồi thì phải ăn cho hết...

(Trích Vô cùng tàn nhẫn vô cùng yêu thương, Sara Imas, NXB Dân trí, 2021, tr. 180-181)

Thực hiên các yêu cầu:
Câu 1. Xác định luận đề của văn bản. (0,75 điểm)
Câu 2. Chỉ ra đoạn văn có sử dụng thao tác nghị luận bình luận trong văn bản trên.
(0,75 điểm)
Câu 3. Nêu tác dụng của việc sử dụng hình thức câu hỏi tu từ trong trích đoạn sau:
Con này, nếu sau này nhà mình không có nhiều thứ để con có thể ăn như bây giờ,
chẳng phải con sẽ rất khó chịu sao? Ngay từ bây giờ, chúng ta cần phải học cách trân
trọng mọi thứ mà mình đang có. Trước khi ăn phải nghĩ xem mình có thể ăn bao nhiêu,
ăn bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu, mà đã lấy rồi thì phải ăn cho hết... (1,0 điểm)
Câu 4. Phân tích hệ thống lí lẽ và bằng chứng được tác giả sử dụng để chứng minh

cho quan điểm: Dù điều kiện gia đình có thế nào đi chăng nữa, các bậc phụ huynh vẫn
luôn kiên trì quy tắc phải tiết kiệm, dạy con thói tiết kiệm ngay từ nhỏ. (1,0 điểm)
Câu 5. Phân tích vai trò của cách lập luận được tác giả sử dụng trong văn bản. (1,0
điểm)
Câu 6. Anh/Chị có đồng tình với quan điểm: Không được lãng phí, tiết kiệm không có
nghĩa là thiếu thốn, nghèo khổ. Đây là thói quen mà bọn trẻ phải được học từ khi còn
nhỏ không? (Trả lời bằng 6-7 câu) (1,5 điểm)
II. VIẾT (4,0 điểm)
Trong những thời điểm khó khăn, niềm tin vào bản thân có thể là yếu tố giúp
chúng ta vượt qua và tiếp tục tiến về phía trước.
Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày
suy nghĩ về vai trò của niềm tin vào bản thân trong quá trình trưởng thành và phát triển.
-----------HẾT----------
 
Gửi ý kiến