_nghe-thuat-va-vat-li

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:15' 02-02-2026
Dung lượng: 5.6 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:15' 02-02-2026
Dung lượng: 5.6 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
LEONARD SHLAIN
NGHỆ THUẬT VÀ
VẬT LÍ
Những cái nhìn tương đồng về
không gian, thời gian và ánh sáng
TRẦN MẠNH HÀ và PHẠM VĂN THIỀU dịch
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Mục lục
LỜI NÓI ĐẦU
Chương 1: ẢO ẢNH/ HIỆN THỰC
Chương 2: NGHỆ THUẬT CỔ ĐIỂN/ TRIẾT HỌC LÍ
TƯỞNG
Chương 3: THIÊNG LIÊNG / PHÀM TỤC
Chương 4: PHỐI CẢNH TĨNH/TRẠNG THÁI NGHỈ
TUYỆT ĐỐI
Chương 5: TIẾT DIỆN CONIC/ QUỸ ĐẠO ELIP
Chương 6 : NGHỆ SĨ - NHÀ KHOA HỌC / PHÁP SƯ
- NHÀ VẬT LÍ
Chương 7: HỢP LÍ/ PHI LÍ
Chương 8 : NGHỆ THUẬT HIỆN ĐẠI / CHIẾN
THẮNG CỦA NEWTON
Chương 9 : EINSTEIN / KHÔNG GIAN, THỜI GIAN
VÀ ÁNH SÁNG
Chương 10: NGHỆ THUẬT HỒN NHIÊN/ THỜI
GIAN PHI TUYẾN
Chương 11: NGHỆ THUẬT NGUYÊN THỦY/
KHÔNG GIAN PHI EUCLID
Chương 12: PHƯƠNG ĐÔNG / PHƯƠNG TÂY
Chương 13 : TRƯỜNG PHÁI DÃ THÚ /ÁNH SÁNG
Chương 14: TRƯỜNG PHÁI LẬP THỂ/ KHÔNG
GIAN
Chương 15 : TRƯỜNG PHÁl VỊ LAI /THỜI GIAN
Chương 16: TRƯỜNG PHÁI SIÊU THỰC / SỰ BÓP
MÉO THEO THUYẾT TƯƠNG ĐỐI
Chương 17: NGHỆ THUẬT TRỪU TƯỢNG / VẬT LÍ
KHÔNG HÌNH ẢNH
Chương 18: BIẾN CỐ / SỰ KIỆN
Chương 19: ÂM NHẠC / HỘI HỌA/VẬT LÍ
Chương 20: HÌNH THỨC VĂN CHƯƠNG / CÔNG
THỨC VẬT LÍ
Chương 21: QUẢ TÁO CỦA NEWTON / QUẢ TÁO
CỦA CÉZANNE
Chương 22: KHÔNG-THỜI GIAN / KHỐI LƯỢNGNĂNG LƯỢNG
Chương 23: CÁC DẠNG THỨC PHI TRỌNG
LƯỢNG / CÁC LỰC HẤP DẪN
CHƯƠNG 24: KHỐI LƯỢNG ĐIÊU KHẮC/ KHÔNG
THỜI GIAN BỊ UỐN CONG
Chương 25: TÔI / CHÚNG TA
Chương 26: PHẢI/TRÁI
Chương 27: KHÔNG GIAN/THỜI GIAN
Chương 28: DIONYSUS / APOLLO
Chương 29: NGHỆ THUẬT /VẬT LÍ
Về tác giả - LEONARD SHLAINTLI BACH
Về cuốn sách
LỜI NÓI ĐẦU
Có một lần vào năm 1979, tôi đưa đứa con gái mười hai tuổi của mình
đi thăm Bảo tàng Mĩ thuật Hiện đại tại thành phố New York. Tôi có phần
lo rằng việc nuôi dưỡng tại vùng California đã tước đi của con bé cái vốn
di sản văn hóa phong phú của nền văn minh phương Tây, và muốn cho
cháu xem một số ví dụ xuất sắc của nó đang tồn tại ở bờ phía Đông này
của nước Mĩ.
