Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra
Anne tóc đỏ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:33' 26-05-2024
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 9
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:33' 26-05-2024
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 9
Số lượt thích:
0 người
Anne Tóc Đỏ Dưới Chái Nhà Xanh
Tác giả: L.M. Montgomery
Thể loại: Tuổi Học Trò
Biên tập: Yen
Created by: http://motsach.info
Date: 17-June-2014
Kho ebook online
(http://daotieuvu.blogspot.com)
Tên ebook: Anne Tóc Đỏ dưới chái
nhà xanh
Tác giả: Lucy Maud Montgomery
Thể loại: 100 Cuốn sách giá trị nhất thế giới,
Sách hay, Sách teen, Tiểu thuyết, Văn học
phương Tây
Công ty phát hành: Nhã Nam
Nhà xuất bản: NXB Hội Nhà Văn
Trọng lượng vận chuyển: 520 grams
Kích thước: 14 x 20.5 cm
Số trang: 432
Ngày xuất bản: 03/2010
Nguồn: motsach.info
Ebook: http://daotieuvu.blogspot.com
Bìa sách Anne Tóc Đỏ dưới chái nhà xanh - Lucy
Maud Montgomery
Giới thiệu:
Khi Matthew và Marilla Cuthbert ngỏ lời với một trại
trẻ mồ côi để xin một cậu bé về đỡ đần họ tại nông
trang Green Gables, cả hai sửng sốt khi thấy bước
ra khỏi tàu là một cô bé lắm mồm, tên là Anne.
Anne, tóc đỏ, hay gây gổ và lãng mạn vô phương
cứu chữa - cô đã xáo trộn cả Green Gable lẫn ngôi
làng quanh đó. Nhưng sự hóm hỉnh và thiện tính
trong cô lại khiến cô được yêu mến không ngớt,
không chỉ với cộng đồng tưởng tượng của Đảo
Hoàng tử Edward, mà còn với bao thế hệ độc giả
khắp bên kia bờ Đại Tây Dương, suốt một thế kỷ
nay, kể từ ngày cuốn Anne Tóc đỏ đầu tiên ra đời
năm 1908.
----“Cuốn sách thiếu nhi dễ thương nhất, thắm đượm
tình cảm nhất.”
- Mark Twain
“Với tư cách một độc giả sách thiếu nhi, tôi chờ đời
từng cuốn như khi chờ Wendy trong truyện Peter
Pan lớn lên.”
- Margaret Atwood
Báo Chí Giới Thiệu:
Đầu năm nay, cuốn tiểu thuyết mang tên Anne of
Green Gables - Anne Tóc Đỏ dưới chái nhà xanh,
tác phẩm kinh điển của văn học Canada đã đến tay
độc giả Việt Nam.
Anne of Green Gables - Anne Tóc Đỏ dưới chái
nhà xanh là cuốn tiểu thuyết đầu tiên nằm trong
series tác phẩm về Anne Shirley của nữ nhà văn nhà báo Lucy Maud Montgomery xuất bản lần đầu
năm 1908 đã bất ngờ mang về những thành công
vang dội. L.C. Montgomery cùng cô bé tóc đỏ của
bà trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới, suốt từ thời
điểm đó cho đến tận ngày nay, khi hơn một thế kỷ
đã trôi qua. Cuốn sách được xuất bản bằng hơn 30
ngôn ngữ, bán được tới hơn 50 triệu bản, đưa
Montgomery trở thành một trong những nhà văn
bestseller của mọi thời đại.
Anne of Green Gables - Anne Tóc Đỏ dưới chái
nhà xanh xoay quanh thời niên thiếu của cô bé mồ
côi Anne Shirley - một cô bé vô cùng đặc biệt, với
mái tóc đỏ hoe, khuôn mặt đầy tàn nhang và cơ
thể gày gò, mảnh khảnh. Cô bé ấy luôn cho rằng
chẳng có ai cần mình, cho đến một ngày nó được
hai anh em Matthew Cuthbert và Marilla Cullbert
nhận nuôi. Anne đã vô cùng vui sướng cho đến khi
nhận ra một sự nhầm lẫn khủng khiếp: Chái Nhà
Xanh của gia đình Cuthbert thực tế cần một đứa bé
trai chứ không phải bé gái. Nhưng cuối cùng, Anne
cũng được giữ lại nhờ lòng thương và cảm nhận
"thú vị" mà những con người ở Chái Nhà Xanh
dành cho cô bé.
Từ đây, một cuộc đời mới mở ra với Anne, và cũng
là khi bạn đọc bị lôi cuốn vào một thế giới hấp dẫn,
lấy bổi cảnh là ngôi làng nhỏ Avonlea của đảo
Hoàng tử Edward, miền đông Canada - cũng là quê
hương của chính tác giả.
Anne Shirley là một cô bé đặc biệt cả về hình thức
và tính cách. Luôn nổi bật bởi mái tóc đỏ kỳ cục,
Anne còn khiến mọi người phải chú ý bởi một cá
tính đặc biệt: nói không ngớt, đặc biệt thích dùng
những từ "đao to búa lớn", lúc nào cũng thích
tưởng tượng ra mọi chuyện, vô cùng nhạy cảm nên
cũng vô cùng dễ bị kích động.
Nhưng chính trong những điều đặc biệt thú vị ấy,
người ta nhận ra một Anne thông minh, độc lập,
một Anne yêu - ghét rạch ròi, một Anne với trái tim
trong sáng và tâm hồn thánh thiện, biết rung động
trước mọi cái đẹp của cuộc đời, một Anne lúc nào
cũng căng tràn sức sống, nhiều lạc quan, hy vọng
và tin tưởng.
Trọn bộ 8 cuốn Anne tóc đỏ gồm:
- Anne tóc đỏ dưới Chái Nhà Xanh - Anne tóc đỏ làng
Avonlea - Anne tóc đỏ ở đảo Hoàng Tử Edward - Anne
tóc đỏ dưới mái nhà Bạch Dương - Anne tóc đỏ và
Ngôi Nhà Mơ Ước - Anne dưới mái nhà Bên Ánh Lửa Thung lũng Cầu Vồng - Rilla dưới mái nhà Bên Ánh
Lửa
Mời các bạn đón đọc Anne tóc đỏ dưới chái nhà
xanh của tác giả Lucy Maud Montgom ery
GIỚI THIỆU
L
ucy M aud M ontgomery chào đời tại Clifton (vùng New London
ngày nay), thuộc đảo Hoàng tử Edward, Canada vào ngày
30/11/1874.
Năm 1908, bà xuất bản cuốn đầu tiên của bộ truyện kinh điển về cô
bé Anne Tóc đỏ và gặt hái thành công vang dội.
Đến nay cuốn sách đã được xuất bản bằng hơn 30 ngôn ngữ, bán
được hơn 50 triệu bản, đưa M ontgomery trở thành một trong
những nhà văn best-seller của mọi thời đại.
Khi M atthew và M arilla Cuthbert ngỏ lời với một trại trẻ mồ côi để
xin một cậu bé về đỡ đần họ tại nông trang Green Gables, cả hai
sửng sốt khi thấy bước ra khỏi tàu là một cô bé lắm mồm, tên là
Anne.
Anne, tóc đỏ, hay gây gổ và lãng mạn vô phương cứu chữa - cô đã
làm xáo trộn cả Green Gables lẫn ngôi làng quanh đó. Nhưng sự
hóm hỉnh và thiện tính trong cô lại khiến cô được yêu mến không
ngớt, không chỉ với cộng đồng tưởng tượng của Đảo Hoàng tử
Edward, mà còn với bao thế hệ độc giả khắp bên kia bờ Đại Tây
Dương, suốt một thế kỷ nay, kể từ ngày cuốn Anne Tóc Đỏ đầu
tiên ra đời năm 1908.
“Cảm động và giàu chất thơ"
- The Wall Street Journal.
"Cuốn sách thiếu nhi dễ thương nhất, thắm đượm tình cảm nhất."
- Mark Twain.
" Với tư cách một độc giả sách thiếu nhi, tôi chờ đợi từng cuốn như
khi chờ Wendy trong truyện Peter Pan lớn lên."
- Margaret Atwood.
CHƯƠNG 1 - BÀ RACHEL LYNDE BẤT NGỜ
B
à Rachel sống ngay tại nơi con đường chính Avonlea dốc xuống một
thung lũng nhỏ bé được viền quanh bởi cây dương tía và hoa
khuyên tai, róc rách chảy qua là một dòng suối bắt nguồn từ vùng
rừng thưa trên khu đất cũ của nhà Cuthbert; ở phía thượng nguồn,
con suối này nổi tiếng ngoằn ngoèo chảy xiết với rất nhiều thác hồ
ẩn khuất dọc đường; nhưng ngay khi đổ vào thung lũng nhà Lynde
nó lại thành một dòng chảy nhỏ hiền hòa, bởi ngay cả suối cũng
không thể chảy qua cửa nhà bà Rachel Lynde mà không chỉn chu
đúng mực; có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh bà Rachel ngồi bên cửa
sổ, đôi mắt sắc sảo quan sát mọi thứ đi ngang qua, từ dòng suối và
đám trẻ cho đến những thứ khác, và nếu phát hiện được bất cứ thứ
gì lạ thường hay không hợp chỗ, bà sẽ chỉ dừng tra hỏi khi tìm được
câu trả lời thỏa đáng cho tất tần tật mớ “vì sao”, “thế nào”.
Rất nhiều người, cả ở trong lẫn ngoài vùng Avonlea, có thể phải bê
trễ việc nhà nếu muốn lo chuyện thiên hạ; nhưng bà Rachel Lynde
là một trong những sinh vật giỏi giang có khả năng thu xếp ổn thỏa
cả chuyện của mình và chuyện của người khác. Bà là một người nội
trợ mẫu mực; công việc của bà lúc nào cũng được hoàn thành gọn
ghẽ; bà “điều hành” tổ may thêu, tham gia quản lý trường học Chủ
nhật và là thành viên cốt cán của Hội Từ thiện và Truyền giáo Nhà
thờ. Dù vậy, bà Rachel vẫn xoay sở được khối thời gian rảnh để
ngồi hàng giờ bên cửa sổ bếp, vừa đan “chăn sợi bông” – theo
những lời thì thầm kính nể của các bà nội trợ ở Avonlea, tổng cộng
bà đã đan được mười sáu cái – vừa đưa ánh mắt sắc sảo dõi theo
con đường cắt qua thung lũng, uốn lượn chạy lên sườn đồi đỏ dốc
đứng. Vì Avonlea án ngữ trên một bán đảo tam giác nhỏ nhô ra tận
vịnh St Lawrence hai bên bập bềnh nước chảy nên bất kỳ ai ra vào
đều phải băng qua con đường đồi này, và như vậy nằm ngay dưới
tầm soi mói vô hình từ con mắt thấu thị của bà Rachel.
