Violet
Dethi

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra

7.3. Tiếng Việt Lớp 7

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Nga
Ngày gửi: 21h:44' 23-11-2024
Dung lượng: 132.9 KB
Số lượt tải: 79
Số lượt thích: 0 người
MỤC LỤC
BÀI 1: BẦU TRỜI TUỔI THƠ
- Tiếng Việt: Mở rộng trạng ngữ của câu bằng cụm từ.
BÀI 2: KHÚC NHẠC TÂM HỒN
- Tiếng Việt Biện pháp tu từ nói giảm nói tránh
BÀI 3: CỘI NGUỒN YÊU THƯƠNG
- Tiếng Việt Sử dụng số từ và phó từ
BÀI 4: GIAI ĐIỆU ĐẤT NƯỚC
- Thực hành tiếng Việt: Ngữ cảnh và nghĩa của từ ngữ trong ngữ cảnh.
BÀI 5: MÀU SẮC TRĂM MIỀN
- Thực hành tiếng Việt Từ ngữ địa phương

BÀI 1: BẦU TRỜI TUỔI THƠ
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT: MỞ RỘNG TRẠNG NGỮ
CỦA CÂU BẰNG CỤM TỪ
I. Lí thuyết
1. Để làm rõ thêm hoàn cảnh thời gian, không gian, nguyên nhân, mục đích, phương tiện, cách
thức của sự việc được diễn ra bằng cụm C-V trong câu, người ta thêm trạng ngữ cho câu.
- Thêm trạng ngữ là một cách mở rộng câu thường thấy.
2. Trạng ngữ có thể được thêm vào đầu câu, giữa câu hoặc cuối câu. Ranh giới giữa trạng ngữ
với chủ ngữ, vị ngữ trong câu thường đánh dấu bằng dấu phẩy khi viết và một quãng nghỉ ngắn
khi nói.
(1) Trạng ngữ đứng đầu câu: Từ sáng đến tối, nó chỉ nhởn nhơ rong chơi.
(Nguyên Hồng)
(2) Trạng ngữ đứng giữa câu: Nó, từ sáng đến tối, chỉ nhởn nhơ rong chơi.
(3) Trạng ngữ đứng cuối câu: Nó chỉ nhởn nhơ rong chơi, từ sáng đến tối.
3. Để làm sáng tỏ hoàn cảnh cho sự việc được nói đến trong câu, có thể thêm nhiều trạng ngữ.
Ví dụ:
Ngoài sân, trong giờ ra chơi, ở nhà đa năng, các bạn lớp em chơi đá cầu cùng với các bạn lớp
bên.
4. Trạng ngữ, tuy là thành phần phụ của câu, nhưng có tác dụng bổ sung ý nghĩa cho sự việc
được nói đến trong câu và có giá trị thông tin nhất định. Do đó, nhiều trường hợp, trạng ngữ
không thể vắng mặt.
Ví dụ:
1

(1) Hôm nào, lớp con đi lao động?
- Chiều mai, vào lúc 4h, lớp con đi lao động, mẹ ạ.
=> Trạng ngữ chỉ thời gian
(2) Ven rừng, rải rác những cây lim đã trổ hoa vàng, những cây vải thiều đã đỏ ối những quả.
=> Trạng ngữ chỉ nơi chốn.
5. Trạng ngữ có tác dụng thể hiện không gian, thời gian của sự việc được nói đến trong đoạn
văn bản. Nhờ trạng ngữ, các câu, các đoạn mới trở nên liên kết với nhau, có tính mạch lạc.
Ví dụ:
Buổi chiều hôm ấy, không khí nặng nề như ngâm hơi nước. Trời tối sẫm. Những đám mây đen
trông gần ta hơn. Gió trước còn hiu hiu mát mẻ, sau bỗng ào ào kéo đến như tiếng thác chảy
nghe tận đằng xa.
Đến nửa đêm, bốn phương trời đều như có gió nổi lên hợp thành một luồng mạnh ghê gớm.
Thỉnh thoảng luồng gió đông nam gặp luồng tây bắc quay cuồng vật lộn như giận dũm như hò
reo, một lúc lại tan ra như mưa đang to bỗng tạnh. Gió lại im như trốn đâu mất. Rồi đột nhiên
lại kéo đến rất mau, chốc chốc lại rít lên những tiếng ghê sợ trên các ngọn cây. Vạn vật đều
như sụp đổ dưới cơn bão loạn cuồng.
Mãi đến sáng hôm sau, bão mới ngớt.
(Hàn Thế Du)
- Nhờ các trạng ngữ chỉ thời gian trong đoạn văn trên mà các sự kiện được liên kết với nhau
theo một trình tự xác định.
6. Để nhấn mạnh ý, chuyển ý, bộc lộ cảm xúc….ta có thể tách trạng ngữ, đặc biệt là trạng ngữ
đứng cuối câu, thành những câu riêng.
- Hiện tượng tách các bộ phận của câu thành câu riêng không phải chỉ xảy ra với trạng ngữ mà
xảy ra với cả các thành phần khác của câu.
Ví dụ:
Nói xong, anh ta vừng đứng lên, giơ tay chào mọi người rồi đi ra cửa. Mọi người nhìn theo anh
ta. Im lặng.
(Nguyễn Thị Ngọc Tú)
- “Im lặng” được tách ra là thành phần vị ngữ của câu cùng loại với nhìn theo: Mọi người nhìn
theo, im lặng.
- Hiện tượng tách thành câu riêng này có giá trị tu từ nghệ thuật rất phong phú:
a. Dùng để nhấn mạnh, cụ thể hóa nội dung của câu:
Dung là cô gái rượu bà béo chủ quán. Chẳng đẹp gì nhưng cũng mũm mĩm và trắng trẻo. Mà
lại là một. Mà lại diện. Có diện nhất vùng này.
(Nam Cao)
b. Đặc tả trạng thái tâm lí, cảm xúc:
Đôi mắt ấy nhìn tôi, ngập ngừng nhiều lần. Lặng im nhiều lần. Rồi mới hỏi.
(Nguyễn Thị Ngọc Tú)
c. Tạo nhịp điệu cho câu văn:
Huống hồ giá nào cho xứng cái mà cuốn sách chứa đựng, gợi mở. Một tư tưởng khai sáng.
Một kiến thức nền tảng. Một cách gọi tên sự vật. Một rung cảm thần tiên. Một phút giây suy
tưởng. Một mơ mộng. Một bâng khuâng, một bảng lảng, một khoái cảm được biểu hiện năng
lực người của mình.
2

