Biện pháp quản lý phòng thực hành THCS

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Vũ Hiệp (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:46' 10-11-2009
Dung lượng: 39.9 KB
Số lượt tải: 39
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Vũ Hiệp (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:46' 10-11-2009
Dung lượng: 39.9 KB
Số lượt tải: 39
Số lượt thích:
0 người
SỞ GD & ĐT LÂM ĐỒNG
PHÒNG GD & ĐT ĐỨC TRỌNG
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ TIẾT THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH
Đơn vị : Tổ Vật Lý - Trường THCS Hiệp Thạnh - Huyện Đức Trọng.
A. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH TỔ BỘ MÔN
1. TẦM QUAN TRỌNG CỦA THÍ NGHIỆM VẬT LÝ TRONG VIỆC ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN.
Thí nghiệm Vật lý có vai trò quan trọng, góp phần hình thành kiến thức và rèn luyện cho học sinh các kĩ năng quan sát, mô tả, phân tích dữ liệu, giải thích hiện tượng. Thí nghiệm vật lý là phương tiện phát triển tư duy nhận thức đồng thời tác động mạnh mẽ đến giác quan của học sinh. Như vậy nếu các em được tự mình làm thí nghiệm thì sẽ kích thích được hứng thú học tập đồng thời rút ngắn được thời gian nhận thức. Mặt khác thông qua thí nghiệm thực hành rèn cho học sinh tính trung thực, cẩn thận, giúp cho học sinh gắn liền được kiến thức với đời sống thực tế. Bên cạnh đó thí nghiệm Vật lý còn góp phần :
- Tạo điều kiện rèn luyện kĩ năng lắp ráp dụng cụ thí nghiệm chính xác và tác phong làm việc khoa học.
- Có sức thuyết phục lớn và tạo ra ở học sinh niềm tin vào bản chất của sự vật và hiện tượng, vào các quy luật của tự nhiên.
- Tạo điều kiện tốt để rèn luyện ở học sinh khả năng phân tích, so sánh, đối chiếu, trừu tượng hoá, khái quát hoá cũng như khả năng suy luận quy nạp trong quá trình xử lý kết quả thí nghiệm để rút ra kết luận.
- Thí nghiệm vật lý tạo cơ hội cho học sinh trao đổi tương tác lẫn nhau trong quá trình học tập, nó góp phần rèn luyện cho học sinh tính mạnh dạn, kích thích được tính khám phá của các em trong quá trình học tập.
2.THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA VIỆC THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH TẠI ĐƠN VỊ
a. Thực trạng:
(Đối với giáo viện :
+ Chưa định hướng rõ ràng các bước tiến hành của tiết thực hành trong quá trình soạn giảng, chưa ước lượng được thời gian dành cho mỗi hoạt động trong tiết thực hành.
+ Chưa dành thời gian thích hợp để tập huấn các nhóm trưởng, nhóm phó và thư ký trước khi vào tiết thực hành theo hệ thống lớp và duy trì qua các năm học.
+ Việc phân chia nhóm trong tiết thực hành không đồng đều về đối tượng học sinh, chưa kết hợp được các nhóm trưởng và nhóm phó trong việc phân công trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên trong nhóm.
+ Giáo viên chưa thực hiện thí nghiệm trước khi vào tiết thực hành một cách thường xuyên nhằm lường trước được các tình huống có thể xảy ra trong quá trình thí nghiệm.
+ Giáo viên chưa có sự chuẩn bị thật chu đáo về dụng cụ thực hành trước khi phát cho học sinh.
Từ những vấn đề nêu trên mà trong giờ thực hành giáo viên chưa thật sự tập trung bao quát lớp, quan sát và điểu khiển các nhóm thực hành một cách nghiêm túc. Đôi lúc giáo viên còn lo giải quyết tình huống hư hỏng về dụng cụ. Chưa dành thời gian thích đáng để kiểm tra lại thao tác thí nghiệm đối với một số học sinh trong nhóm để từ đó đánh giá cho điểm chính xác khách quan hơn.
Việc đánh giá cho điểm thực hành của tiết kiểm tra thực hành thực hiện theo chỉ đạo của Bộ GD. Tuy nhiên chưa khoa học và chưa thật sự công bằng giữa các đối tượng học sinh trong lớp.
Việc đánh giá cho điểm giữa các phần kĩ năng và kiến thức chưa thật phù hợp. Đặc biệt là phần đánh giá ý thức thái độ, giáo viên còn cho điểm theo cảm tính.
(Đối với học sinh :
+ HS yếu chưa có sự chuẩn bị tốt về việc tìm hiểu câu hỏi chuẩn bị, chưa nắm rõ mục tiêu của bài thực hành, phần lớn là phụ thuộc vào sự hướng dẫn từng bước của giáo viên.
+ Phần lớn các nhóm trưởng thực hiện thí nghiệm, các em khác trong nhóm quan sát. Vì thế số học sinh yếu chưa thật chủ động, tích cực trong hoạt động nhóm để tiến hành thí nghiệm. Thao tác thí nghiệm của một số học sinh yếu còn hạn chế.
+ Một số học sinh còn lợi dụng cơ hội để nghịch phá. Chủ quan và chưa trung thực khi thực hiện thí nghiệm thực hành, HS còn sao chép các kết quả của bạn, còn dựa dẫm vào các HS khá giỏi trong nhóm.
+ HS chưa có sự thành thạo trong việc lắp ráp thí nghiệm. vì thế thời gian dành cho các em thực hiện thí nghiệm là hạn chế.