Bắt đầu với các tác phẩm trưng bày thuộc trường phái Ấn tượng Pháp
của Bảo tàng, tôi đã cố khuấy động trong con tôi niềm sùng kính và tâm
trạng rạo rực mà tôi luôn cảm thấy trước những tuyệt tác hội họa. Tuy
nhiên, khi hai bố con càng đi sâu mãi vào cái mê cung trong bảo tàng,
các tác phẩm mỗi lúc càng trở nên hiện đại hơn. Con gái tôi, với cái lối
hỏi làm người lớn bối rối, cứ ép tôi phải giảng giải hết bức tranh này đến
bức tranh khác tại sao chúng lại tạo nên “nghệ thuật vĩ đại” như vậy. Tôi
đã phải trả lời nó rằng nếu tòa nhà này mà chỉ là kho báu của nền văn
hóa của chúng ta, thì tôi chắc chắn có thể giải thích bằng một thứ tiếng
Anh đơn giản về cái gì đã làm cho mỗi bức tranh trở nên quý giá, độc
nhất vô nhị như vậy. Mỗi lúc tôi một bứt rứt vì không trả lời nổi các câu
hỏi thẳng thắn của con bé.
Sau đó, vừa sưởi nắng và nhóp nhép nhai bánh mì kẹp xúc xích, hai bố
con vừa bàn luận về những gì đã xem. Với vẻ hồn nhiên trong sáng của
con trẻ, con gái tôi dõng dạc tuyên bố quan điểm của nó - rằng đối với
phần lớn mảng nghệ thuật vừa rồi, vị Hoàng đế đã không hề có quần áo
1
gì cả ! Tôi chợt nhận ra rằng mặc dù hiểu về nội dung trí tuệ của từng
trào lưu hiện đại, nhưng thực ra tôi cũng chưa “nắm bắt được” nó. Tôi
đâm cảm thấy bực bội với các họa sĩ đã làm cho việc lĩnh hội nghệ thuật
trở nên quá khó đối với chúng ta. Cứ như là họ đã từ chối không cho
chúng ta tham dự vào một vài bí mật quan trọng nào đó cùng với họ.
Rồi mấy ngày tiếp theo trong các bảo tàng khác, tôi cứ liên tục bị đối
mặt với tình cảnh tiến thoái lưỡng nan không lấy gì làm thoải mái này.
Làm thế nào mà ý nghĩa của những thể hiện nghệ thuật đồng đại với
mình lại vuột qua sự hiểu biết của một thành viên năng động và nhạy bén
với nền văn hóa như tôi?
Cũng trong chuyến đi ấy, tôi còn đọc một cuốn sách khá nổi tiếng về
vật lí hiện đại và tôi đã phải vật lộn với những khái niệm cơ bản của môn
khoa học này. Nỗi tò mò suốt đời tôi về những vấn đề như vậy đã không
được môn vật lí thuở đại học làm cho thoả mãn, bởi vì chúng tôi đã
không được học cả thuyết tương đối của Einstein lẫn môn cơ lượng tử.
Vị giáo sư lầm lì và khô khan của chúng tôi đã gạt phắt chúng đi, nói
rằng ông đã hết thời gian. Những năm sau đó, khi bắt đầu tự mày mò tìm
hiểu về vật lí hiện đại, tôi đã choáng váng trước sự khó hiểu dị thường
của nhiều ý tưởng cơ bản của nó. Ý nghĩ này đã trở lại với tôi trong
chuyến thăm bảo tàng ở New York. Mấy ngày sau, khi đang lơ đãng
đứng trước một bức tranh trừu tượng khổng lồ tại phòng tranh Whitney,
tôi băn khoăn tự hỏi làm thế nào mà một hệ thống suy tư về thế giới (bởi
vì vật lí về bản chất chính là thế) lại có thể vượt quá tầm hiểu biết của
hầu hết những thành viên thông minh nhất của xã hội.
Chính lúc ấy tôi chợt bừng ngộ ra điều làm nên cảm hứng cho cuốn
sách này, và cho mười năm làm việc tiếp theo. Tôi thầm nghĩ, hình như
có một mối liên hệ giữa cái không thể giải thích hết được của nghệ thuật
hiện đại với cái không thể thấu hiểu hết của vật lí hiện đại.