(Ma Văn Kháng)
3. Cách mở rộng trạng ngữ và tác dụng của việc mở rộng trạng ngữ
- Việc mở rộng thành phần chính của câu (chủ ngữ, vị ngữ) bằng cụm chủ vị thường được thực
hiện bằng một trong hai cách:
- Dùng cụm chủ vị bổ sung cho từ làm chủ ngữ hoặc vị ngữ
- Dùng cụm chủ vị trực tiếp cấu tạo chủ ngữ hoặc vị ngữ.
+ Cụm chính phụ là cụm từ gồm một thành tố chính và một hay nhiều thành tố phụ ở trước và
sau thành tố chính. Cụm từ chính phụ gồm: Cụm danh từ, Cụm động từ và Cụm tính từ .
II. Xác định thành phần chính của câu
a. Khái niệm thành phần chính:
- Thành phần chính của câu là thành phần bắt buộc phải có để câu có cấu
trúc hoàn chỉnh và diễn đạt được ý trọn vẹn.
- Trong câu có hai thành phần chính đó là chủ ngữ và vị ngữ:
Chủ ngữ của câu:
+ Là bộ phận chính của câu kể tên sự vật, hiện tượng có hoạt động, tính
chất, trạng thái, được miêu tả ở vị ngữ v.v .. Chủ ngữ thường trả lời các câu
hỏi: Ai ? Cái gì ? Con gì? Tài liệu của Nhung tây
+ Chủ ngữ thường là danh từ, đại từ hoặc cụm danh từ. Trong một số trường
cụ thể thì động từ, tính từ hoặc cụm động từ, cụm tính từ cũng có thể làm
chủ ngữ.
Câu có thể có một hoặc nhiều chủ ngữ.
Ví dụ: Anh trai ấy hát rất hay. Hôm nay, lớp chúng mình sẽ đi xem phim. Bà
tôi có mái tóc bạc phê. Mẹ Lan là người quan tâm mình nhiều nhất.
Vị ngữ của câu:
+ Là bộ phận chính của câu có thể kết hợp với các trạng ngữ chỉ quan hệ
thời gian và trả lời các câu hỏi:Làm gì? Làm thế nào, cái gì, nó là gì?
+ Vị ngữ thường là một động từ hoặc một động từ, một tính từ hoặc một
cụm tính từ, một danh từ hoặc một cụm danh từ. Trong câu có thể có một
hay nhiều vị ngữ.
b. Cấu tạo thành phần chính:
- Câu có CN làm CDT:
a. Con mèo đen kia/ đã làm đổ lọ hoa.
b. Những em học sinh/ đang say sưa học bài.
- Câu có VN làm CĐT:
c. Các bạn học sinh/ đang hăng hái tiến về lễ đài.
d. Dòng sông/ uốn lượn bao bọc làng quê.
- Câu có VN làm CTT:
e. Cô bé/ rất đáng yêu.
g. Bức tranh/ tuyệt đẹp.
c. Rút gọn thành phần chính:
3. Rút gọn:
a. Con mèo/ đã làm đổ lọ hoa.
3

b. Học sinh/ đang say sưa học bài.
- Câu có VN làm CĐT:
c. Các bạn học sinh/ tiến về.
d. Dòng sông/ uốn lượn.
- Câu có VN làm CTT:
e. Cô bé/ đáng yêu.
g. Bức tranh/ đẹp.
*Khi rút gọn thì thành phần câu chỉ còn là một từ, thông tin chứa đựng không phong phú.
II. CÁC DẠNG BÀI TẬP
Bài 1: (SGK) Xác định trạng ngữ trong các câu sau:
a. Khoảng hai giờ sáng Mon tỉnh giấc.
b. Suốt từ chiều hôm qua, nước bắt đầu dâng lên nhanh hơn.
Hãy thử rút gọn trạng ngữ trong mỗi câu và nhận xét về sự thay đổi nghĩa của câu sau khi rút
gọn thành phần trạng ngữ.
Gợi ý trả lời

Trạng ngữ
Rút gọn trạng
Câu đã rút gọn trạng ngữ
u
ngữ
a

Khoảng
sáng

hai

giờ - Hai giờ sáng
- Sáng

b

Suốt từ chiều hôm - Từ chiều hôm
qua
qua
- Chiều hôm qua
- Hôm qua

- Hai giờ sáng Mon tỉnh giấc.
- Sáng, Mon tỉnh giấc.