Bà vẫn ngồi tại chỗ đó trong một chiều đầu tháng Sáu. M ặt trời rạng
rỡ ấm áp ghé qua khung cửa sổ; vườn cây ăn quả trên con dốc phía
dưới ngôi nhà trổ từng chùm hoa hồng phấn như hoa cô dâu, thu
hút hàng đàn ong vo ve. Thomas Lynde – người đàn ông nhỏ thó
hiền lành thường được cư dân Avonlea gọi là “ông xã của Rachel
Lynde” – đang gieo mớ hạt củ cải trễ vụ xuống mảnh đất đồi bên
ngoài trang trại; và M atthew Cuthbert lẽ ra cũng đang phải gieo hạt
xuống cánh đồng rộng màu đỏ ven suối nằm ngay cạnh trang trại
Chái Nhà Xanh. Bà Rachel biết ông lẽ ra phải làm thế, vì tối hôm
trước trong cửa hàng vủa William J. Blair ở Carmody, bà đã nghe
ông nói với Peter M orrison rằng ông định gieo hạt củ cải vào chiều
hôm sau. Dĩ nhiên Peter đã hỏi ông, vì chưa bao giờ người ta thấy
M atthew Cuthbert tự nguyện hở ra bất cứ tin tức gì liên quan tới
mình.
Vậy mà M atthew Cuthbert đang ở đây, lúc ba rưỡi chiều một ngày
bận rộn, điềm tĩnh đánh xe qua thung lũng lên đồi; hơn nữa, ông
mặc một cái áo cổ cồn trắng và diện bộ vest oách nhất, bằng chứng
hiển nhiên cho thấy ông đang rời Avonlea; ông còn đánh chiếc xe
độc mã do con ngựa hung kéo, báo hiệu trước mắt là một chặng
đường đáng kể. Vậy thì, M ather Cuthbert đang đi đâu và để làm gì?
Nếu là bất kỳ người nào khác trong Avonlea, bà Rachel, sau khi
khéo léo gắn kết các chi tiết, đã có thể đưa ra một giả thuyết hợp lý
cho cả hai câu trả hỏi. Nhưng M atthew lại hiếm khi ra khỏi nhà đến
nỗi nếu ông đã đi thì ắt hẳn là vì có chuyện gì cần kíp và bất thường
lắm; ông là người nhút nhát nhất trần đời, không thích đi với người
lạ và cũng chẳng muốn đi tới bất cứ chỗ nào có nguy cơ phải nói
chuyện. Ông M atthew, diện áo cổ cồn trắng và đánh xe độc mã, quả
là sự kiện hiếm có. Dù tư lự mức nào bà Rachel vẫn chẳng suy ra
được gì và niềm vui buổi chiều của bà thế là đi tong.
“Sau bữa trà của mình phải sang Chái Nhà Xanh thăm dò M arilla
xem hắn ta đi đâu và vì sao”, cuối cùng người phụ nữ đáng kính kết
luận. “Vào thời điểm này trong năm thì hắn ta chẳng tự nhiên mà ra
tỉnh, và hắn ta chẳng đời nào đi chơi bời; nếu hết củ cải thì đâu cần
đóng bộ chỉnh tề đem theo xe độc mã chứ; mà hắn đánh xe cũng
chẳng đủ nhanh để đi đón bác sĩ. Vậy thì tối qua đã xảy ra chuyện
gì đó buộc hắn phải đi xa. M ình sẽ giải câu đố này, vậy đấy, và
mình sẽ chẳng thể nào tìm được một phút thư thái nếu chưa biết
được hôm nay M atthew Cuthbert rời Avonlea làm gì.”
Thế là sau bữa trà bà Rachel khởi hành; bà không phải đi đâu xa;
ngôi nhà lớn phủ đầy dây leo khuất bóng sau vườn cây ăn trái, nơi
cư ngụ của gia đình Cuthbert, chỉ cách con đường chạy qua thung
lũng Lynde chưa dến một phần tư dặm. Dĩ nhiên, con đường mòn
chạy dài khiến khoảng cách xa hơn rất nhiều. Cha M atthew
Cuthbert, cũng lặng lẽ và rụt rè như cậu con trai, khi tìm nơi định
cư đã cố hết sức tránh xa bạn bè hàng xóm, miễn là còn chưa phải
vào hẳn trong rừng. Chái Nhà Xanh được dựng ở rìa xa nhất của
mảnh đất ông khai phá được, và nó vẫn ở đó cho đến ngày nay, hầu
như không thể nhìn thấy được nếu đứng trên con đường cái mà
thường tất cả căn nhà Avonlea khác đều muốn kéo lại gần. Bà
Rachel Lynde không thể gọi cuộc sống ở một nơi như thế này gọi là
sống được.
“Chỉ là ở thôi”, bà nói khi rảo bước theo con đường lún sâu cỏ mọc
rậm rạp với hai hàng hồng dại chạy dọc. “Sống ẩn dật ở đây, chẳng
trách M atthew và M arilla đều có phần kỳ quặc. Cây cối không
phải bạn đồng hành tốt, tuy nhiên có trời mới biết, có khi với họ
thế là đủ rồi. M ình thích ngắm người qua lại hơn. Dĩ nhiên, họ có vẻ
hài lòng; nhưng mình đoán là do họ thích ứng với hoàn cảnh thôi.
Cơ thể có thể thích ứng với mọi thứ, kể cả việc bị treo lên, người
Ailen chẳng nói thế là gì”.
Vừa thẩn thơ suy nghĩ, bà Rachel vừa bước ra khỏi con đường nhỏ
dẫn vào sân sau của Chái Nhà Xanh. Khoảng sân xanh um và gọn
gàng, bên này các cây liễu cổ thụ rũ bóng, bên kia là hàng dương
được cắt tỉa cẩn thận. Không có đến một nhánh cây gãy hay viên đá
nào, nếu có, chúng quyết không thoát khỏi cặp mắt của bà Rachel.
Bà dám chắc M arilla Cuthbert quét cái sân này thường xuyên như
quét nhà. Ai lỡ làm rớt thức ăn trên đó hẳn cũng có thể lượm lên ăn
mà không lo tiêu thụ vượt quá trọng lượng chất bẩn thực phẩm tiêu
chuẩn.
Bà Rachel khẽ gõ cửa bếp và bước vào khi được mời. Bếp ở Chái
Nhà Xanh là một gian phòng vui mắt, hay có lẽ sẽ vui mắt nếu nó
không sạch như ly như lau cứ như một phòng khách chưa từng
dùng tới. Cửa sổ trổ theo hướng Đông và Tây nhìn ra khoảng sân
sau tràn ngập ánh nắng tháng Sáu ngọt ngào, nhưng cửa sổ hướng
Đông, nơi từ đó ta có thể thấy thấp thoáng những cây anh đào nở
hoa trắng muốt trong vườn cây ăn quả phía bên trái và những cây
phong mảnh dẻ dịu dàng cúi đầu trong thung lũng ven dòng suối, lại
xanh mướt những dây nho quấn quýt. M arilla Cuthbert ngồi đó,
như bà vẫn thường ngồi, lúc nào cũng tỏ ra hơi nghi ngờ cái ánh
nắng mà theo bà có vẻ là một thứ quá tùy biến và vô trách nhiệm
trong thế giới mọi thứ đều phải nghiêm chỉnh này; và giờ đây bà
đang ngồi đan ở đó, sau lưng là chiếc bàn dọn sẵn cho bữa tối.
Bà Rachel, trước khi khép hẳn cửa, đã nhẩm trong đầu tất cả những
thứ trên bàn. Có ba cái đĩa, vậy là M arilla hẳn đang chờ ai đó cùng
M atthew về nhà dùng trà; nhưng món ăn chỉ là món thường ngày
với mứt táo chua và bánh ngọt, nên người bạn đồng hành đang được
mong ngóng đó cũng chẳng thể là nhân vật nào đặc biệt. Vậy thì giải
thích sao cho cái cổ áo trắng của M atthew và con ngựa hung? Bà
Rachel càng lúc càng thấy rối tinh lên trước tấm màn bí ẩn bất
thường về Chái Nhà Xanh vốn vẫn lặng lẽ và chẳng hề bí ẩn này.
“Chào chị, Rachel”, bà M arilla vui vẻ nói. “Buổi tối đẹp trời nhỉ?
Chị ngồi xuống đi nào. M ọi người vẫn khỏe cả chứ?”
M ối quan hệ, có thể được gọi là tình bạn nếu chẳng còn biết dùng
cái tên nào khác, đã tồn tại và vẫn luôn tồn tại giữa bà M arilla
Cuthbert và bà Rachel, mặc cho – hoặc có lẽ là do – sự khác biệt
giữa họ.
Bà M arilla là người cao gầy, thân hình chỉ thấy toàn góc cạnh chứ
chẳng có đường cong nào; mái tóc đen loáng với hai chiếc kẹp bằng
dây thép xuyên thẳng qua. Bà có vẻ - mà cũng thực sự - là mẫu phụ
nữ cứng nhắc, chưa từng trải; nhưng có vẻ gì đó ẩn giấu sau khóe
miệng, nếu nhếch thêm tí nữa có thể sẽ là dấu hiệu của khiếu hài
hước tiềm ẩn.
“M ọi người khỏe cả,” Bà Rachel đáp. “Nhưng hồi chiều nhác thấy
M atthew đi, tôi cứ e là cô không ổn. Tôi tưởng ông ấy đi mời bác
sĩ.
”Bà M arilla khẽ nhoẻn miệng cười vẻ thông cảm. Thật ra bà đang
chờ bà Rachel đến; Bà biết việc ông M athew xuất hành bất ngờ như
thế dĩ nhiên sẽ kích thích hiếu kỳ của bà bạn hàng xóm.
“Ồ không, tôi vẫn khỏe, mặc dù hôm qua có hơi nhức đầu,” bà nói.
“M atthew phải đi Bright River. Chúng tôi định đón một đứa bé trai
từ trại trẻ mồ côi ở Nova Scotia và cậu bé sẽ xuống tàu hỏa tối
nay.”
Bà M arilla có nói ông M atthew đến Bright River để thăm một chú
Kangaroo nước Úc chắc cũng chẳng biết thế nào làm bà Rachel sững
sờ hơn thế này. Bà đứng chết trân đến tận năm giây. Chẳng có vẻ gì
là bà M arilla đang nói đùa, nhưng bà Rachel thà tin thế còn hơn.
“Cô nói thật hả, M arilla?” Cuối cùng bà cũng nặn ra được một câu
hỏi.
“Vâng, dĩ nhiên,” bà M arilla trả lời, cứ như đón các cậu nhóc từ
những trại mồ côi ở Nova Scotia về chẳng phải tin tức không tưởng
động trời gì mà chỉ là một phần công việc thường lệ mùa xuân trong
bất kỳ nông trại bình thường nào trên đất Avonlea này vậy.
“Cái quái gì khiến cô nảy ra ý tưởng đó vậy?” bà hỏi sỗ sàng.
Chuyện này đã được tiến hành mà chẳng ai thèm hỏi ý kiến bà, và
đương nhiên phải bị bác bỏ.
“À, chúng tôi đã suy nghĩ về chuyện này khá lâu rồi, thật ra là suốt
cả mùa đông,” bà M arilla đáp. “Trước Giáng sinh một ngày, bà
Alexander Spencer có ghé đây và khóc là đến mùa xuân sẽ nhận
nuôi một bé gái từ trại trẻ mồ côi ở Hopetown. Bà Spencer có
người chị họ sống ở đó nên đã đến thăm bà ấy và hiểu rõ tình hình.