Về nghề nghiệp, tôi không phải là nhà vật lí hay nhà phê bình nghệ
thuật, mà là bác sĩ phẫu thuật. Vì thế, tôi đem đến cho cả nghệ thuật lẫn
vật lí một con mắt nhìn tương đối không định kiến và một tâm thế của
người mới bắt đầu học hỏi. Mặc dù sự khờ khạo của mình đã buộc tôi
thực hiện nhiều nghiên cứu hơn hẳn so với một chuyên gia có thể phải
làm để hiểu được những sắc thái tinh tế của chủ đề này; nhưng chính
điều đó lại có những ưu thế nổi bật. Chẳng hạn như, vì không phải kiếm
sống dựa trên một trong hai lĩnh vực ấy, tôi có phần nào tự do hơn trong
các suy đoán của mình so với các nhà chuyên môn, những người luôn có
một cái gì đó dễ bị mất. Tôi sẽ tiếp cận vật lí với tư cách như là một nghệ
sĩ cố gắng giải thích các nguyên lí của nó với những nghệ sĩ khác. Tương
tự như vậy, bằng diễn giải khoa học, tôi hi vọng sẽ giải mã được sự
huyền bí của nghệ thuật.
Tôi thường được người ta hỏi tại sao một nhà phẫu thuật lại có thể nói
một cách hấp dẫn được về hai chủ đề khá nặng và khác hẳn nhau như
thế. Thật ngạc nhiên là chính nghề phẫu thuật, một cách chỉ riêng nó mới
có, đã chuẩn bị cho tôi có thể đảm đương được nhiệm vụ ấy, bởi nhà
phẫu thuật vừa là nhà khoa học vừa là nhà nghệ sĩ. Phẫu thuật đòi hỏi
một cảm quan mĩ học sắc sảo đến tinh tế: trong nghề có câu châm ngôn
rằng nếu một ca mổ “nom” không đẹp, thì hầu như chắc chắn là nó
không vận hành một cách hoàn mĩ. Bác sĩ phẫu thuật do đó trông cậy chủ
yếu vào hoạt động linh cảm thị giác-không gian của bán cầu não phải.
Đồng thời, nghề của chúng tôi rõ ràng là được đào tạo một cách rất khoa
học. Lập luận logic, suy đoán, tư duy trừu tượng của bán cầu não trái là
những hòn đá bắc cầu dẫn đến các nguyên lí chuyên sâu của cái kho văn
bản khoa học rộng bao la. Yêu cầu của nghề phẫu thuật, đòi hỏi tôi phải
liên tục chuyển di chuyển lại giữa hai chức năng bổ trợ nhau ấy của tâm
lí con người, đã phục vụ đắc lực cho tôi để thực hiện công trình này.
Dự định của tôi là nhằm tới các độc giả thiên về nghệ thuật muốn hiểu
thêm về vật lí hiện đại và các nhà khoa học muốn có một cái khung giá
trị để thưởng thức nghệ thuật. Vì ngôn ngữ của vật lí là cực kì chính xác,
đối lập với ngôn ngữ khơi gợi của nghệ thuật, tôi đã phải bắc nhiều “cây
cầu” bằng kho từ vựng chung của hai lĩnh vực. Để đạt được việc này, đôi
khi tôi phải mở rộng ý nghĩa của các thuật ngữ khoa học và thỉnh thoảng
phải kéo dãn chúng ra trở thành các ẩn dụ thi ca. Đồng thời, tôi cũng đã
phải nói rất cụ thể khi diễn giải một tác phẩm nghệ thuật, điều này làm
cho người ta thấy có vẻ tôi tin rằng diễn giải của mình là diễn giải duy
nhất đối với tác phẩm đó. Ngược lại, tôi biết rằng diễn giải của tôi chỉ là
một trong nhiều diễn giải và mong nó sẽ làm phong phú thêm các diễn
giải khác. Ghi nhớ như vậy trong tâm trí, tôi mong nhận được sự lượng
thứ phần nào của các chuyên gia ở cả hai lĩnh vực. Mượn lời của William
2
Blake , “xin hãy tha thứ cho cái mà các bạn không tán thành và xin hãy
yêu quý tôi về việc đã nhiệt tình dốc hết tài sức của bản thân”.