- Từ chiều hôm qua, nước bắt đầu dâng lên
nhanh hơn.
- Chiều hôm qua, nước bắt đầu dâng lên
nhanh hơn.
- Hôm qua, nước bắt đầu dâng lên nhanh
hơn.
- Nhận xét: Khi rút gọn trạng ngữ trong mỗi câu, ý nghĩa của câu không thay đổi nhưng thông
tin cụ thể về về thời gian đã bị mất đi.
Bài 2: (SGK)
So sánh các câu trong từng cặp câu dưới đây và nhận xét về tác dụng của việc mở rộng trạng
ngữ của câu bằng cụm từ:
a. - Trong gian phòng, những bức tranh của thí sinh treo kín bốn bức tường.
- Trong gian phòng lớn tràn ngập ánh sáng, những bức tranh của thí sinh treo kín bốn bức
tường.
(Tạ Duy Anh, Bức tranh của em gái tôi)
b. - Thế mà qua một đêm, trời bỗng đổi gió bấc, rồi cái lạnh ở đâu đến làm cho người ta tưởng
đang ở giữa mùa đông rét mướt.
- Thế mà qua một đêm mưa rào, trời bỗng đổi gió bấc, rồi cái lạnh ở đâu đến làm cho người ta
tưởng đang ở giữa mùa đông rét mướt.
(Thạch Lam, Gió lạnh đầu mùa)
c. - Trên nóc một lô cốt, người phụ nữ trẻ đang phơi thóc.
- Trên nóc một lô cốt cũ kề bên một xóm nhỏ, người phụ nữ trẻ đang phơi thóc.
4

(Trần Hoài Dương, Miền xanh thẳm)

Gợi ý trả lời
a. Câu (2) có trạng ngữ được mở rộng hơn câu (1), giúp miêu tả không gian của nơi chốn được
dùng làm trạng ngữ: gian phòng lớn tràn ngập ánh sáng.
b. Câu (2) có trạng ngữ được mở rộng hơn câu (1), giúp cung cấp thông tin về sự việc (mưa
rào) đã xảy ra trong đêm hôm trước.
c. Câu (2) có trạng ngữ được mở rộng hơn câu (1), giúp cụ thể hóa nơi chốn được dùng làm
trạng ngữ.

Bài 3. Tìm trạng ngữ trong các câu dưới đây và cho biết tác dụng của chúng?
1. Tảng sáng, vòm trời cao xanh mênh mông. Gió từ trên đỉnh núi tràn xuống thung lũng mát
rượu. Khoảng trời sau dãy núi phía đông ửng đỏ. Những tia nắng đầu tiên hắt chéo qua thung
lũng, trải lên đỉnh núi phía tây những vệt sáng màu lá mạ tươi tắn…Ven rừng, rải rác những cây
lim đã trổ hoa vàng, những cây vải thiều đã đỏ ối những quả.
(Hoàng Hữu Bội)
2. Có lẽ tiếng Việt của chúng ta đẹp bởi vì tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp, bởi vì đời
sống, cuộc đấu tranh của nhân dân ta từ trước tới nay là cao quý, là vĩ đại, nghĩa là rất đẹp.
(Phạm Văn Đồng)
3. Vì chuôm cho cá bén đăng
Vì chàng thiếp phải đi trăng về mò
(Ca dao)
4. Đánh “xoảng” một cái, cái bát ở mâm Lí cựu bay thẳng sang mâm Lí đương và đánh “chát”
một cái, cái chậu ở chiếu Lí đương cũng đập luôn vào cây cột bên cạnh Lí cựu.
(Ngô Tất Tố)
5. Sọ Dừa chăn bò rất giỏi. Hằng ngày, cậu lăn sau đàn bò ra đồng, tối đến lại lăn sau đàn bò về
chuồng. bò con nào con nấy bụng no căng. Phú ông mừng lắm.
Ngày mùa, tôi tớ ra đồng làm cả, phú ông có ba cô con gái thay phiên nhau đưa cơm cho Sọ
Dừa.
(Sọ Dừa)
6. Anh không ngờ đời Hạnh tiếp sau đó cho đến ngày lấy chồng đã phải lưu lạc khắp nơi…Bây
giờ Hạnh là bác sĩ và con cái đã lớn.
(Nguyễn Minh Châu)
7. Y nhớ một lần y ở Hà Nội về quê. Hồi ấy, vợ chồng ý mới ăn riêng
(Nam Cao)
8. Dưới gầm trời này, tôi lo gì không thừa chiếc giường hẹp để tôi lăn kềnh tấm thân thước rưỡi.
Tài liệu của Nhung tây
(Nguyễn Công Hoan)
9. Ngoài miền Bắc, Thăng nghĩ, chắc là gia đình Phật đã biết Phật gặp Thăng và yêu Thăng.
(Nguyễn Minh Châu)
10. Dưới vành khăn xếp nhiễu tây, cái mặt phèn phẹt như rơi xuống sân đình đánh “huỵch”.
(Ngô Tất Tố)
11. Đó là cái cổng nhà Lợi. Phía trên lối ra vào, nó xây thêm một tầng nữa.
(Lê Lựu)
5