Cho nên tôi và M atthew bàn tới bàn lui mãi. Chúng tôi nghĩ mình
nên nhận nuôi một thằng bé. M atthew cũng có tuổi rồi, chị biết đó,
anh ấy đã sáu mươi, chẳng còn linh hoạt được như xưa nữa. Tim
anh ấy không khỏe lắm. Và chị biết mướn người giúp việc khó thế
nào rồi đấy. Chả có ai ngoài mấy thằng bé người Pháp ngốc nghếch,
dở dở ương ương; chỉ cần mình giận dữ hay dạy dỗ chuyện gì là nó
cắt luôn, giông xuống mấy nhà máy tôm hùm đóng hộp hay lượn
thẳng sang M ỹ. Lúc đầu M atthew định nhận một thằng bé
Barnardo [1]. Nhưng tôi đã thẳng thắn nói 'không'. 'Có lẽ tốt thật
– em không nói là không – nhưng em không muốn trẻ vô gia cư từ
London,' tôi đã bảo anh ấy thế. 'Ít nhất cũng phải là một đứa bé
bản địa. Dĩ nhiên cho dù nhận đứa nào thì anh em mình cũng vẫn sẽ
thấy thanh thản và ngủ ngon hơn nếu chúng ta nhận một bé người
Canada.' Vậy là cuối cùng chúng tôi quyết định nhờ bà Spencer
chọn dùm một đứa khi bà ấy đón bé gái của mình. Biết là cuối tuần
rồi bà ấy sẽ đi nên chúng tôi nhờ người nhà của Richard Spencer ở
Carmody nhắn bà ấy giúp chúng tôi nhận nuôi một đứa bé trai lanh
lợi, dễ mến khoảng mười tuổi, mười một tuổi. Chúng tôi nghĩ tuổi
đó là tốt nhất – đủ lớn để phụ giúp chút ít việc nhà và đủ nhỏ để có
thể uốn nắn đúng đắn. Chúng tôi sẽ cho nó một mái ấm và học hành
đầy đủ. Hôm nay M atthew và tôi vừa nhận được điện tín của bà
Alexander Spencer – người đưa thư mang từ trạm tới – bảo rằng họ
sẽ tới trên chuyến tàu năm rưỡi tối. Vì vậy M atthew đã tới Bright
River để đón thằng bé. Bà Spencer sẽ cho nó xuống ở đó. Tất nhiên
bà ấy sẽ tới thẳng trạm White Sands.”
Bà Rachel luôn tự hào lúc nào cũng có cách nói lên suy nghĩ của
mình; giờ đây bà đang chuẩn bị thực hiện điều đó, sau khi đã điều
chỉnh đầu óc của mình để tiếp nhận những thông tin đáng ngạc
nhiên này.
“Được rồi, M arilla, tôi sẽ nói thẳng là tôi nghĩ cô đang làm một việc
cực kỳ ngốc nghếch – một việc mạo hiểm, vậy đó. Cô không biết cô
đang dính vào chuyện gì đâu. Cô mang một đứa trẻ lạ hoắc vào nhà
mình, vào gia đình mình mà cô thì lại chẳng biết tí gì về nó, không
biết tính tình nó ra sao, cha mẹ nó như thế nào, hoặc giả nó sẽ trở
thành người thế nào. Sao chứ, mới tuần trước thôi nhé, tôi đọc trên
báo thấy có một đôi vợ chồng sống ở mạn Tây của Đảo nhận nuôi
một thằng bé từ trại trẻ mồ côi, và nó đã thiêu rụi cả căn nhà trong
một đêm – cố ý nhé. M arilla – còn họ suýt bị nướng chín trên
giường. Tôi còn biết một trường hợp khác, thằng bé con nuôi cứ
suốt ngày hút trứng – họ không sao kéo nó ra khỏi cái trò đó được.
Nếu cô xin tôi lời khuyên về cấn đề này – mà cô đâu có làm vậy,
M arilla – tôi hẳn đã bảo cô, vì Chúa, đừng có nghĩ đến những việc
như thế, vậy đó.”
Những lời khuyên can này chẳng làm bà M arilla giận dữ hay lo
lắng. Bà vẫn đều tay đan.
“Tôi không phủ nhận rằng chị nói cũng có phần đúng Rachel ạ. Bản
thân tôi cũng nghi ngại. Nhưng M atthew rất kiên quyết. Tôi có thể
nhận thấy điều đó, nên đành nhượng bộ. Hiếm khi thấy M atthew
kiên quyết chuyện gì nên một khi anh ấy như thế thì lúc nào tôi
cũng cảm thấy mình có nghĩa vụ phải chấp nhận. Về chuyện mạo
hiểm, thật ra nguy cơ gần như tiềm ẩn trong tất cả những gì chúng
ta làm trên đời này. Tự sinh con ra cũng đâu phải an toàn hẳn, ai
biết chúng lớn lên sẽ trở nên thế nào. Hơn nữa Nova Scotia sát
ngay Đảo. Có phải chúng tôi nhận đứa bé từ Anh hay M ỹ đâu.
Hẳn nó cũng chẳng khác chúng ta quá.”
“Được thôi, tôi cũng mong mọi việc sẽ ổn,” bà Rachel nói với vẻ
ngờ vực lồ lộ trong giọng. “Chỉ có điều đừng trách tôi không báo
trước nếu nó đốt trụi Chái Nhà Xanh hoặc cho thuốc độc vào giếng
nhé – tôi đã nghe một trường hợp như thế ở New Brunswick rồi,
đứa bé từ trại trẻ đã làm cho cả nhà chết tức tưởi. Chỉ có điều,
trong vụ đó là một con bé.”
“Đấy, tụi tôi đâu có nhận bé gái,” bà M arilla nói, như thể đầu độc
nước giếng là tội lỗi thuần túy mang tính phụ nữ, chẳng thể nào liên
hệ với một đứa bé trai. “Tôi chẳng bao giờ mơ đến chuyện nuôi một
bé gái. Tôi không hiểu sao bà Alexander Spencer có thể làm điều đó.
Nhưng nghĩ lại, bà ấy sẽ chẳng gần ngại nhận nuôi luôn cả trại trẻ
nếu ý tưởng đó vụt qua đầu mình.”
Bà Rachel định ở lại cho đến lúc ông M atthew trở về nhà với đứa
bé mồ côi đó. Nhưng nhớ ra ít nhất phải mất hai tiếng nữa ông mới
về, bà quyết định lên đường tới nhà Robert Bell báo tin. Chắc chắn
sẽ là một tin giật gân, và bà Rachel lúc nào cũng thích cung cấp
những tin giật gân. Vì vậy bà đứng dậy, một hành động khiến bà
M arilla thở phào nhẹ nhõm, vì bản thân bà M arilla cũng bắt đầu
cảm thấy tất cả lo ngại và sợ hãi của mình sống dậy dưới ảnh hưởng
bi quan từ bà hàng xóm.
“Trời, chẳng hiểu việc gì đã và sẽ diễn ra nữa!” bà Rachel thốt lên
khi vừa an toàn ra khỏi đường mòn. “Cứ như mình đang nằm mơ.
Ôi, mình thật thấy tội nghiệp cho đứa bé ấy, chẳng nghi ngờ gì nữa.
M atthew và M arilla chẳng biết tí gì về trẻ con và hẳn họ mong nó
thông thái và dày dạn hơn cả ông nội nó, nếu nó có một người ông
thật, mà mình thì ngờ lắm. Dù sao cũng thật kỳ lạ khi nghĩ đến
chuyện có một đứa bé ở Chái Nhà Xanh; từng có đứa nào ở đó đâu
chứ, khi căn nhà đó xây xong thì M atthew và M arilla đều đã lớn cả
rồi – nếu họ từng có thời là trẻ con thật thì nhìn họ cũng khó mà tin
nỗi điều đó. M ình chẳng muốn dính đến thằng bé mồ côi ấy tí nào.
Ôi trời, dù sao cũng thật tội nghiệp nó, vậy đó.”
Bà Rachel lầm bầm với bụi hồng dại những lời tự đáy lòng như thế,
nhưng nếu bà có thể nhìn thấy đứa trẻ đúng lúc đó đang kiên nhẫn
đứng chờ ở trạm Bright River thì nỗi cảm thương của bà hẳn sẽ còn
mạnh mẽ và sâu sắc hơn nhiều.
Chú thích
[1] Có lẽ bà Marilla sử dụng từ “cậu bé Barnardo” theo nghĩa thông thường, ám chỉ những
đứa trẻ người Anh - thường là trẻ mồ côi - được đưa sang lao động chân tay tại các
nước thuộc địa thời kỳ những năm 1800.
Ô
CHƯƠNG 2 - ÔNG MATTHEW CUTHBERT
BẤT NGỜ
ng M atthew Cuthbert và cô ngựa hung
nhẹ nhàng thả bước qua tám dặm
đường đến Bright River. Đó là một con
đường đẹp, chạy dọc những nông trại
xinh xắn, thỉnh thoảng lại xuyên qua
một khu rừng linh sam nhỏ hay một
thung lũng đầy cây mận dại đang nở
bung những cánh hoa mỏng tang.
Không khí thấm đẫm mùi hương ngọt
ngào tỏa ra từ những vườn táo và
những cánh đồng cỏ nghiêng nghiêng trải dài đến tận đường chân
trời lấp lánh ánh ngọc trai tim tím, trong khi đó
"Chim nhỏ cất tiếng dịu dàng
Như ngày hè độc nhất ươm vàng cả năm."
Ông M atthew tận hưởng chuyến đi theo cách riêng, chỉ trừ những
lúc ông gặp mấy phụ nữ và phải gật đầu chào họ - vì ở đảo Hoàng
tử Edward bạn phải gật đầu chào bất cứ ai bạn gặp trên đường dù
có quen biết hay không.
Ông rất sợ tất cả phụ nữ, trừ bà M arilla và bà Rachel; ông có một
cảm giác rất khó chịu là các sinh vật khó hiểu đó đang cười thầm
sau lưng mình. Có thể suy nghĩ của ông cũng đúng phần nào, vì ông
có vẻ ngoài khá kỳ quặc, dáng lóng ngóng mái tóc xám xỉn dài chấm
đôi vai gù, đệm thêm bộ râu quai nón dày, mềm mại ông nuôi từ hồi
hai mươi mốt tuổi. Thật ra, lúc hai mươi trông ông cũng chẳng khác
lúc sáu mươi là mấy, chỉ bớt ảm đạm hơn tí chút.