Khi tôi viết mấy câu cuối cùng trên, mà hài hước thay chúng lại xuất
hiện trước tiên trong cuốn sách, thật khó có thể tin rằng cái công trình
hút trọn thời gian công sức này của tôi đã hoàn thành. Tôi mong bạn khi
đọc cuốn sách này sẽ thấy thích thú như khi tôi viết ra nó.
LEONARD SHLAIN
Thung lũng Mill, California
Mục đích của nghệ thuật là phơi trần những câu hỏi đã bị các câu
trả lời che giấu đi mất.
James Baldwin
Vật lí là một hình thức thấu hiểu và như thế, nó là một hình thức
nghệ thuật.
David Bohrn
Chương 1: ẢO ẢNH/ HIỆN THỰC
Nghệ thuật và vật lí là một cặp ghép thật lạ lùng. Trong một loạt các
lĩnh vực của con người, liệu còn có hai cái nào xa biệt với nhau hơn thế
không? Người nghệ sĩ sử dụng hình tượng và ẩn dụ; còn nhà vật lí thì
dùng con số và phương trình. Nghệ thuật ôm trùm một lãnh địa tưởng
tượng của các đặc trưng mĩ học, còn vật lí tồn tại trong một thế giới của
các quan hệ toán học được khoanh định một cách rạch ròi giữa những
thuộc tính có thể lượng hóa được. Từ trước đến giờ, nghệ thuật đã sáng
tạo nên các ảo ảnh nhằm khơi gợi cảm xúc, còn vật lí là một ngành khoa
học chính xác tạo nên tính có lí. Thậm chí những luận đề khuôn sáo của
hai lĩnh vực này cũng đối nghịch nhau như hai cực trái đất. Trong trường
đại học, lớp sinh viên nghệ thuật tiên phong thời thượng thường không
giao du với đám đồng trang lứa phàm phu hơn ở khoa vật lí. Nếu tình cờ
đem đặt cạnh nhau thì thấy hai lĩnh vực này dường như chả có mấy gì
chung: nghệ thuật ít khi, nếu như có, được đả động đến trong bất kì một
cuốn sách giáo khoa tiêu chuẩn nào về vật lí, còn các nhà nghiên cứu lịch
sử nghệ thuật cũng hiếm khi diễn giải tác phẩm của một nghệ sĩ dưới ánh
sáng của khuôn khổ khái niệm vật lí.
Tuy nhiên, bất chấp những khác biệt có vẻ như không thể dung hòa
nổi ấy, có một đặc tính cơ bản đã liên kết vững bền hai lĩnh vực này. Cả
nghệ thuật đột phá lẫn vật lí có tầm dự báo xa đều là những cuộc khám
phá vào bản chất của hiện thực. Roy Lichtenstein, nghệ sĩ trường phái
bình dân những năm 60 của thế kỉ hai mươi, đã tuyên bố: “Nhận thức có
tổ chức chính là cái mà nghệ thuật muốn nói tới”. Issac Newton có thể
cũng đã phát biểu hệt như thế về vật lí, bởi vì chính bản thân ông cũng
quan tâm đến những nhận thức có tổ chức. Tuy các phương pháp của hai
lĩnh vực khác nhau một cách cơ bản, nhưng cả nghệ sĩ lẫn nhà vật lí đều
cùng chung một niềm khao khát muốn khám phá những cách thức mà
các mảnh đan xen lẫn nhau của hiện thực đã ghép lại với nhau. Đây
chính là nền tảng chung mà trên đó vật lí và nghệ thuật đã gặp nhau.