12. Suốt dọc đường, từ ngoài cánh đồng trở về, cô bé và con mèo chỉ đối thoại bằng mấy tiếng
đơn giản.
(Nguyễn Minh Châu)
13. Giữa sống và chết, người lính không có gì ngoài tình yêu thương đùm bọc của người xung
quanh.
14. Qua hàng nước mắm, tôi nhìn theo mẹ và em trèo lên xe.
(Khánh Hoài)
15. Trong tấm áo dài màu thiên thanh từ ngày may chưa bao giờ xỏ tay, bà mẹ trẻ đẹp đến nỗi
chính ông Phán cũng phải lấy làm ngạc nhiên.
(Nguyễn Minh Châu)
16. Chưa nghe hết câu, tôi đã hếch răng lên, xì một hơi rõ dài.
(Tô Hoài)
17. Từng nhát một, cối giã gạo nổi lên tiếng ken két thong thả.
(Nguyễn Công Hoan)
18. Theo ánh sáng lấp lánh của các ao ruộng, chị Dậu lần đường đi đến nhà hàng cơm ban trưa,
định trú chân đến sáng.
(Ngô Tất Tố)
19. Còn tôi, chỉ vì hai đồng bạc mà phải tuyệt giao với một người yêu.
(Nguyễn Công Hoan)
20. Để có thể sớm trở về cơ quan tiếp tục làm việc, tôi cũng phải tự chữa bệnh cho tôi.
(Nguyễn Minh Châu)
GỢI Ý ĐÁP ÁN
Bài 3. Trạng ngữ được in đậm.
1. Tảng sáng, vòm trời cao xanh mênh mông. Gió từ trên đỉnh núi tràn xuống thung lũng mát
rượu. Khoảng trời sau dãy núi phía đông ửng đỏ. Những tia nắng đầu tiên hắt chéo qua thung
lũng, trải lên đỉnh núi phía tây những vệt sáng màu lá mạ tươi tắn…Ven rừng, rải rác những
cây lim đã trổ hoa vàng, những cây vải thiều đã đỏ ối những quả.
(Tác dụng chỉ thời gian và nơi chốn)
2. Có lẽ tiếng Việt của chúng ta đẹp bởi vì tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp, bởi vì
đời sống, cuộc đấu tranh của nhân dân ta từ trước tới nay là cao quý, là vĩ đại, nghĩa là
rất đẹp.
(Tác dụng trạng ngữ chỉ nguyên nhân, giải thích)
3. Vì chuôm cho cá bén đăng
Vì chàng thiếp phải đi trăng về mò
(Tác dụng trạng ngữ chỉ nguyên nhân, giải thích)
4. Đánh “xoảng” một cái, cái bát ở mâm Lí cựu bay thẳng sang mâm Lí đương và đánh
“chát” một cái, cái chậu ở chiếu Lí đương cũng đập luôn vào cây cột bên cạnh Lí cựu.
(Trạng ngữ chỉ cách thức)
5. Sọ Dừa chăn bò rất giỏi. Hằng ngày, cậu lăn sau đàn bò ra đồng, tối đến lại lăn sau đàn bò
về chuồng. bò con nào con nấy bụng no căng. Phú ông mừng lắm.
Ngày mùa, tôi tớ ra đồng làm cả, phú ông có ba cô con gái thay phiên nhau đưa cơm cho Sọ
Dừa.
(Trạng ngữ chỉ thời gian)
6

6. Anh không ngờ đời Hạnh tiếp sau đó cho đến ngày lấy chồng đã phải lưu lạc khắp nơi…Bây
giờ Hạnh là bác sĩ và con cái đã lớn.
(Trạng ngữ chỉ thời gian)
7. Y nhớ một lần y ở Hà Nội về quê. Hồi ấy, vợ chồng ý mới ăn riêng
(Trạng ngữ chỉ thời gian)
8. Dưới gầm trời này, tôi lo gì không thừa chiếc giường hẹp để tôi lăn kềnh tấm thân thước
rưỡi.
(Trạng ngữ chỉ không gian)
9. Ngoài miền Bắc, Thăng nghĩ, chắc là gia đình Phật đã biết Phật gặp Thăng và yêu Thăng.
(Trạng ngữ chỉ không gian rộng)
10. Dưới vành khăn xếp nhiễu tây, cái mặt phèn phẹt như rơi xuống sân đình đánh “huỵch”.
(Trạng ngữ chỉ không gian)
11. Đó là cái cổng nhà Lợi. Phía trên lối ra vào, nó xây thêm một tầng nữa.
(Trạng ngữ chỉ không gian)
12. Suốt dọc đường, từ ngoài cánh đồng trở về, cô bé và con mèo chỉ đối thoại bằng mấy
tiếng đơn giản.
(Trạng ngữ chỉ không gian)
13. Giữa sống và chết, người lính không có gì ngoài tình yêu thương đùm bọc của người xung
quanh. (Trạng ngữ nêu ra một tình huống giả định)
14. Qua hàng nước mắm, tôi nhìn theo mẹ và em trèo lên xe.
(Trạng ngữ chỉ tình huống)
15. Trong tấm áo dài màu thiên thanh từ ngày may chưa bao giờ xỏ tay, bà mẹ trẻ đẹp đến
nỗi chính ông Phán cũng phải lấy làm ngạc nhiên.
(Trạng ngữ chỉ tình huống)
16. Chưa nghe hết câu, tôi đã hếch răng lên, xì một hơi rõ dài.
(Trạng ngữ chỉ tình huống)
17. Từng nhát một, cối giã gạo nổi lên tiếng ken két thong thả.
(Trạng ngữ chỉ cách thức)
18. Theo ánh sáng lấp lánh của các ao ruộng, chị Dậu lần đường đi đến nhà hàng cơm ban
trưa, định trú chân đến sáng.
(Trạng ngữ chỉ cách thức)
19. Còn tôi, chỉ vì hai đồng bạc mà phải tuyệt giao với một người yêu.
(Trạng ngữ chỉ nguyên nhân)
20. Để có thể sớm trở về cơ quan tiếp tục làm việc, tôi cũng phải tự chữa bệnh cho tôi.
(Trạng ngữ chỉ mục đích)
Bài 4. Biến đổi từng câu sau thành một câu có trạng ngữ:
Mẫu: Hôm ấy là chủ nhật. Lớp tôi đi tham quan.
=> Hôm chủ nhật, lớp tôi đi tham quan.
1. Mặt biển bao la rực rỡ ánh vàng buổi sớm. Những chiếc thuyền đánh cá nhòe dần trong muôn
ngàn tia phản chiếu chói chang.
2. Đêm đã về khuya. Không gian trở nên yên tĩnh.
3. Con đường này dẫn tới biển. Buổi sáng, từng tốp người đi ra biển tắm sớm.
7