Khi ông tới Bright River, chẳng thấy bóng dáng chiếc tàu hỏa nào;
ông nghĩ mình đến sớm quá nên buộc ngựa vào sân khách sạn nhỏ
Bright River rồi bước tới nhà ga. Sân ga dài gần như trống huơ trống
hoác, sinh vật duy nhất hiển hiện trong tầm mắt là một bé gái ngồi
trên đống đá cuội ở tận cuối ga. Ông M atthew, biết chắc đó là một
bé gái, đưa ánh mắt trượt qua nhanh hết mức chứ không mảy may
liếc nhìn. Nếu nhìn thì hẳn ông đã khó lòng bỏ qua thái độ và biểu
hiện vừa căng thẳng vừa hy vọng tột độ của con bé. Có vẻ con bé
đang ngồi đợi điều gì hay ai đó, và vì ngồi và chờ đợi là những việc
duy nhất có thể làm khi ấy nên con bé đã ngồi và chờ đợi với tất cả
tâm tư tình cảm của mình.
Ông M atthew đến gặp viên trưởng ga, lúc này đang lúi húi khóa
cửa phòng vé chuẩn bị về nhà ăn tối, để hỏi khi nào chuyến tàu năm
giờ rưỡi sẽ tới.
“Chuyến tàu năm rưỡi đã đến và đi nửa tiếng trước rồi,” viên
trưởng ga nhanh nhảu đáp. “Nhưng có một hành khách được gửi lại
cho ông đấy – một bé gái. Nó ngồi ở đống đá cuội ngoài kia kìa. Tôi
đã bảo con bé vào phòng chờ nữ, nhưng nó lại trang trọng đáp rằng
thích ngồi ngoài kia hơn. 'Ở đó trí tưởng tượng có thể bay xa hơn,'
nó bảo thế. Phải nói, con bé đặc biệt đấy.”
“Tôi không chờ một con bé,” ông M atthew ngây người nói. “Tôi
đến để đón một bé trai mà. Thằng bé lẽ ra phải ở đây. Bà Alexander
Spencer đem nó từ Nova Scotia về đây cho tôi.”
Ông trưởng ga huýt sáo.
“Chắc có lầm lẫn rồi,” ông bảo. “bà Spencer đã xuống tàu với bé gái
đó và giao nó cho tôi. Bảo rằng ông và em gái nhận nuôi con bé từ
trại mồ côi và ông sẽ đến đón nó ngay. Tôi chỉ biết thế thôi – tôi
chẳng giấu đứa trẻ mồ côi nào quanh đây cả.”
“Tôi không hiểu,” ông M atthew kêu lên vô vọng, ước gì bà M arlla
có ở đây để đối phó với tình hình.
“À, tốt hơn ông nên hỏi con bé,” trưởng ga lơ đễnh trả lời. “Tôi
dám chắc nó sẽ giải thích được thôi – miệng lưỡi lanh lẹ lắm, chắc
chắn đấy. Có thể họ hết con trai theo tiêu chuẩn ông muốn rồi.”
Ông nhanh nhảu bước đi vẻ đói bụng, bỏ lại ông già M atthew tội
nghiệp với nhiệm vụ còn khó hơn vào hang vuốt râu hùm – bước
đến chỗ con bé – một bé gái hoàn toàn xa lạ - một bé gái mồ côi – và
hỏi nó tại sao nó không phải là con trai. Ông M atthew quay người
mà trong lòng rên rỉ, lê chân xuống sân ga tiến về phía con bé.
Con bé đã dõi mắt theo ông từ lúc ông lướt qua và bây giờ vẫn đang
dán mắt vào ông. M atthew lúc trước không nhìn con bé, mà nếu có
nhìn ông cũng không nhận ra dáng vẻ thật sự của nó, nhưng một
người quan sát bình thường có thể nhận thấy thế này: một đứa trẻ
chừng mười tuổi, mặc một chiếc váy rất ngắn, rất chặt, rất xấu bằng
vải pha len màu xám vàng. Con bé đội chiếc mũ thủy thủ nâu bạc
màu, và bên dưới cái mũ là hai bím tóc đỏ rực rất dày buông dài sau
lưng. Khuôn mặt nhỏ, trắng và gầy, lại còn nhiều tàn nhang; cái
miệng rộng và đôi mắt cũng to không kém, nửa lấp lánh xanh lá, nửa
xám đầy tâm trạng.
Với người quan sát thông thường thì như vậy, còn những người tinh
hơn sẽ để ý thấy cái cằm nhọn và dứt khoát, đôi mắt to hoạt bát
tràn đầy sức sống; cái miệng duyên dáng biểu cảm, trán rộng và cao;
tóm lại, quan sát viên tinh tế sáng suốt của chúng ta có thể kết luận
rằng một tâm hồn không tầm thường chút nào đang trú ẩn trong cơ
thể con bé – phụ nữ lưu lạc vốn đang làm M atthew Cuthbert nhút
nhát phải e sợ đến mức nực cười này.
Tuy nhiên, ông M atthew đã thoát khỏi thử thách phải lên tiếng
trước, vì ngay khi kết luận rằng ông đến để đón mình, con bé đứng
dậy, một bàn tay khẳng khiu ngăm ngăm nắm chặt chiếc túi hành lý
lỗi thời cũ kỹ; tay còn lại chìa ra cho ông.
“Con đoán bác là bác M atthew Cuthbert của Chái Nhà Xanh?” con
bé nói bằng giọng dễ thương và trong trẻo khác thường. “Con rất
vui được gặp bác. Con đã bắt đầu lo là bác sẽ không đến đón và con
đã tưởng tượng ra những chuyện khiến bác không đến. Con đã
quyết định là nếu tối nay mà bác vẫn không đến thì con sẽ theo
đường mòn xuống chỗ cây anh đào dại lớn ở khúc quanh rồi trèo lên
đó ngủ qua đêm. Con sẽ không sợ, và thật tuyệt nếu có thể ngủ trên
một cây anh đào dại nở bông trắng xóa dưới ánh trăng, bác nhỉ? Ta
có thể không tưởng tượng mình đang ngủ trong một sảnh đá hoa
cương, đúng không bác? Và con chắc chắn rằng nếu không phải tối
nay thì sáng mai bác sẽ đến đón con thôi.”
Ông M atthew ngượng nghịu nắm bàn tay nhỏ bé lẻo khẻo trong tay
mình, và chính giây phút đó ông đã quyết định phải làm gì. Ông
không thể nói với đứa trẻ có đôi mắt lấp lánh này rằng đã có nhầm
lẫn; ông sẽ chở con bé về nhà và để M arlla làm điều đó. Dù sao đi
nữa cũng không thể để con bé lại Bright River, nhầm lẫn gì thì cũng
mặc, mọi hỏi han giải thích đều có thể hoãn lại đến khi ông về Chái
Nhà Xanh an toàn.
“Bác xin lỗi đã đến trễ,” ông rụt rè nói. “Tới đây nào. Ngựa ở bên
kia sân. Đưa túi của con đây.”
“Ồ, con mang được mà,” đứa bé vui vẻ trả lời. “Không nặng đâu.
Con đã bỏ tất cả những thứ đáng giá của mình vào đó, nhưng không
nặng chút nào. M à nếu xách không đúng cách, cái tay cầm sẽ bung
ngay – nên tốt hơn là con nên tự xách vì con biết cách. Cái túi du
lịch này cũ lắm rồi. Ồ, con rất vui vì bác đã tới, mặc dù ngủ trên cây
anh đào dại cũng là một ý tưởng thật dễ thương. Chúng ta phải đi xe
một đoạn khá xa, đúng không ạ? Bà Spencer nói rằng khoảng tám
dặm. Con vui lắm, vì con thích đi xe. Ồ, thật tuyệt vời khi có thể
sống với bác và thuộc về bác. Con chưa bao giờ thuộc về ai – không
hẳn. Nhưng trại tế bần là tệ nhất. Con chỉ ở đó có bốn tháng, nhưng
vậy cũng đã đủ lắm rồi. Con không nghĩ rằng bác từng là trẻ mồ côi
trong trại tế bần, nên bác có lẽ không thể hiểu được nó thế nào đâu.
Tệ hơn bất kỳ thứ gì bác có thể tưởng tượng ra. Bà Spencer bảo
con nói thế là rất hư, nhưng con không định hư đâu. Thật dễ mà vô
tình trở thành hư đốn, phải không bác? Họ rất tốt, bác biết đấy –
những người trong trại ấy. Nhưng trong đó có quá ít thứ để thả cho
trí tưởng tượng bay bổng – chỉ có thể tưởng tượng chuyện này
chuyện kia về các bạn ấy – tưởng tượng rằng có lẽ cô bé ngồi kế bên
mình nhật ra là con gái của một bá tước, từ khi còn ẵm ngửa đã bị
một y tá ác độc đánh cắp khỏi tay cha mẹ và bà này lại chết trước
khi có thể tự thú. Con thường thức đêm để tưởng tượng những thứ
như thế, vì ban ngày con không có thời gian. Con đoán đó là lý do
khiến con quá gầy – con ốm dễ sợ, phải không ạ? Con chẳng có da
thịt gì cả. Con thích tưởng tượng mình dễ thương và mũm mĩm, có
những chỗ lúm ở khuỷu tay.”
Đến đó, bạn đồng hành của ông M atthew chợt ngưng nói, phần vì
con bé hết hơi, phần vì họ đã ra đến chỗ xe ngựa và xe xuôi xuống
lớp đất mềm dẫn đến tận triền sông có hàng anh đào dại đang độ
bung cánh và những cây phong lan trắng mảnh khảnh đung đưa
cách đầu họ vài bộ.
Đứa trẻ vươn tay bẻ một nhánh mận dại quét ngang hông xe ngựa.
“Đẹp không bác? Cái cây vươn ra khỏi bờ sông, trông như ren
trắng xóa làm bác nghĩ đến cái gì không?” con bé hỏi.
“À ừ, bác không biết,” ông M atthew đáp.
“Sao chứ, tất nhiên là một cô dâu rồi – một cô dâu mặc toàn màu
trắng với tấm mạng che mặt bí ẩn đáng yêu. Con chưa từng nhìn
thấy một cô dâu nào, nhưng con có thể hình dung ra cô ấy. Con
chưa bao giờ hy vọng mình có thể làm cô dâu. Con xấu xí đến nỗi sẽ
chẳng ai muốn lấy làm vợ - trừ phi đó là một nhà truyền giáo nước
ngoài. Con nghĩ một nhà truyền giáo nước ngoài chắc cũng không
đặc biệt lắm. Nhưng con hy vọng ngày nào đó có thể mặc đầm
trắng. Đây là ý nghĩ hạnh phúc nhất mà con có thể tưởng tượng
được. Con thích quần áo đẹp. Và cả đời con, con chưa bao giờ có
được một cái váy đẹp nào – nhưng dĩ nhiên vẫn còn nhiều thứ để
mong đợi, phải không ạ? Và con có thể tưởng tượng ra cảnh mình
ăn mặc thật lộng lẫy. Sáng nay khi rời trại mồ côi, con thấy thật xấu
hổ vì mình phải mặc cái váy bằng vải pha len cũ rích trông phát
kinh lên được này. Tất cả trẻ mồ côi đều phải mặc thế, bác biết đó.
M ùa đông vừa rồi, một lái buôn ở Hopetown đã hiến ba trăm thước
vải pha len cho trại. Nhiều người nói tại ông ấy không bán chúng
được, nhưng con lại tin rằng nó xuất phát từ trái tim nhân hậu của
ông ấy, phải không bác? Khi lên tàu, con cứ có cảm giác như mọi
người hẳn đ...