Paul Gauguin có lần đã nói: “Chỉ có hai loại nghệ sĩ - những nhà cách
mạng và những kẻ sao chép”. Nghệ thuật bàn luận trong cuốn sách này
chủ yếu sẽ là nghệ thuật được các nhà cách mạng sáng tạo ra, bởi vì tác
phẩm của những nghệ sĩ đó báo hiệu khởi đầu một sự thay đổi lớn trong
thế giới quan của cả một nền văn minh. Tương tự như vậy, mặc dù sự
phát triển của vật lí luôn luôn phụ thuộc vào các cống hiến tích tụ từ
nhiều con người làm việc tận tuỵ và xuất chúng, nhưng trong một số dịp
hiếm hoi của lịch sử, đã xảy ra việc cá nhân một nhà vật lí nào đó đã có
một cái nhìn thấu đáo một vấn đề quan trọng tới mức khiến cho quan
niệm của toàn bộ xã hội ở thời đại đó về hiện thực bị xem xét lại. Thi sĩ
Rainer Maria Rilke đã gọi cái tầm nhìn siêu việt ấy là một cơn “bùng
cháy của minh thị”, cho phép một số nghệ sĩ và nhà vật lí nhìn thấy được
cái mà không một ai trước họ đã từng nghĩ là có. Họ - những người nghệ
sĩ cách mạng và nhà vật lí có tầm nhìn sâu xa - sẽ được ghép cặp trong
những trang sách tiếp sau đây.
Định nghĩa của Émile Zola về nghệ thuật - là “Tự nhiên được nhìn qua
một tâm trạng” - cũng gợi đến vật lí, vì tương tự như nghệ thuật, vật lí
cũng có liên hệ với tự nhiên. Trong tiếng Hi Lạp, từ physis (vật lí) có
nghĩa là “tự nhiên”. Lấy cái nền chung ấy làm điểm xuất phát, tôi sẽ mô
tả các mối liên kết cũng như những sự khác biệt giữa hai con đường có
vẻ như khác hẳn nhau này mà theo đó hai hệ thống nhận thức của chúng
ta về tự nhiên được tổ chức nên.
Cũng như bất kì một nhà khoa học nào khác, nhà vật lí có nhiệm vụ
phá vỡ “tự nhiên” ra thành các thành tố để phân tích mối quan hệ của
chúng với nhau. Quá trình này chủ yếu là một quá trình quy giản. Ngược
lại, người nghệ sĩ thường đem các đặc trưng khác biệt của thực tại đặt
cạnh nhau rồi tổng hợp chúng, để đến lúc hoàn thành, tổng thể công trình
sẽ lớn hơn tổng các thành tố ấy. Có một sự giao thoa đáng kể trong
những kĩ thuật mà nhà vật lí và người nghệ sĩ sử dụng. Nhà văn Vladimir
Nabokov đã viết: “Không có khoa học nào mà không có sự tưởng tượng,
cũng như không có nghệ thuật nào mà không có sự thật”.
Trong phạm vi của chủ đề khoa học, ở cuốn sách này, tôi sẽ tập trung
vào vật lí theo quá trình mà nó đã phát triển mấy trăm năm trở lại đây.
Tuy nhiên, xin độc giả lưu ý rằng nhà vật lí ngày nay đang khoác một
chiếc áo choàng được truyền từ đời này sang đời khác trong lịch sử nhân
loại. Nhà vật lí ngày nay là đại diện đương đại của một truyền thống
quang vinh, mà chúng ta có thể khám phá ra nguồn gốc sâu xa của nó
thông qua những nhà khoa học đầu tiên - các nhà thần học đạo Cơ đốc,
các nhà triết học tự nhiên, các tu sĩ đa thần giáo và các pháp sư thời đồ
đá cũ, những người xuất sắc nhất trong số họ đã đóng góp từng mảnh
một trong cái trò chơi chắp hình đến bất tận của tự nhiên. Có lẽ, nhà vật
lí đầu tiên chính là cái người đã khám phá ra cách làm thế nào để tạo nên
một ngọn lửa.