4. Trời nhá nhem tối. Những người bán hàng thu dọn, sửa soạn về nhà.
GỢI Ý ĐÁP ÁN
Bài 4.
1. Trên mặt biển bao la rực rỡ ánh vàng buổi sớm, những chiếc thuyền đánh cá nhòe dần trong
muôn ngàn tia phản chiếu chói chang.
2. Trong đêm khuya, không gian trở nên yên tĩnh.
3. Trên con đường dẫn tới bờ biển, buổi sáng, từng tốp người đi ra biển tắm sớm.
4. Vào lúc trời nhá nhem tối, những người bán hàng thu dọn, sửa soạn về nhà.
Bài 5. Điền trạng ngữ thích hợp vào chỗ chấm:
1. /…/ trời mưa tầm tã, /…/ trời lại nắng chang chang.
2. /…/ cây cối đâm chồi nảy lộc.
3. /…/ tôi gặp một người lạ mặt hỏi đường đi chợ huyện.
4. /…/ họ chạy về phía có đám cháy.
5. /…/ em làm sai mất bài toán cuối.
GỢI Ý ĐÁP ÁN
Bài 5. Tham khảo một vài câu sau:
1. Buổi sáng, trời mưa tầm tã, tới trưa, trời lại nắng chang chang.
2. Mùa xuân, cây cối đâm chồi nảy lộc.
3. Trong quán nước, tôi gặp một người lạ mặt hỏi đường đi chợ huyện.
4. Hiếu kì, họ chạy về phía có đám cháy.
5. Trong bài kiểm tra vừa rồi, em làm sai mất bài toán cuối.
Bài 6. Tìm các trạng ngữ trong câu sau và cho biết có thể lược bỏ chúng đi được không?
Tại sao?
1. Mùa đông, giữa ngày mùa, làng quê toàn màu vàng – những màu vàng rất khác nhau.
(Tô Hoài)
2. - Hôm qua, ai trực nhật?
- Thưa cô, hôm qua, em trực nhật ạ.
3. Chiều chiều, khi mặt trời gần lặn, chú tôi lại đánh một hồi mõ rồi tung thóc ra sân.
GỢI Ý TRẢ LỜI
Bài 6. Các trạng ngữ được in đậm như sau:
1. Mùa đông, giữa ngày mùa, làng quê toàn màu vàng – những màu vàng rất khác nhau.
2. – Hôm qua, ai trực nhật?
- Thưa cô, hôm qua, em trực nhật ạ.
3. Chiều chiều, khi mặt trời gần lặn, chú tôi lại đánh một hồi mõ rồi tung thóc ra sân.
=> Trạng ngữ tuy là thành phần phụ, nhưng có tác dụng bổ sung ý nghĩa cho sự việc được nói
đến trong câu và có giá trị thông tin nhất định. Do đó, nhiều trường hợp không thể bỏ trạng ngữ
đi được. Trong các câu trên, duy chỉ có câu “Thưa cô, hôm qua, em trực nhật ạ.” là có thể lược
bỏ trạng ngữ, vì ý nghĩa về thời gian đã được cả người nói và người nghe biết trước.
Bài 7. Tìm các trạng ngữ được tách thành các câu riêng trong các đoạn trích sau và cho
biết giá trị của chúng.
8

a. Những người Pháp muốn thật thà cộng tác với ta thì ta thật thà cộng tác với họ, ích lợi cho cả
đôi bên. Để cho thế giới biết rằng ta là một dân tộc văn minh. Để cho người Pháp ủng hộ ta
càng thêm đông, sức ủng hộ càng thêm mạnh. Để cho những kẻ khiêu khích muốn chia rẽ
không có thể và không có cơ sở mà chia rẽ. Để cho công cuộc thống nhất và độc lập của chúng
ta chóng thành công.
(Hồ Chí Minh)
b. Dự định mà còn biết bao ngập ngừng, cả cô Quyên và bà tôi đều im lặng, nghĩ đến các trắc
trở ngoài sức cố gắng của mình. Cho đến lúc ngoài sân nhà cô Đại Bàng có hai đứa con gái. Đó
là Vàng Anh và con Vành khuyên.
(Ma Văn Kháng)
c. Hoa cúc, có hay là không có?
Trong đầm lầy tuổi nhỏ của ta xưa.
(Xuân Quỳnh)
GỢI Ý TRẢ LỜI
Bài 7. Các trạng ngữ được tách thành câu riêng như sau:
a. Để cho thế giới biết rằng ta là một dân tộc văn minh. Để cho người Pháp ủng hộ ta càng thêm
đông, sức ủng hộ càng thêm mạnh. Để cho những kẻ khiêu khích muốn chia rẽ không có thể và
không có cơ sở mà chia rẽ. Để cho công cuộc thống nhất và độc lập của chúng ta chóng thành
công.
(Tác dụng liên kết và chỉ ý nghĩa mục đích của việc ta cộng tác với người Pháp)
b. Cho đến lúc ngoài sân nhà cô Đại Bàng có hai đứa con gái. (Tác dụng liên kết và có ý nghĩa
chỉ thời gian)
c. Trong đầm lầy tuổi nhỏ của ta xưa. (tác dụng chỉ nơi chốn, không gian)
Bài 8. Viết đoạn văn ngắn (từ 10 đến 15 câu) có ít nhất một câu có trạng ngữ. Chỉ ra các
trạng ngữ trong đoạn văn và cho biết chúng bổ sung ý nghĩa gì cho câu?
Bài 9. Viết đoạn văn ngắn (từ 10 đến 15 câu) có sử dụng trạng ngữ dùng để liên kết các câu
trong đoạn.
Bài 8 và 9: HS tự luyện tập viết đoạn văn theo yêu cầu
Bài 10:
Chỉ ra những trường hợp tách trạng ngữ thành câu riền trong các chuỗi câu dưới đây. Nêu tác
dụng của những câu do trạng ngữ tạo thành
a) Bố cháu đã hi sinh. Năm 72.
(Theo báo Văn nghệ)
b) Bốn người lính đều cúi đầu, tóc xoã gối. Trong lúc tiếng đờn vẫn khắc khoải vẳng lên những
chữ đờn li biệt, bồn chồn.
(Anh Đức)
Gợi ý:
Câu a:
- Trạng ngữ: Năm 72.
- Tác dụng: nhấn mạnh đến thời điểm hi sinh của nhân vật được nói đến trong câu đứng trước.
Câu b:
9