+ Thao tác thí nghiệm của các em còn chậm, lúng túng, giáo viên còn mất nhiều thời gian để hướng dẫn, xử lý thông tin cũng như phân tích các số liệu
PHÒNG GD & ĐT ĐỨC TRỌNG
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ TIẾT THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH
Đơn vị : Tổ Vật Lý - Trường THCS Hiệp Thạnh - Huyện Đức Trọng.
A. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH TỔ BỘ MÔN
1. TẦM QUAN TRỌNG CỦA THÍ NGHIỆM VẬT LÝ TRONG VIỆC ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN.
Thí nghiệm Vật lý có vai trò quan trọng, góp phần hình thành kiến thức và rèn luyện cho học sinh các kĩ năng quan sát, mô tả, phân tích dữ liệu, giải thích hiện tượng. Thí nghiệm vật lý là phương tiện phát triển tư duy nhận thức đồng thời tác động mạnh mẽ đến giác quan của học sinh. Như vậy nếu các em được tự mình làm thí nghiệm thì sẽ kích thích được hứng thú học tập đồng thời rút ngắn được thời gian nhận thức. Mặt khác thông qua thí nghiệm thực hành rèn cho học sinh tính trung thực, cẩn thận, giúp cho học sinh gắn liền được kiến thức với đời sống thực tế. Bên cạnh đó thí nghiệm Vật lý còn góp phần :
- Tạo điều kiện rèn luyện kĩ năng lắp ráp dụng cụ thí nghiệm chính xác và tác phong làm việc khoa học.
- Có sức thuyết phục lớn và tạo ra ở học sinh niềm tin vào bản chất của sự vật và hiện tượng, vào các quy luật của tự nhiên.
- Tạo điều kiện tốt để rèn luyện ở học sinh khả năng phân tích, so sánh, đối chiếu, trừu tượng hoá, khái quát hoá cũng như khả năng suy luận quy nạp trong quá trình xử lý kết quả thí nghiệm để rút ra kết luận.
- Thí nghiệm vật lý tạo cơ hội cho học sinh trao đổi tương tác lẫn nhau trong quá trình học tập, nó góp phần rèn luyện cho học sinh tính mạnh dạn, kích thích được tính khám phá của các em trong quá trình học tập.
2.THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA VIỆC THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH TẠI ĐƠN VỊ
a. Thực trạng:
(Đối với giáo viện :
+ Chưa định hướng rõ ràng các bước tiến hành của tiết thực hành trong quá trình soạn giảng, chưa ước lượng được thời gian dành cho mỗi hoạt động trong tiết thực hành.
+ Chưa dành thời gian thích hợp để tập huấn các nhóm trưởng, nhóm phó và thư ký trước khi vào tiết thực hành theo hệ thống lớp và duy trì qua các năm học.
+ Việc phân chia nhóm trong tiết thực hành không đồng đều về đối tượng học sinh, chưa kết hợp được các nhóm trưởng và nhóm phó trong việc phân công trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên trong nhóm.
+ Giáo viên chưa thực hiện thí nghiệm trước khi vào tiết thực hành một cách thường xuyên nhằm lường trước được các tình huống có thể xảy ra trong quá trình thí nghiệm.
+ Giáo viên chưa có sự chuẩn bị thật chu đáo về dụng cụ thực hành trước khi phát cho học sinh.
Từ những vấn đề nêu trên mà trong giờ thực hành giáo viên chưa thật sự tập trung bao quát lớp, quan sát và điểu khiển các nhóm thực hành một cách nghiêm túc. Đôi lúc giáo viên còn lo giải quyết tình huống hư hỏng về dụng cụ. Chưa dành thời gian thích đáng để kiểm tra lại thao tác thí nghiệm đối với một số học sinh trong nhóm để từ đó đánh giá cho điểm chính xác khách quan hơn.
Việc đánh giá cho điểm thực hành của tiết kiểm tra thực hành thực hiện theo chỉ đạo của Bộ GD. Tuy nhiên chưa khoa học và chưa thật sự công bằng giữa các đối tượng học sinh trong lớp.
Việc đánh giá cho điểm giữa các phần kĩ năng và kiến thức chưa thật phù hợp. Đặc biệt là phần đánh giá ý thức thái độ, giáo viên còn cho điểm theo cảm tính.
(Đối với học sinh :
+ HS yếu chưa có sự chuẩn bị tốt về việc tìm hiểu câu hỏi chuẩn bị, chưa nắm rõ mục tiêu của bài thực hành, phần lớn là phụ thuộc vào sự hướng dẫn từng bước của giáo viên.
+ Phần lớn các nhóm trưởng thực hiện thí nghiệm, các em khác trong nhóm quan sát. Vì thế số học sinh yếu chưa thật chủ động, tích cực trong hoạt động nhóm để tiến hành thí nghiệm. Thao tác thí nghiệm của một số học sinh yếu còn hạn chế.
+ Một số học sinh còn lợi dụng cơ hội để nghịch phá. Chủ quan và chưa trung thực khi thực hiện thí nghiệm thực hành, HS còn sao chép các kết quả của bạn, còn dựa dẫm vào các HS khá giỏi trong nhóm.
+ HS chưa có sự thành thạo trong việc lắp ráp thí nghiệm. vì thế thời gian dành cho các em thực hiện thí nghiệm là hạn chế.
+ Thao tác thí nghiệm của các em còn chậm, lúng túng, giáo viên còn mất nhiều thời gian để hướng dẫn, xử lý thông tin cũng như phân tích các số liệu
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓








Các ý kiến mới nhất