Tác giả: L.M. Montgomery
Thể loại: Tuổi Học Trò
Biên tập: Yen
Created by: http://motsach.info
Date: 17-June-2014
Kho ebook online
(http://daotieuvu.blogspot.com)
Tên ebook: Anne Tóc Đỏ dưới chái
nhà xanh
Tác giả: Lucy Maud Montgomery
Thể loại: 100 Cuốn sách giá trị nhất thế giới,
Sách hay, Sách teen, Tiểu thuyết, Văn học
phương Tây
Công ty phát hành: Nhã Nam
Nhà xuất bản: NXB Hội Nhà Văn
Trọng lượng vận chuyển: 520 grams
Kích thước: 14 x 20.5 cm
Số trang: 432
Ngày xuất bản: 03/2010
Nguồn: motsach.info
Ebook: http://daotieuvu.blogspot.com
Bìa sách Anne Tóc Đỏ dưới chái nhà xanh - Lucy
Maud Montgomery
Giới thiệu:
Khi Matthew và Marilla Cuthbert ngỏ lời với một trại
trẻ mồ côi để xin một cậu bé về đỡ đần họ tại nông
trang Green Gables, cả hai sửng sốt khi thấy bước
ra khỏi tàu là một cô bé lắm mồm, tên là Anne.
Anne, tóc đỏ, hay gây gổ và lãng mạn vô phương
cứu chữa - cô đã xáo trộn cả Green Gable lẫn ngôi
làng quanh đó. Nhưng sự hóm hỉnh và thiện tính
trong cô lại khiến cô được yêu mến không ngớt,
không chỉ với cộng đồng tưởng tượng của Đảo
Hoàng tử Edward, mà còn với bao thế hệ độc giả
khắp bên kia bờ Đại Tây Dương, suốt một thế kỷ
nay, kể từ ngày cuốn Anne Tóc đỏ đầu tiên ra đời
năm 1908.
----“Cuốn sách thiếu nhi dễ thương nhất, thắm đượm
tình cảm nhất.”
- Mark Twain
“Với tư cách một độc giả sách thiếu nhi, tôi chờ đời
từng cuốn như khi chờ Wendy trong truyện Peter
Pan lớn lên.”
- Margaret Atwood
Báo Chí Giới Thiệu:
Đầu năm nay, cuốn tiểu thuyết mang tên Anne of
Green Gables - Anne Tóc Đỏ dưới chái nhà xanh,
tác phẩm kinh điển của văn học Canada đã đến tay
độc giả Việt Nam.
Anne of Green Gables - Anne Tóc Đỏ dưới chái
nhà xanh là cuốn tiểu thuyết đầu tiên nằm trong
series tác phẩm về Anne Shirley của nữ nhà văn nhà báo Lucy Maud Montgomery xuất bản lần đầu
năm 1908 đã bất ngờ mang về những thành công
vang dội. L.C. Montgomery cùng cô bé tóc đỏ của
bà trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới, suốt từ thời
điểm đó cho đến tận ngày nay, khi hơn một thế kỷ
đã trôi qua. Cuốn sách được xuất bản bằng hơn 30
ngôn ngữ, bán được tới hơn 50 triệu bản, đưa
Montgomery trở thành một trong những nhà văn
bestseller của mọi thời đại.
Anne of Green Gables - Anne Tóc Đỏ dưới chái
nhà xanh xoay quanh thời niên thiếu của cô bé mồ
côi Anne Shirley - một cô bé vô cùng đặc biệt, với
mái tóc đỏ hoe, khuôn mặt đầy tàn nhang và cơ
thể gày gò, mảnh khảnh. Cô bé ấy luôn cho rằng
chẳng có ai cần mình, cho đến một ngày nó được
hai anh em Matthew Cuthbert và Marilla Cullbert
nhận nuôi. Anne đã vô cùng vui sướng cho đến khi
nhận ra một sự nhầm lẫn khủng khiếp: Chái Nhà
Xanh của gia đình Cuthbert thực tế cần một đứa bé
trai chứ không phải bé gái. Nhưng cuối cùng, Anne
cũng được giữ lại nhờ lòng thương và cảm nhận
"thú vị" mà những con người ở Chái Nhà Xanh
dành cho cô bé.
Từ đây, một cuộc đời mới mở ra với Anne, và cũng
là khi bạn đọc bị lôi cuốn vào một thế giới hấp dẫn,
lấy bổi cảnh là ngôi làng nhỏ Avonlea của đảo
Hoàng tử Edward, miền đông Canada - cũng là quê
hương của chính tác giả.
Anne Shirley là một cô bé đặc biệt cả về hình thức
và tính cách. Luôn nổi bật bởi mái tóc đỏ kỳ cục,
Anne còn khiến mọi người phải chú ý bởi một cá
tính đặc biệt: nói không ngớt, đặc biệt thích dùng
những từ "đao to búa lớn", lúc nào cũng thích
tưởng tượng ra mọi chuyện, vô cùng nhạy cảm nên
cũng vô cùng dễ bị kích động.
Nhưng chính trong những điều đặc biệt thú vị ấy,
người ta nhận ra một Anne thông minh, độc lập,
một Anne yêu - ghét rạch ròi, một Anne với trái tim
trong sáng và tâm hồn thánh thiện, biết rung động
trước mọi cái đẹp của cuộc đời, một Anne lúc nào
cũng căng tràn sức sống, nhiều lạc quan, hy vọng
và tin tưởng.
Trọn bộ 8 cuốn Anne tóc đỏ gồm:
- Anne tóc đỏ dưới Chái Nhà Xanh - Anne tóc đỏ làng
Avonlea - Anne tóc đỏ ở đảo Hoàng Tử Edward - Anne
tóc đỏ dưới mái nhà Bạch Dương - Anne tóc đỏ và
Ngôi Nhà Mơ Ước - Anne dưới mái nhà Bên Ánh Lửa Thung lũng Cầu Vồng - Rilla dưới mái nhà Bên Ánh
Lửa
Mời các bạn đón đọc Anne tóc đỏ dưới chái nhà
xanh của tác giả Lucy Maud Montgom ery
GIỚI THIỆU
L
ucy M aud M ontgomery chào đời tại Clifton (vùng New London
ngày nay), thuộc đảo Hoàng tử Edward, Canada vào ngày
30/11/1874.
Năm 1908, bà xuất bản cuốn đầu tiên của bộ truyện kinh điển về cô
bé Anne Tóc đỏ và gặt hái thành công vang dội.
Đến nay cuốn sách đã được xuất bản bằng hơn 30 ngôn ngữ, bán
được hơn 50 triệu bản, đưa M ontgomery trở thành một trong
những nhà văn best-seller của mọi thời đại.
Khi M atthew và M arilla Cuthbert ngỏ lời với một trại trẻ mồ côi để
xin một cậu bé về đỡ đần họ tại nông trang Green Gables, cả hai
sửng sốt khi thấy bước ra khỏi tàu là một cô bé lắm mồm, tên là
Anne.
Anne, tóc đỏ, hay gây gổ và lãng mạn vô phương cứu chữa - cô đã
làm xáo trộn cả Green Gables lẫn ngôi làng quanh đó. Nhưng sự
hóm hỉnh và thiện tính trong cô lại khiến cô được yêu mến không
ngớt, không chỉ với cộng đồng tưởng tượng của Đảo Hoàng tử
Edward, mà còn với bao thế hệ độc giả khắp bên kia bờ Đại Tây
Dương, suốt một thế kỷ nay, kể từ ngày cuốn Anne Tóc Đỏ đầu
tiên ra đời năm 1908.
“Cảm động và giàu chất thơ"
- The Wall Street Journal.
"Cuốn sách thiếu nhi dễ thương nhất, thắm đượm tình cảm nhất."
- Mark Twain.
" Với tư cách một độc giả sách thiếu nhi, tôi chờ đợi từng cuốn như
khi chờ Wendy trong truyện Peter Pan lớn lên."
- Margaret Atwood.
CHƯƠNG 1 - BÀ RACHEL LYNDE BẤT NGỜ
B
à Rachel sống ngay tại nơi con đường chính Avonlea dốc xuống một
thung lũng nhỏ bé được viền quanh bởi cây dương tía và hoa
khuyên tai, róc rách chảy qua là một dòng suối bắt nguồn từ vùng
rừng thưa trên khu đất cũ của nhà Cuthbert; ở phía thượng nguồn,
con suối này nổi tiếng ngoằn ngoèo chảy xiết với rất nhiều thác hồ
ẩn khuất dọc đường; nhưng ngay khi đổ vào thung lũng nhà Lynde
nó lại thành một dòng chảy nhỏ hiền hòa, bởi ngay cả suối cũng
không thể chảy qua cửa nhà bà Rachel Lynde mà không chỉn chu
đúng mực; có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh bà Rachel ngồi bên cửa
sổ, đôi mắt sắc sảo quan sát mọi thứ đi ngang qua, từ dòng suối và
đám trẻ cho đến những thứ khác, và nếu phát hiện được bất cứ thứ
gì lạ thường hay không hợp chỗ, bà sẽ chỉ dừng tra hỏi khi tìm được
câu trả lời thỏa đáng cho tất tần tật mớ “vì sao”, “thế nào”.
Rất nhiều người, cả ở trong lẫn ngoài vùng Avonlea, có thể phải bê
trễ việc nhà nếu muốn lo chuyện thiên hạ; nhưng bà Rachel Lynde
là một trong những sinh vật giỏi giang có khả năng thu xếp ổn thỏa
cả chuyện của mình và chuyện của người khác. Bà là một người nội
trợ mẫu mực; công việc của bà lúc nào cũng được hoàn thành gọn
ghẽ; bà “điều hành” tổ may thêu, tham gia quản lý trường học Chủ
nhật và là thành viên cốt cán của Hội Từ thiện và Truyền giáo Nhà
thờ. Dù vậy, bà Rachel vẫn xoay sở được khối thời gian rảnh để
ngồi hàng giờ bên cửa sổ bếp, vừa đan “chăn sợi bông” – theo
những lời thì thầm kính nể của các bà nội trợ ở Avonlea, tổng cộng
bà đã đan được mười sáu cái – vừa đưa ánh mắt sắc sảo dõi theo
con đường cắt qua thung lũng, uốn lượn chạy lên sườn đồi đỏ dốc
đứng. Vì Avonlea án ngữ trên một bán đảo tam giác nhỏ nhô ra tận
vịnh St Lawrence hai bên bập bềnh nước chảy nên bất kỳ ai ra vào
đều phải băng qua con đường đồi này, và như vậy nằm ngay dưới
tầm soi mói vô hình từ con mắt thấu thị của bà Rachel.