Tôi đã chọn riêng ra ngành vật lí, bởi vì trong thế kỉ này, tất cả các
ngành khoa học “cứng” khác đều nhận thấy rằng chúng đều được neo
chung vào cái tảng đá này. Hoá học khởi đầu bằng những cố gắng nhằm
xác định và phân lập các nguyên tố, và đi đến chỗ hòa nhập vào các định
luật chi phối các hiện tượng ở cấp độ nguyên tử. Thiên văn học bắt đầu
từ niềm ngạc nhiên thích thú trước chuyển động của các thiên thể và tiến
đến việc tìm hiểu cấu trúc của hệ mặt trời. Ngày ngay, khi nghiên cứu
các thiên hà, nhà vật lí thiên văn nói về các định luật chi phối các lực và
vật chất. Khởi đầu từ phép phân loại các giống loài ở thời Aristotle, sinh
học đã phát triển thành sự nghiên cứu về mối tương tác vật lí của các
nguyên tử trong sinh học phân tử. Vật lí, trước kia chỉ là một ngành trong
các ngành khoa học, đến thế kỉ này đã được trao vương miện, trở thành
ông Vua của các ngành Khoa học.
Trong trường hợp của các ngành nghệ thuật thị giác, bên cạnh việc tô
điểm, bắt chước, diễn giải hiện thực, một số ít nghệ sĩ đã sáng tạo ra một
loại ngôn ngữ kí hiệu / biểu tượng biểu trưng cho những thứ mà chưa có
từ ngữ để gọi chúng. Giống như Sigmund Freud viết trong tác phẩm Văn
minh và những sự bất bình của nó đã ví sự tiến bộ của toàn thể những
con người trong một nền văn minh như sự phát triển của một đời người,
tôi cho rằng những cách tân cơ bản của nghệ thuật là hiện thân của các
giai đoạn tiền ngôn ngữ của các khái niệm mới mà cuối cùng chúng sẽ
làm thay đổi cả một nền văn minh. Dù là một đứa trẻ hay một xã hội
đang mấp mé bên bờ của sự thay đổi, thì việc “tiêu hóa” các hình ảnh
không quen thuộc sẽ là khởi đầu cho một cách tư duy mới về hiện thực.
Sự đối chiếu này sẽ dẫn đến việc hình thành các ý tưởng trừu tượng,
những cái mà sau đó mới làm nảy sinh ra ngôn ngữ mô tả.
Ví dụ, hãy quan sát một đứa trẻ khi nó đang cố gắng làm chủ môi
trường quanh nó. Rất lâu trước khi khả năng nói / lời nói hình thành, đứa
trẻ đã thiết lập được một mối liên hệ giữa cái bình sữa và cảm giác thỏa
mãn. Dần dà nó tích tụ được một loạt hình ảnh khác nhau của cái bình.
Đây là một chiến công đáng kinh ngạc, nếu xét đến việc cái bình được
nhìn theo các góc khác nhau sẽ thay đổi hẳn hình dạng đi: từ một khối
trụ chuyển sang hình bầu dục rồi sang vòng tròn. Tổng hợp các hình ảnh
ấy lại, các cơ quan nhận thức đang phát triển của đứa bé sẽ tạo ra một
hình ảnh trừu tượng hàm chứa ý niệm về toàn bộ nhóm các vật mà từ đó
đứa bé có thể nhận ra đó là cái bình sữa. Bước trừu tượng hóa này cho
phép em bé hiểu được ý niệm “cái bình”. Do vẫn còn chưa có ngôn ngữ,
đứa bé giờ đây có thể phát ra tín hiệu ham muốn bằng cách chỉ tay.
Rồi vào một thời điểm nhất định, trong khu vực của bộ não gọi là
vùng Broca, các liên hệ giữa các khớp thần kinh đạt đến con số tới hạn,
kích hoạt cái công tắc làm bừng sáng cái sức mạnh thần kì của ngôn ngữ.
Cái nhà máy chế tạo ngôn ngữ này, xình xịch chạy lan mãi tới xa, tạo ra
các âm thanh thay thế, thậm chí che mờ đi những hình ảnh ban đầu.
Ngay sau khi đứa bé liên kết được hình ảnh của cái bình với từ “bình”,
thì từ này bắt đầu xoá nhòa hình ảnh cái bình, đến mức mà khi trở thành
người lớn, chúng ta hầu như không nhận ra rằng khi chúng ta tiến hành
tư duy trừu tượng, chúng ta đã không còn nghĩ ngợi theo các hình ảnh
nữa. Các khái niệm như “công lí”, “tự do”, “kinh tế học” có thể được lật
đi lật lại trong tâm trí chúng ta mà không cần phải viện đến hình ảnh.