- Trạng ngữ: Trong lúc tiếng đờn vẫn khắc khoải vẳng lên những chữ dờn li biệt, bồn chồn.
- Tác dụng: làm nổi bật thông tin ở nòng cổt câu; nhấn mạnh sự tương đồng của thông tin mà
trạng ngữ biểu thị, so với thông tin ở nòng cốt câu.
Bài 11: Viết đoạn văn có sử dụng câu đăc biệt , câu rút gọn và câu có thành phần trạng ngữ
Gợi ý:
Mùa đông, gió mùa đông bắc tràn về cùng với cái lạnh khắc nghiệt và đường phố cũng vắng vẻ
hơn thường lệ. Buổi sáng, mặt trời lười biếng vẫn còn đang ngủ, không chịu dậy để ban phát
những tia nắng ấm áp cho cỏ cây hoa lá. Lạnh! Ra đường, cụ già, trẻ em và cả các thanh niên
sung sốc... tất cả đều mặc những chiếc áo len, áo khoác dày, quàng khăn, đội mũ sùm sụp để có
thể làm giảm đi cái rét cắt da cắt thịt. Hai hàng bàng ven đường đã trút bỏ bộ cánh già cỗi từ
lâu, chỉ còn trơ lại những chiếc cành khẳng khiu nhẫn nại chịu đựng giá rét. Tài liệu của Nhung
tây Bên đường, hàng phở tấp nập người ra vào, cô bán hàng làm luôn tay, nào lấy bánh, nào
chan nước... Nụ cười tươi tắn vì bán hàng chạy, các bát phở nóng hổi bốc hơi nghi ngút
chờ đợi mọi người thưởng thức. Dường như họ đã tạm quên đi cái lạnh giá của mùa đông.
- Câu đặc biêt: Lạnh!
- Câu rút gọn:  Nụ cười tươi tắn vì bán hàng chạy, các bát phở nóng hổi bốc hơi nghi ngút chờ
đợi mọi người thưởng thức.
- Trạng từ: buổi sáng
Bài 12:
 Mỗi câu trong từng cặp câu dưới đây trình bày một ý riêng. Hãy gộp các câu cùng cặp thành
một câu có cụm C – V làm thành phần câu hoặc thành phần cụm từ mà không thay đổi nghĩa
chính của chúng.
a) Chúng em học giỏi. Cha mẹ và thầy cô rất vui lòng.
b) Nhà văn Hoài Thanh khẳng định: “Cái đẹp là có ích”.
c) Tiếng việt rất giàu thanh điệu. Điều đó khiến lời nói của người Việt nam ta du dương, trầm
bổng như một bản nhạc.
d) Cách mạng tháng Tám thành công. Từ đó, tiếng Việt có một bước phát triển mới, một số
phận mới.
Gợi ý:
- Câu a: Thêm động từ
Chúng em học giỏi làm cha mẹ và thầy cô rất vui lòng.
- Câu b: Dùng lời dẫn trực tiếp làm phụ ngữ cho động từ khẳng định
Nhà văn Hoài Thanh khẳng định rằng cái đẹp là cái có ích.
- Câu c: bỏ cụm từ điều đó
Tiếng Việt rất giàu thanh điệu khiến lời nói của người Việt Nam ta du dương, trầm bổng như
một bản nhạc.
- Câu d: thay thế cụm từ từ đó bằng một cụm động từ hoặc têm cụm danh từ đầu câu
Từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, tiếng Việt có một bước phát triển mới, số phận mới.