Bà vẫn ngồi tại chỗ đó trong một chiều đầu tháng Sáu. M ặt trời rạng
rỡ ấm áp ghé qua khung cửa sổ; vườn cây ăn quả trên con dốc phía
dưới ngôi nhà trổ từng chùm hoa hồng phấn như hoa cô dâu, thu
hút hàng đàn ong vo ve. Thomas Lynde – người đàn ông nhỏ thó
hiền lành thường được cư dân Avonlea gọi là “ông xã của Rachel
Lynde” – đang gieo mớ hạt củ cải trễ vụ xuống mảnh đất đồi bên
ngoài trang trại; và M atthew Cuthbert lẽ ra cũng đang phải gieo hạt
xuống cánh đồng rộng màu đỏ ven suối nằm ngay cạnh trang trại
Chái Nhà Xanh. Bà Rachel biết ông lẽ ra phải làm thế, vì tối hôm
trước trong cửa hàng vủa William J. Blair ở Carmody, bà đã nghe
ông nói với Peter M orrison rằng ông định gieo hạt củ cải vào chiều
hôm sau. Dĩ nhiên Peter đã hỏi ông, vì chưa bao giờ người ta thấy
M atthew Cuthbert tự nguyện hở ra bất cứ tin tức gì liên quan tới
mình.
Vậy mà M atthew Cuthbert đang ở đây, lúc ba rưỡi chiều một ngày
bận rộn, điềm tĩnh đánh xe qua thung lũng lên đồi; hơn nữa, ông
mặc một cái áo cổ cồn trắng và diện bộ vest oách nhất, bằng chứng
hiển nhiên cho thấy ông đang rời Avonlea; ông còn đánh chiếc xe
độc mã do con ngựa hung kéo, báo hiệu trước mắt là một chặng
đường đáng kể. Vậy thì, M ather Cuthbert đang đi đâu và để làm gì?
Nếu là bất kỳ người nào khác trong Avonlea, bà Rachel, sau khi
khéo léo gắn kết các chi tiết, đã có thể đưa ra một giả thuyết hợp lý
cho cả hai câu trả hỏi. Nhưng M atthew lại hiếm khi ra khỏi nhà đến
nỗi nếu ông đã đi thì ắt hẳn là vì có chuyện gì cần kíp và bất thường
lắm; ông là người nhút nhát nhất trần đời, không thích đi với người
lạ và cũng chẳng muốn đi tới bất cứ chỗ nào có nguy cơ phải nói
chuyện. Ông M atthew, diện áo cổ cồn trắng và đánh xe độc mã, quả
là sự kiện hiếm có. Dù tư lự mức nào bà Rachel vẫn chẳng suy ra
được gì và niềm vui buổi chiều của bà thế là đi tong.
“Sau bữa trà của mình phải sang Chái Nhà Xanh thăm dò M arilla
xem hắn ta đi đâu và vì sao”, cuối cùng người phụ nữ đáng kính kết
luận. “Vào thời điểm này trong năm thì hắn ta chẳng tự nhiên mà ra
tỉnh, và hắn ta chẳng đời nào đi chơi bời; nếu hết củ cải thì đâu cần
đóng bộ chỉnh tề đem theo xe độc mã chứ; mà hắn đánh xe cũng
chẳng đủ nhanh để đi đón bác sĩ. Vậy thì tối qua đã xảy ra chuyện
gì đó buộc hắn phải đi xa. M ình sẽ giải câu đố này, vậy đấy, và
mình sẽ chẳng thể nào tìm được một phút thư thái nếu chưa biết
được hôm nay M atthew Cuthbert rời Avonlea làm gì.”
Thế là sau bữa trà bà Rachel khởi hành; bà không phải đi đâu xa;
ngôi nhà lớn phủ đầy dây leo khuất bóng sau vườn cây ăn trái, nơi
cư ngụ của gia đình Cuthbert, chỉ cách con đường chạy qua thung
lũng Lynde chưa dến một phần tư dặm. Dĩ nhiên, con đường mòn
chạy dài khiến khoảng cách xa hơn rất nhiều. Cha M atthew
Cuthbert, cũng lặng lẽ và rụt rè như cậu con trai, khi tìm nơi định
cư đã cố hết sức tránh xa bạn bè hàng xóm, miễn là còn chưa phải
vào hẳn trong rừng. Chái Nhà Xanh được dựng ở rìa xa nhất của
mảnh đất ông khai phá được, và nó vẫn ở đó cho đến ngày nay, hầu
như không thể nhìn thấy được nếu đứng trên con đường cái mà
thường tất cả căn nhà Avonlea khác đều muốn kéo lại gần. Bà
Rachel Lynde không thể gọi cuộc sống ở một nơi như thế này gọi là
sống được.
“Chỉ là ở thôi”, bà nói khi rảo bước theo con đường lún sâu cỏ mọc
rậm rạp với hai hàng hồng dại chạy dọc. “Sống ẩn dật ở đây, chẳng
trách M atthew và M arilla đều có phần kỳ quặc. Cây cối không
phải bạn đồng hành tốt, tuy nhiên có trời mới biết, có khi với họ
thế là đủ rồi. M ình thích ngắm người qua lại hơn. Dĩ nhiên, họ có vẻ
hài lòng; nhưng mình đoán là do họ thích ứng với hoàn cảnh thôi.
Cơ thể có thể thích ứng với mọi thứ, kể cả việc bị treo lên, người
Ailen chẳng nói thế là gì”.
Vừa thẩn thơ suy nghĩ, bà Rachel vừa bước ra khỏi con đường nhỏ
dẫn vào sân sau của Chái Nhà Xanh. Khoảng sân xanh um và gọn
gàng, bên này các cây liễu cổ thụ rũ bóng, bên kia là hàng dương
được cắt tỉa cẩn thận. Không có đến một nhánh cây gãy hay viên đá
nào, nếu có, chúng quyết không thoát khỏi cặp mắt của bà Rachel.
Bà dám chắc M arilla Cuthbert quét cái sân này thường xuyên như
quét nhà. Ai lỡ làm rớt thức ăn trên đó hẳn cũng có thể lượm lên ăn
mà không lo tiêu thụ vượt quá trọng lượng chất bẩn thực phẩm tiêu
chuẩn.
Bà Rachel khẽ gõ cửa bếp và bước vào khi được mời. Bếp ở Chái
Nhà Xanh là một gian phòng vui mắt, hay có lẽ sẽ vui mắt nếu nó
không sạch như ly như lau cứ như một phòng khách chưa từng
dùng tới. Cửa sổ trổ theo hướng Đông và Tây nhìn ra khoảng sân
sau tràn ngập ánh nắng tháng Sáu ngọt ngào, nhưng cửa sổ hướng
Đông, nơi từ đó ta có thể thấy thấp thoáng những cây anh đào nở
hoa trắng muốt trong vườn cây ăn quả phía bên trái và những cây
phong mảnh dẻ dịu dàng cúi đầu trong thung lũng ven dòng suối, lại
xanh mướt những dây nho quấn quýt. M arilla Cuthbert ngồi đó,
như bà vẫn thường ngồi, lúc nào cũng tỏ ra hơi nghi ngờ cái ánh
nắng mà theo bà có vẻ là một thứ quá tùy biến và vô trách nhiệm
trong thế giới mọi thứ đều phải nghiêm chỉnh này; và giờ đây bà
đang ngồi đan ở đó, sau lưng là chiếc bàn dọn sẵn cho bữa tối.
Bà Rachel, trước khi khép hẳn cửa, đã nhẩm trong đầu tất cả những
thứ trên bàn. Có ba cái đĩa, vậy là M arilla hẳn đang chờ ai đó cùng
M atthew về nhà dùng trà; nhưng món ăn chỉ là món thường ngày
với mứt táo chua và bánh ngọt, nên người bạn đồng hành đang được
mong ngóng đó cũng chẳng thể là nhân vật nào đặc biệt. Vậy thì giải
thích sao cho cái cổ áo trắng của M atthew và con ngựa hung? Bà
Rachel càng lúc càng thấy rối tinh lên trước tấm màn bí ẩn bất
thường về Chái Nhà Xanh vốn vẫn lặng lẽ và chẳng hề bí ẩn này.
“Chào chị, Rachel”, bà M arilla vui vẻ nói. “Buổi tối đẹp trời nhỉ?
Chị ngồi xuống đi nào. M ọi người vẫn khỏe cả chứ?”
M ối quan hệ, có thể được gọi là tình bạn nếu chẳng còn biết dùng
cái tên nào khác, đã tồn tại và vẫn luôn tồn tại giữa bà M arilla
Cuthbert và bà Rachel, mặc cho – hoặc có lẽ là do – sự khác biệt
giữa họ.
Bà M arilla là người cao gầy, thân hình chỉ thấy toàn góc cạnh chứ
chẳng có đường cong nào; mái tóc đen loáng với hai chiếc kẹp bằng
dây thép xuyên thẳng qua. Bà có vẻ - mà cũng thực sự - là mẫu phụ
nữ cứng nhắc, chưa từng trải; nhưng có vẻ gì đó ẩn giấu sau khóe
miệng, nếu nhếch thêm tí nữa có thể sẽ là dấu hiệu của khiếu hài
hước tiềm ẩn.
“M ọi người khỏe cả,” Bà Rachel đáp. “Nhưng hồi chiều nhác thấy
M atthew đi, tôi cứ e là cô không ổn. Tôi tưởng ông ấy đi mời bác
sĩ.
”Bà M arilla khẽ nhoẻn miệng cười vẻ thông cảm. Thật ra bà đang
chờ bà Rachel đến; Bà biết việc ông M athew xuất hành bất ngờ như
thế dĩ nhiên sẽ kích thích hiếu kỳ của bà bạn hàng xóm.
“Ồ không, tôi vẫn khỏe, mặc dù hôm qua có hơi nhức đầu,” bà nói.
“M atthew phải đi Bright River. Chúng tôi định đón một đứa bé trai
từ trại trẻ mồ côi ở Nova Scotia và cậu bé sẽ xuống tàu hỏa tối
nay.”
Bà M arilla có nói ông M atthew đến Bright River để thăm một chú
Kangaroo nước Úc chắc cũng chẳng biết thế nào làm bà Rachel sững
sờ hơn thế này. Bà đứng chết trân đến tận năm giây. Chẳng có vẻ gì
là bà M arilla đang nói đùa, nhưng bà Rachel thà tin thế còn hơn.
“Cô nói thật hả, M arilla?” Cuối cùng bà cũng nặn ra được một câu
hỏi.
“Vâng, dĩ nhiên,” bà M arilla trả lời, cứ như đón các cậu nhóc từ
những trại mồ côi ở Nova Scotia về chẳng phải tin tức không tưởng
động trời gì mà chỉ là một phần công việc thường lệ mùa xuân trong
bất kỳ nông trại bình thường nào trên đất Avonlea này vậy.
“Cái quái gì khiến cô nảy ra ý tưởng đó vậy?” bà hỏi sỗ sàng.
Chuyện này đã được tiến hành mà chẳng ai thèm hỏi ý kiến bà, và
đương nhiên phải bị bác bỏ.
“À, chúng tôi đã suy nghĩ về chuyện này khá lâu rồi, thật ra là suốt
cả mùa đông,” bà M arilla đáp. “Trước Giáng sinh một ngày, bà
Alexander Spencer có ghé đây và khóc là đến mùa xuân sẽ nhận
nuôi một bé gái từ trại trẻ mồ côi ở Hopetown. Bà Spencer có
người chị họ sống ở đó nên đã đến thăm bà ấy và hiểu rõ tình hình.