Mặc dù không bao giờ có quyết định thắng thua dứt khoát giữa từ ngữ và
hình ảnh, nhưng con người chúng ta là loài phụ thuộc vào sự trừu tượng
hóa của ngôn ngữ, và chủ yếu, từ ngữ cuối cùng luôn vượt lên trên hình
ảnh.
Khi ôn lại quá khứ, lục lọi trong kí ức, hồi tưởng, suy ngẫm và hình
dung, chúng ta nói chung đều dùng đến hình ảnh. Nhưng để thực hiện cái
chức năng cao nhất của bộ não là tư duy trừu tượng, chúng ta đã từ bỏ
việc sử dụng hình ảnh và đủ sức làm được mà không phải nhờ cậy đến
chúng. Chúng ta đã gọi một cách rất chính xác kiểu tư duy ấy là “trừu
tượng”. Đây chính là vương quyền và cũng là sự chuyên chế của ngôn
ngữ. Việc gán một cái tên cho một cái gì đó chính là khởi đầu của sự
kiểm soát đối với nó. Sau khi Chúa Trời tạo ra Adam, công việc đầu tiên
mà Người sai Adam thực hiện là gọi tên tất cả các loài vật. Chúa cho
Adam biết rằng làm xong được việc lớn ấy, Adam có thể thống trị tất cả
các loài cầm thú. Hãy lưu ý rằng Chúa Trời đã không dạy Adam một cái
gì thực dụng như nhóm lên một ngọn lửa hay chuốt nên một cây lao.
Thay vào đó, Chúa dạy Adam Cách gọi tên. Từ ngữ, hơn là sức mạnh
hay tốc độ, đã trở thành vũ khí mà loài người sử dụng để chinh phục tự
nhiên.
Do việc từ ngữ làm xói mòn đi hình ảnh đã xảy ra tại một thời kì sớm
đến thế trong cuộc đời con người, nên chúng ta đâm ra quên mất rằng để
học được một cái gì đó đặc biệt mới lạ, chúng ta trước hết cần phải hình
dung ra nó. “Hình dung” có nghĩa đen là “tạo ra một hình ảnh”. Hãy xét
đến những lời chúng ta thốt ra khi phải vật lộn với một ý tưởng mới:
“Tôi không hình dung được”, “Hãy để tôi tưởng tượng ra trong đầu”,
“Tôi đang cố hình dung ra nó”. Thiết nghĩ, nếu như chức năng tưởng
tượng đã đóng vai trò tối quan trọng như thế trong sự phát triển của một
đứa trẻ, và nó cũng đã hiện diện trong nền văn minh của loài người nói
chung, vậy thì ai là người đã sáng tạo ra các hình ảnh đi trước các ý niệm
trừu tượng và ngôn ngữ mô tả? Đó chính là người nghệ sĩ. Trong các
trang tiếp theo, tôi sẽ chứng minh nghệ thuật có tính cách mạng có thể
được hiểu như thế nào với tư cách là giai đoạn tiền ngôn ngữ của một
nền văn minh khi nền văn minh đó bắt đầu trăn trở để thay đổi về cơ bản
sự nhận thức của nó đối với thế giới. Để diễn giải cho luận đề này, tôi sẽ
nghiên cứu nghệ thuật không chỉ với tư cách là một đối tượng mĩ học
làm mãn nhãn chúng ta, mà còn như một Hệ thống Cảnh báo từ xa của tư
duy tập thể cả một xã hội. Nghệ thuật thị giác đã báo trước cho các thành
viên khác rằng sắp sửa có một sự chuyển dịch khái niệm xảy ra trong hệ
thống tư duy đang được sử dụng để nhận thức thế giới. Nhà phê bình
nghệ thuật John Russell đã nhận xét: “Trong nghệ thuật, tồn tại một viễn
kiến về thế giới mà chúng ta còn chưa tìm ra từ để gọi, chứ chưa nói đến
chuyện giải thích được nó”.