BÀI 2: KHÚC NHẠC TÂM HỒN
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT: BIỆN PHÁP TU TỪ NÓI GIẢM NÓI TRÁNH
10

I. LÍ THUYẾT
1. Khái niệm
- Tên gọi khác: khiêm dụ, nói nhún.
- Nói giảm là phép tu từ dùng cách nói giảm nhẹ mức độ hoặc tính chất của sự vật, hiện tượng
để tránh gây ấn tượng không hay đối với người nghe hoặc để thể hiện sự khiêm tốn, nhún
nhường. Ví dụ:
Rộng thương cỏ nội hoa hèn
Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
=> Đây là lời Thuý Kiều nói với Từ Hải tự ví thân phận mình thấp kém, trôi nổi như cỏ nội hoa
hèn, như bèo bọt rày đây mai đó.
- Nói giảm là phép tu từ ngược lại với khoa trương.
2. Cấu tạo
- Nói giảm thường được cấu tạo dựa trên ẩn dụ.
- Thường được thực hiện bằng các cách sau:
a. Sử dụng hiện tượng chuyển nghĩa thông qua các hình thức ẩn dụ hoặc hoán dụ. Ví dụ:
- Bác đã đi rồi sao Bác ơi
- Bác đã lên đường theo tổ tiên.
(Tố Hữu)
b. Sử dụng các từ đồng nghĩa Hán Việt. Ví dụ:
- Chết: từ trần, tạ thế, hy sinh…
- Chôn xác: an tang, mai tang…
c. Phủ định từ trái nghĩa. Ví dụ:
- Xấu: chưa đẹp, không được đẹp cho lắm…
d. Tỉnh lược. Ví dụ:
Lão làm bộ đấy! Thật ra lão chỉ tẩm ngẩm thế, nhưng cũng ra phết chứ chả vừa đâu: lão vừa
xin tôi một ít bả chó.
(Nam Cao)
II. CÁC DẠNG BÀI TẬP
Bài 1: Tìm biện pháp nói giảm nói tránh trong các câu sau?
1. Bà lão láng giềng lại lật đật chạy sang:
- Bác trai đã khá rồi chứ?
(Ngô Tất Tố)
2. Nó (Rùa Vàng) đứng nổi trên mặt nước và nói: “Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân”.
(Sự tích Hồ Gươm)
3. Rộng thương cỏ nội hoa hèn
Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
4. Bác đã đi rồi sao Bác ơi
(Tố Hữu)
5. Lão làm bộ đấy! Thật ra lão chỉ tẩm ngẩm thế, nhưng cũng ra phết chứ chả vừa đâu: lão vừa
xin tôi một ít bả chó.
(Nam Cao)
11

6.

Thân lươn bao quản lấm đầu
Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
7. Con gái của anh vóc dáng cũng dễ nhìn đó chứ.
(Khẩu ngữ)
8. Bác Dương thôi đã thôi rồi
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta…
(Nguyễn Khuyến)
9. Bác đã lên đường theo tổ thiên
Mác – Lênin, thế giới người hiền.
(Tố Hữu)
10. Bỗng lòe chớp đỏ,
Thôi rồi, Lượm ơi!
Chú đồng chí nhỏ,
Một dòng máu tươi!
(Tố Hữu)
11. Kiếp hồng nhan có mong manh
Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
12. Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
(Quang Dũng)
13. Người nằm dưới đất ai ai đó,
Giang hồ mê chơi quên quê hương.
(Tản Đà)
14. Cậu vàng đi đời rồi ông giáo ạ!
15. Nhưng nói ra làm gì nữa! Lão Hạc ơi! Lão hãy yên lòng mà nhắm mắt! lão đừng lo gì cho
cái vườn của lão. Tôi sẽ cố giữ gìn cho lão.
(Nam Cao)
16. Khuya rồi, mời ông bà đi nghỉ ạ.
17. Cháu bé đã bớt đi ngoài chưa bác?
18. Cậu để kiểu tóc này tớ nhìn chưa ưng ý lắm.
19. Ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào
kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.
(Nguyễn Tuân)
20. Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên
Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
(Nguyễn Du)
12

21. Vì vậy, tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê-nin và các vị cách
mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi
cảm thấy đột ngột.
(Hồ Chí Minh, Di chúc)
22. Lượng con ông Độ đây mà…Rõ tội nghiệp, về đến nhà thì bố mẹ chẳng còn.
(Hồ Phương, Thư nhà)
23. Bài thơ anh viết về ý tứ, hình ảnh thì được, nhưng tình cảm còn chưa đủ sâu.
24. Nói năng như thế là có phần chưa được thiện chí lắm.
Bài 2. Gạch dưới những từ ngữ thể hiện phép nói giảm:
Nhưng thần trộm nghĩ, làm cho dân được lợi thì không gì quan trọng hơn nghề nông; mở
mang dân trí thì không gì lớn hơn việc giáo hóa. Lại không thể nói công thương không đủ để
hưng lợi và mở mang trí tuệ! Thần trộm cho rằng: “Công” tất phải học máy móc, việc chế tạo
do đó mới có thể phát triển, “Thương” thì hàng hoá xuất nhập khẩu phải được thông suốt, có
thế việc buôn bán mới được mở mang. Thần trộm thấy về công nghệ nước ta, thì nghề thủ công
chưa được khéo, việc buôn bán thì hàng hóa xuất ra nước ngoài bị cấm, cả công và thương đều
chưa có thể mưu cầu lợi ích một cách nhanh chóng. Vậy, triều đình phải dần dần hướng dẫn,
lợi dụng cơ hội để mở rộng ra, ngõ hầu làm cho dân chúng không chịu ở yên trong cảnh tạm
bợ, được chăng hay chớ; tạo ra thói quen không chịu bó mình trong cảnh an nhàn, khiến cho
công thương có cơ hưng thịnh vậy! Thần trộm thấy có điều đáng lo nữa là dân nước ta đông mà
đất hoang hóa ở ven biển, ven núi chưa được khai khẩn, vẫn để nguyên như cũ. Bởi vậy, nếu
quan ở địa phương bảo trợ họ, cổ vũ họ, thì không cần đợi đốc thúc gắt gao mà dân chúng sẽ
nhanh chóng khai hoang vậy.
Thần là kẻ bắt đầu học, mới tiến bộ, không biết kiêng dè, nói năng bộc trực trước đấng quân
vương, lòng khôn xiết run sợ!
(Vương Hữu Phu, Bài văn thi đậu đình nguyên. Theo Đào Tam Tỉnh, Tạp chí Văn hoá Nghệ
An, 11 Tháng 8 2011)
Bài 3. Thay thế các câu sau thành câu có sử dụng phép nói giảm nói tránh
1. Em hát bài này nghe dở lắm.
2. Mắt của bạn đó bị cận nên phải ngồi gần.
3. Trông bạn dạo này béo quá đấy.
4. Bạn lùn quá không với tới được đâu.
5. Tranh cậu vẽ trông xấu quá.
Bài 4. Chỉ ra những cách nói thay thế cho từ “chết” trong các câu sau. Hãy lấy thêm những ví
dụ cũng giúp nói giảm nói tránh cho việc “chết”.
a. Chỉ đến lúc thân tàn lực kiệt, trả xác cho đời, Thị Kính mới được minh oan và được trở về cõi
Phật.
(Trần Lâm Biền)
b. Thế rồi Dế Choắt tắc thở. Tôi thương lắm. Vừa thương vừa ăn năn tội mình.
(Tô Hoài)
c. Bỗng lòe chớp đỏ
Thôi rồi Lượm ơi.
13