Cho nên tôi và M atthew bàn tới bàn lui mãi. Chúng tôi nghĩ mình
nên nhận nuôi một thằng bé. M atthew cũng có tuổi rồi, chị biết đó,
anh ấy đã sáu mươi, chẳng còn linh hoạt được như xưa nữa. Tim
anh ấy không khỏe lắm. Và chị biết mướn người giúp việc khó thế
nào rồi đấy. Chả có ai ngoài mấy thằng bé người Pháp ngốc nghếch,
dở dở ương ương; chỉ cần mình giận dữ hay dạy dỗ chuyện gì là nó
cắt luôn, giông xuống mấy nhà máy tôm hùm đóng hộp hay lượn
thẳng sang M ỹ. Lúc đầu M atthew định nhận một thằng bé
Barnardo [1]. Nhưng tôi đã thẳng thắn nói 'không'. 'Có lẽ tốt thật
– em không nói là không – nhưng em không muốn trẻ vô gia cư từ
London,' tôi đã bảo anh ấy thế. 'Ít nhất cũng phải là một đứa bé
bản địa. Dĩ nhiên cho dù nhận đứa nào thì anh em mình cũng vẫn sẽ
thấy thanh thản và ngủ ngon hơn nếu chúng ta nhận một bé người
Canada.' Vậy là cuối cùng chúng tôi quyết định nhờ bà Spencer
chọn dùm một đứa khi bà ấy đón bé gái của mình. Biết là cuối tuần
rồi bà ấy sẽ đi nên chúng tôi nhờ người nhà của Richard Spencer ở
Carmody nhắn bà ấy giúp chúng tôi nhận nuôi một đứa bé trai lanh
lợi, dễ mến khoảng mười tuổi, mười một tuổi. Chúng tôi nghĩ tuổi
đó là tốt nhất – đủ lớn để phụ giúp chút ít việc nhà và đủ nhỏ để có
thể uốn nắn đúng đắn. Chúng tôi sẽ cho nó một mái ấm và học hành
đầy đủ. Hôm nay M atthew và tôi vừa nhận được điện tín của bà
Alexander Spencer – người đưa thư mang từ trạm tới – bảo rằng họ
sẽ tới trên chuyến tàu năm rưỡi tối. Vì vậy M atthew đã tới Bright
River để đón thằng bé. Bà Spencer sẽ cho nó xuống ở đó. Tất nhiên
bà ấy sẽ tới thẳng trạm White Sands.”
Bà Rachel luôn tự hào lúc nào cũng có cách nói lên suy nghĩ của
mình; giờ đây bà đang chuẩn bị thực hiện điều đó, sau khi đã điều
chỉnh đầu óc của mình để tiếp nhận những thông tin đáng ngạc
nhiên này.
“Được rồi, M arilla, tôi sẽ nói thẳng là tôi nghĩ cô đang làm một việc
cực kỳ ngốc nghếch – một việc mạo hiểm, vậy đó. Cô không biết cô
đang dính vào chuyện gì đâu. Cô mang một đứa trẻ lạ hoắc vào nhà
mình, vào gia đình mình mà cô thì lại chẳng biết tí gì về nó, không
biết tính tình nó ra sao, cha mẹ nó như thế nào, hoặc giả nó sẽ trở
thành người thế nào. Sao chứ, mới tuần trước thôi nhé, tôi đọc trên
báo thấy có một đôi vợ chồng sống ở mạn Tây của Đảo nhận nuôi
một thằng bé từ trại trẻ mồ côi, và nó đã thiêu rụi cả căn nhà trong
một đêm – cố ý nhé. M arilla – còn họ suýt bị nướng chín trên
giường. Tôi còn biết một trường hợp khác, thằng bé con nuôi cứ
suốt ngày hút trứng – họ không sao kéo nó ra khỏi cái trò đó được.
Nếu cô xin tôi lời khuyên về cấn đề này – mà cô đâu có làm vậy,
M arilla – tôi hẳn đã bảo cô, vì Chúa, đừng có nghĩ đến những việc
như thế, vậy đó.”
Những lời khuyên can này chẳng làm bà M arilla giận dữ hay lo
lắng. Bà vẫn đều tay đan.
“Tôi không phủ nhận rằng chị nói cũng có phần đúng Rachel ạ. Bản
thân tôi cũng nghi ngại. Nhưng M atthew rất kiên quyết. Tôi có thể
nhận thấy điều đó, nên đành nhượng bộ. Hiếm khi thấy M atthew
kiên quyết chuyện gì nên một khi anh ấy như thế thì lúc nào tôi
cũng cảm thấy mình có nghĩa vụ phải chấp nhận. Về chuyện mạo
hiểm, thật ra nguy cơ gần như tiềm ẩn trong tất cả những gì chúng
ta làm trên đời này. Tự sinh con ra cũng đâu phải an toàn hẳn, ai
biết chúng lớn lên sẽ trở nên thế nào. Hơn nữa Nova Scotia sát
ngay Đảo. Có phải chúng tôi nhận đứa bé từ Anh hay M ỹ đâu.
Hẳn nó cũng chẳng khác chúng ta quá.”
“Được thôi, tôi cũng mong mọi việc sẽ ổn,” bà Rachel nói với vẻ
ngờ vực lồ lộ trong giọng. “Chỉ có điều đừng trách tôi không báo
trước nếu nó đốt trụi Chái Nhà Xanh hoặc cho thuốc độc vào giếng
nhé – tôi đã nghe một trường hợp như thế ở New Brunswick rồi,
đứa bé từ trại trẻ đã làm cho cả nhà chết tức tưởi. Chỉ có điều,
trong vụ đó là một con bé.”
“Đấy, tụi tôi đâu có nhận bé gái,” bà M arilla nói, như thể đầu độc
nước giếng là tội lỗi thuần túy mang tính phụ nữ, chẳng thể nào liên
hệ với một đứa bé trai. “Tôi chẳng bao giờ mơ đến chuyện nuôi một
bé gái. Tôi không hiểu sao bà Alexander Spencer có thể làm điều đó.
Nhưng nghĩ lại, bà ấy sẽ chẳng gần ngại nhận nuôi luôn cả trại trẻ
nếu ý tưởng đó vụt qua đầu mình.”
Bà Rachel định ở lại cho đến lúc ông M atthew trở về nhà với đứa
bé mồ côi đó. Nhưng nhớ ra ít nhất phải mất hai tiếng nữa ông mới
về, bà quyết định lên đường tới nhà Robert Bell báo tin. Chắc chắn
sẽ là một tin giật gân, và bà Rachel lúc nào cũng thích cung cấp
những tin giật gân. Vì vậy bà đứng dậy, một hành động khiến bà
M arilla thở phào nhẹ nhõm, vì bản thân bà M arilla cũng bắt đầu
cảm thấy tất cả lo ngại và sợ hãi của mình sống dậy dưới ảnh hưởng
bi quan từ bà hàng xóm.
“Trời, chẳng hiểu việc gì đã và sẽ diễn ra nữa!” bà Rachel thốt lên
khi vừa an toàn ra khỏi đường mòn. “Cứ như mình đang nằm mơ.
Ôi, mình thật thấy tội nghiệp cho đứa bé ấy, chẳng nghi ngờ gì nữa.
M atthew và M arilla chẳng biết tí gì về trẻ con và hẳn họ mong nó
thông thái và dày dạn hơn cả ông nội nó, nếu nó có một người ông
thật, mà mình thì ngờ lắm. Dù sao cũng thật kỳ lạ khi nghĩ đến
chuyện có một đứa bé ở Chái Nhà Xanh; từng có đứa nào ở đó đâu
chứ, khi căn nhà đó xây xong thì M atthew và M arilla đều đã lớn cả
rồi – nếu họ từng có thời là trẻ con thật thì nhìn họ cũng khó mà tin
nỗi điều đó. M ình chẳng muốn dính đến thằng bé mồ côi ấy tí nào.
Ôi trời, dù sao cũng thật tội nghiệp nó, vậy đó.”
Bà Rachel lầm bầm với bụi hồng dại những lời tự đáy lòng như thế,
nhưng nếu bà có thể nhìn thấy đứa trẻ đúng lúc đó đang kiên nhẫn
đứng chờ ở trạm Bright River thì nỗi cảm thương của bà hẳn sẽ còn
mạnh mẽ và sâu sắc hơn nhiều.
Chú thích
[1] Có lẽ bà Marilla sử dụng từ “cậu bé Barnardo” theo nghĩa thông thường, ám chỉ những
đứa trẻ người Anh - thường là trẻ mồ côi - được đưa sang lao động chân tay tại các
nước thuộc địa thời kỳ những năm 1800.
Ô
CHƯƠNG 2 - ÔNG MATTHEW CUTHBERT
BẤT NGỜ
ng M atthew Cuthbert và cô ngựa hung
nhẹ nhàng thả bước qua tám dặm
đường đến Bright River. Đó là một con
đường đẹp, chạy dọc những nông trại
xinh xắn, thỉnh thoảng lại xuyên qua
một khu rừng linh sam nhỏ hay một
thung lũng đầy cây mận dại đang nở
bung những cánh hoa mỏng tang.
Không khí thấm đẫm mùi hương ngọt
ngào tỏa ra từ những vườn táo và
những cánh đồng cỏ nghiêng nghiêng trải dài đến tận đường chân
trời lấp lánh ánh ngọc trai tim tím, trong khi đó
"Chim nhỏ cất tiếng dịu dàng
Như ngày hè độc nhất ươm vàng cả năm."
Ông M atthew tận hưởng chuyến đi theo cách riêng, chỉ trừ những
lúc ông gặp mấy phụ nữ và phải gật đầu chào họ - vì ở đảo Hoàng
tử Edward bạn phải gật đầu chào bất cứ ai bạn gặp trên đường dù
có quen biết hay không.
Ông rất sợ tất cả phụ nữ, trừ bà M arilla và bà Rachel; ông có một
cảm giác rất khó chịu là các sinh vật khó hiểu đó đang cười thầm
sau lưng mình. Có thể suy nghĩ của ông cũng đúng phần nào, vì ông
có vẻ ngoài khá kỳ quặc, dáng lóng ngóng mái tóc xám xỉn dài chấm
đôi vai gù, đệm thêm bộ râu quai nón dày, mềm mại ông nuôi từ hồi
hai mươi mốt tuổi. Thật ra, lúc hai mươi trông ông cũng chẳng khác
lúc sáu mươi là mấy, chỉ bớt ảm đạm hơn tí chút.
Khi ông tới Bright River, chẳng thấy bóng dáng chiếc tàu hỏa nào;
ông nghĩ mình đến sớm quá nên buộc ngựa vào sân khách sạn nhỏ
Bright River rồi bước tới nhà ga. Sân ga dài gần như trống huơ trống
hoác, sinh vật duy nhất hiển hiện trong tầm mắt là một bé gái ngồi
trên đống đá cuội ở tận cuối ga. Ông M atthew, biết chắc đó là một
bé gái, đưa ánh mắt trượt qua nhanh hết mức chứ không mảy may
liếc nhìn. Nếu nhìn thì hẳn ông đã khó lòng bỏ qua thái độ và biểu
hiện vừa căng thẳng vừa hy vọng tột độ của con bé. Có vẻ con bé
đang ngồi đợi điều gì hay ai đó, và vì ngồi và chờ đợi là những việc
duy nhất có thể làm khi ấy nên con bé đã ngồi và chờ đợi với tất cả
tâm tư tình cảm của mình.