Dù cả hai lĩnh vực đều đòi hỏi tương tự, nhưng người nghệ sĩ trong
con mắt nhìn của mình bao giờ cũng có một dự cảm rất khác lạ, đi trước
mọi phương trình của nhà vật lí. Theo một cách huyền bí nào đó, nghệ sĩ
đã làm hiển hiện trong tác phẩm của mình những nét đặc thù của một mô
tả vật lí về thế giới mà khoa học sau này sẽ khám phá ra.
Người nghệ sĩ biết rất ít hoặc hầu như không biết những gì đang diễn
ra trong lĩnh vực vật lí, nhưng lại có thể gợi lên những hình tượng và
những ẩn dụ thích hợp đến kinh ngạc khi đem chúng áp vào cái khuôn
khổ khái niệm mà nhà vật lí dùng sau đó để xem xét lại các ý niệm của
chúng ta về thực tại vật lí. Rất nhiều lần trong quá trình lịch sử, người
nghệ sĩ đã đưa ra các biểu tượng và hình tượng mà sau này suy xét lại,
chúng đã là những biểu trưng tiên phong cho các hình mẫu tư duy của
một kỉ nguyên khoa học còn chưa ra đời. Tiếc rằng đã ít có nhà nghiên
cứu lịch sử nghệ thuật bàn bạc một cách thấu đáo về cái chức năng bí ẩn
này của nghệ thuật. Nhà phê bình nghệ thuật Robert Hughes đã lí giải tại
sao nó thường bị bỏ qua:
“Cái cốt lõi của huyền thoại tiên phong nằm ở chỗ người
nghệ sĩ chính là một người đi trước. Một tác phẩm nghệ
thuật thực sự có ý nghĩa là tác phẩm chuẩn bị cho tương
lai. Nhưng trọng tâm chú ý của nền văn hóa, trái lại,
thường có khuynh hướng coi cái hiện tại (người nghệ sĩ
đang sống) chính là đỉnh cao của quá khứ”.
Khi đọc về tác phẩm của các nghệ sĩ bậc thầy, chúng ta quá thường
xuyên được nghe nói về các phong cách quá khứ đã ảnh hưởng tới họ
như thế nào. Phả hệ nghệ thuật của họ được truy ngược lên đến các nghệ
sĩ tiền bối, và hiếm khi tác phẩm của họ được lí giải đã tiên đoán tương
lai ra sao.
Một bộ phận khá lớn của xã hội hiện nay, do không thể hiểu nổi con
mắt viễn kiến của nghệ thuật nên đã gạt bỏ tầm quan trọng của nó.
Marshall McLuhan, trong tác phẩm có ảnh hưởng sâu xa của mình Hiểu
thấu các phương tiện biểu đạt, đã đặt ra rất nhiều câu hỏi:
“Nếu con người ta có thể bị thuyết phục để tin được rằng
nghệ thuật là sự hiểu biết trước một cách chính xác về cách
phải đối phó thế nào với những hậu quả tâm lí và xã hội
của nền công nghệ sắp tới, thì liệu tất cả họ có trở thành
nghệ sĩ? Hoặc liệu con người có bắt đầu chuyển đổi một
cách thận trọng các hình thức nghệ thuật mới thành các
bản đồ dẫn đường xã hội? Tôi rất tò mò muốn biết cái gì sẽ
xảy ra nếu đột nhiên nghệ thuật được nhìn nhận đúng như
nó là thế, mà cụ thể là thông tin chính xác về cách bố trí lại
tâm thức của con người như thế nào để chuẩn bị đón nhận
một sự bùng nổ mới từ các giác quan được mở rộng ra của
chính chúng ta...”
Nghệ thuật mang tính cách mạng ở mọi thời đại đều đã thực hiện cái
chức năng chuẩn bị cho tương lai ấy.
Cả nghệ thuật lẫn vật lí đều là những hình thái ngôn ngữ độc nhất vô
nhị. Mỗi một ngành đều có một kho từ vựng các kí hiệu đặc thù, được sử
dụng theo một cú pháp riêng biệt. Các ngữ cảnh cụ thể và rất khác biệt
của chú
 









Các ý kiến mới nhất