(Tố Hữu)
d. A Di Đà Phật! Không có ngài thì tính mạng con tôi nguy rồi, chúng tôi biết lấy gì đền đáp
cho xứng.
(Quỳnh Cư)
e. Chẳng bao lâu, người chồng mất.
(Sọ Dừa)
g. […] Trước kia khi bà chưa về với Thượng đế chí nhân, bà cháu ta đã từng sung sướng biết
bao!
(An-đéc-xen)
h. Cách mấy tháng sau, đứa con lên sài lại bỏ đi để chị ở một mình.
(Nguyễn Khải)
Bài 5. Có thể thay thế từ “chết” trong các câu sau bằng các cách nói giảm nói tránh giống như ở
bài tập 4 được không? Vì sao?
a. Tôi nói chuyện với vợ tôi. Thị gạt phắt đi:
- Cho lão chết! Ai bảo lão có tiền mà chịu khổ! Lão làm lão khổ chứ ai làm lão khổ! Nhà mình
sung sướng gì mà giúp lão? Chính con mình cũng đói…
(Nam Cao)
b. Trong những năm qua, số người mắc bệnh truyền nhiễm và chết vì các bệnh truyền nhiễm
giảm dần.
(Báo cáo y tế)
c. Sau trận bão, cây cối trong vườn chết hết cả.
d. Quân giặc đã chết như ngả rạ.
Bài 6. Đặt 3 câu nói giảm nói tránh bằng cách phủ định từ trái nghĩa.
Mẫu: Bức tranh cậu vẽ xấu quá.  Bức tranh cậu vẽ chưa được đẹp lắm.
Bài 7. Chọn một từ ngữ ở cột A để điền vào chỗ trống trong câu ở cột B để được các câu có sử
dụng biện pháp nói giảm nói tránh.
A
B
1. Phúc hậu

a. Anh ấy ... khi nào?

2. Hiếu thảo

b. Em ... đi chơi được nhiều như vậy

3. Hi sinh

c. Bà ta không được ... cho lắm!

4. Không nên

d. Cậu nên ... với bạn bè hơn!

5. Hòa nhã
e. Nó không phải là đứa ... với cha mẹ!
Bài 8. Đặt câu có nội dung tỏ sự khiêm nhường với các từ ngữ sau đây: thiển nghĩ, món quà
nhỏ mọn, rồng đến nhà tôm, tài hèn đức mọn, con ong cái kiến.

14

Bài 9. Viết đoạn văn ngắn (Từ 13 đến 16 câu). Trong đó có sử dụng ít nhất 1 phép nói quá, 1
phép nói giảm nói tránh. Gạch chân dưới những câu văn có chứa các biện pháp ấy.
ĐÁP ÁN
Bài 1. Biện pháp nói giảm nói tránh được in đậm:
1. Bà lão láng giềng lại lật đật chạy sang:
- Bác trai đã khá rồi chứ?
(Ngô Tất Tố)
2. Nó (Rùa Vàng) đứng nổi trên mặt nước và nói: “Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân”.
(Sự tích Hồ Gươm)
3. Rộng thương cỏ nội hoa hèn
Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
4. Bác đã đi rồi sao Bác ơi
(Tố Hữu)
5. Lão làm bộ đấy! Thật ra lão chỉ tẩm ngẩm thế, nhưng cũng ra phết chứ chả vừa đâu: lão
vừa xin tôi một ít bả chó.
(Nam Cao)
6.
Thân lươn bao quản lấm đầu
Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
7. Con gái của anh vóc dáng cũng dễ nhìn đó chứ.
(Khẩu ngữ)
8. Bác Dương thôi đã thôi rồi
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta…
(Nguyễn Khuyến)
9. Bác đã lên đường theo tổ thiên
Mác – Lênin, thế giới người hiền.
(Tố Hữu)
10. Bỗng loè chớp đỏ,
Thôi rồi, Lượm ơi!
Chú đồng chí nhỏ,
Một dòng máu tươi!
(Tố Hữu)
11. Kiếp hồng nhan có mong manh
Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
12. Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
(Quang Dũng)
13. Người nằm dưới đất ai ai đó,
Giang hồ mê chơi quên quê hương.
15

(Tản Đà)
14. Cậu vàng đi đời rồi ông giáo ạ!
15. Nhưng nói ra làm gì nữa! Lão Hạc ơi! Lão hãy yên lòng mà nhắm mắt! lão đừng lo gì cho
cái vườn của lão. Tôi sẽ cố giữ gìn cho lão.
(Nam Cao)
16. Khuya rồi, mời ông bà đi nghỉ ạ.
17. Cháu bé đã bớt đi ngoài chưa bác?
18. Cậu để kiểu tóc này tớ nhìn chưa ưng ý lắm.
19. Ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào
kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.
(Nguyễn Tuân)
20. Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳ...
 
Gửi ý kiến