Ông M atthew đến gặp viên trưởng ga, lúc này đang lúi húi khóa
cửa phòng vé chuẩn bị về nhà ăn tối, để hỏi khi nào chuyến tàu năm
giờ rưỡi sẽ tới.
“Chuyến tàu năm rưỡi đã đến và đi nửa tiếng trước rồi,” viên
trưởng ga nhanh nhảu đáp. “Nhưng có một hành khách được gửi lại
cho ông đấy – một bé gái. Nó ngồi ở đống đá cuội ngoài kia kìa. Tôi
đã bảo con bé vào phòng chờ nữ, nhưng nó lại trang trọng đáp rằng
thích ngồi ngoài kia hơn. 'Ở đó trí tưởng tượng có thể bay xa hơn,'
nó bảo thế. Phải nói, con bé đặc biệt đấy.”
“Tôi không chờ một con bé,” ông M atthew ngây người nói. “Tôi
đến để đón một bé trai mà. Thằng bé lẽ ra phải ở đây. Bà Alexander
Spencer đem nó từ Nova Scotia về đây cho tôi.”
Ông trưởng ga huýt sáo.
“Chắc có lầm lẫn rồi,” ông bảo. “bà Spencer đã xuống tàu với bé gái
đó và giao nó cho tôi. Bảo rằng ông và em gái nhận nuôi con bé từ
trại mồ côi và ông sẽ đến đón nó ngay. Tôi chỉ biết thế thôi – tôi
chẳng giấu đứa trẻ mồ côi nào quanh đây cả.”
“Tôi không hiểu,” ông M atthew kêu lên vô vọng, ước gì bà M arlla
có ở đây để đối phó với tình hình.
“À, tốt hơn ông nên hỏi con bé,” trưởng ga lơ đễnh trả lời. “Tôi
dám chắc nó sẽ giải thích được thôi – miệng lưỡi lanh lẹ lắm, chắc
chắn đấy. Có thể họ hết con trai theo tiêu chuẩn ông muốn rồi.”
Ông nhanh nhảu bước đi vẻ đói bụng, bỏ lại ông già M atthew tội
nghiệp với nhiệm vụ còn khó hơn vào hang vuốt râu hùm – bước
đến chỗ con bé – một bé gái hoàn toàn xa lạ - một bé gái mồ côi – và
hỏi nó tại sao nó không phải là con trai. Ông M atthew quay người
mà trong lòng rên rỉ, lê chân xuống sân ga tiến về phía con bé.
Con bé đã dõi mắt theo ông từ lúc ông lướt qua và bây giờ vẫn đang
dán mắt vào ông. M atthew lúc trước không nhìn con bé, mà nếu có
nhìn ông cũng không nhận ra dáng vẻ thật sự của nó, nhưng một
người quan sát bình thường có thể nhận thấy thế này: một đứa trẻ
chừng mười tuổi, mặc một chiếc váy rất ngắn, rất chặt, rất xấu bằng
vải pha len màu xám vàng. Con bé đội chiếc mũ thủy thủ nâu bạc
màu, và bên dưới cái mũ là hai bím tóc đỏ rực rất dày buông dài sau
lưng. Khuôn mặt nhỏ, trắng và gầy, lại còn nhiều tàn nhang; cái
miệng rộng và đôi mắt cũng to không kém, nửa lấp lánh xanh lá, nửa
xám đầy tâm trạng.
Với người quan sát thông thường thì như vậy, còn những người tinh
hơn sẽ để ý thấy cái cằm nhọn và dứt khoát, đôi mắt to hoạt bát
tràn đầy sức sống; cái miệng duyên dáng biểu cảm, trán rộng và cao;
tóm lại, quan sát viên tinh tế sáng suốt của chúng ta có thể kết luận
rằng một tâm hồn không tầm thường chút nào đang trú ẩn trong cơ
thể con bé – phụ nữ lưu lạc vốn đang làm M atthew Cuthbert nhút
nhát phải e sợ đến mức nực cười này.
Tuy nhiên, ông M atthew đã thoát khỏi thử thách phải lên tiếng
trước, vì ngay khi kết luận rằng ông đến để đón mình, con bé đứng
dậy, một bàn tay khẳng khiu ngăm ngăm nắm chặt chiếc túi hành lý
lỗi thời cũ kỹ; tay còn lại chìa ra cho ông.
“Con đoán bác là bác M atthew Cuthbert của Chái Nhà Xanh?” con
bé nói bằng giọng dễ thương và trong trẻo khác thường. “Con rất
vui được gặp bác. Con đã bắt đầu lo là bác sẽ không đến đón và con
đã tưởng tượng ra những chuyện khiến bác không đến. Con đã
quyết định là nếu tối nay mà bác vẫn không đến thì con sẽ theo
đường mòn xuống chỗ cây anh đào dại lớn ở khúc quanh rồi trèo lên
đó ngủ qua đêm. Con sẽ không sợ, và thật tuyệt nếu có thể ngủ trên
một cây anh đào dại nở bông trắng xóa dưới ánh trăng, bác nhỉ? Ta
có thể không tưởng tượng mình đang ngủ trong một sảnh đá hoa
cương, đúng không bác? Và con chắc chắn rằng nếu không phải tối
nay thì sáng mai bác sẽ đến đón con thôi.”
Ông M atthew ngượng nghịu nắm bàn tay nhỏ bé lẻo khẻo trong tay
mình, và chính giây phút đó ông đã quyết định phải làm gì. Ông
không thể nói với đứa trẻ có đôi mắt lấp lánh này rằng đã có nhầm
lẫn; ông sẽ chở con bé về nhà và để M arlla làm điều đó. Dù sao đi
nữa cũng không thể để con bé lại Bright River, nhầm lẫn gì thì cũng
mặc, mọi hỏi han giải thích đều có thể hoãn lại đến khi ông về Chái
Nhà Xanh an toàn.
“Bác xin lỗi đã đến trễ,” ông rụt rè nói. “Tới đây nào. Ngựa ở bên
kia sân. Đưa túi của con đây.”
“Ồ, con mang được mà,” đứa bé vui vẻ trả lời. “Không nặng đâu.
Con đã bỏ tất cả những thứ đáng giá của mình vào đó, nhưng không
nặng chút nào. M à nếu xách không đúng cách, cái tay cầm sẽ bung
ngay – nên tốt hơn là con nên tự xách vì con biết cách. Cái túi du
lịch này cũ lắm rồi. Ồ, con rất vui vì bác đã tới, mặc dù ngủ trên cây
anh đào dại cũng là một ý tưởng thật dễ thương. Chúng ta phải đi xe
một đoạn khá xa, đúng không ạ? Bà Spencer nói rằng khoảng tám
dặm. Con vui lắm, vì con thích đi xe. Ồ, thật tuyệt vời khi có thể
sống với bác và thuộc về bác. Con chưa bao giờ thuộc về ai – không
hẳn. Nhưng trại tế bần là tệ nhất. Con chỉ ở đó có bốn tháng, nhưng
vậy cũng đã đủ lắm rồi. Con không nghĩ rằng bác từng là trẻ mồ côi
trong trại tế bần, nên bác có lẽ không thể hiểu được nó thế nào đâu.
Tệ hơn bất kỳ thứ gì bác có thể tưởng tượng ra. Bà Spencer bảo
con nói thế là rất hư, nhưng con không định hư đâu. Thật dễ mà vô
tình trở thành hư đốn, phải không bác? Họ rất tốt, bác biết đấy –
những người trong trại ấy. Nhưng trong đó có quá ít thứ để thả cho
trí tưởng tượng bay bổng – chỉ có thể tưởng tượng chuyện này
chuyện kia về các bạn ấy – tưởng tượng rằng có lẽ cô bé ngồi kế bên
mình nhật ra là con gái của một bá tước, từ khi còn ẵm ngửa đã bị
một y tá ác độc đánh cắp khỏi tay cha mẹ và bà này lại chết trước
khi có thể tự thú. Con thường thức đêm để tưởng tượng những thứ
như thế, vì ban ngày con không có thời gian. Con đoán đó là lý do
khiến con quá gầy – con ốm dễ sợ, phải không ạ? Con chẳng có da
thịt gì cả. Con thích tưởng tượng mình dễ thương và mũm mĩm, có
những chỗ lúm ở khuỷu tay.”
Đến đó, bạn đồng hành của ông M atthew chợt ngưng nói, phần vì
con bé hết hơi, phần vì họ đã ra đến chỗ xe ngựa và xe xuôi xuống
lớp đất mềm dẫn đến tận triền sông có hàng anh đào dại đang độ
bung cánh và những cây phong lan trắng mảnh khảnh đung đưa
cách đầu họ vài bộ.
Đứa trẻ vươn tay bẻ một nhánh mận dại quét ngang hông xe ngựa.
“Đẹp không bác? Cái cây vươn ra khỏi bờ sông, trông như ren
trắng xóa làm bác nghĩ đến cái gì không?” con bé hỏi.
“À ừ, bác không biết,” ông M atthew đáp.
“Sao chứ, tất nhiên là một cô dâu rồi – một cô dâu mặc toàn màu
trắng với tấm mạng che mặt bí ẩn đáng yêu. Con chưa từng nhìn
thấy một cô dâu nào, nhưng con có thể hình dung ra cô ấy. Con
chưa bao giờ hy vọng mình có thể làm cô dâu. Con xấu xí đến nỗi sẽ
chẳng ai muốn lấy làm vợ - trừ phi đó là một nhà truyền giáo nước
ngoài. Con nghĩ một nhà truyền giáo nước ngoài chắc cũng không
đặc biệt lắm. Nhưng con hy vọng ngày nào đó có thể mặc đầm
trắng. Đây là ý nghĩ hạnh phúc nhất mà con có thể tưởng tượng
được. Con thích quần áo đẹp. Và cả đời con, con chưa bao giờ có
được một cái váy đẹp nào – nhưng dĩ nhiên vẫn còn nhiều thứ để
mong đợi, phải không ạ? Và con có thể tưởng tượng ra cảnh mình
ăn mặc thật lộng lẫy. Sáng nay khi rời trại mồ côi, con thấy thật xấu
hổ vì mình phải mặc cái váy bằng vải pha len cũ rích trông phát
kinh lên được này. Tất cả trẻ mồ côi đều phải mặc thế, bác biết đó.
M ùa đông vừa rồi, một lái buôn ở Hopetown đã hiến ba trăm thước
vải pha len cho trại. Nhiều người nói tại ông ấy không bán chúng
được, nhưng con lại tin rằng nó xuất phát từ trái tim nhân hậu của
ông ấy, phải không bác? Khi lên tàu, con cứ có cảm giác như mọi
người hẳn đ...
 








Các ý kiến mới nhất