binh dang gioi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Lan Hương
Ngày gửi: 12h:55' 15-10-2010
Dung lượng: 54.0 KB
Số lượt tải: 28
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Lan Hương
Ngày gửi: 12h:55' 15-10-2010
Dung lượng: 54.0 KB
Số lượt tải: 28
Số lượt thích:
0 người
BÀI TẬP NHÓM 1
CHUYÊN ĐỀ 1: Bình đẳng giới giữa vợ chồng được hiểu như thế nào? Nêu và phân tích những quy định của pháp luật hiện hành chưa thực hiện được quyền bình đẳng giới thực chất giữa vợ và chồng và hướng hoàn thiện pháp luật về những quy định đó.
BÀI LÀM
1. Bình đẳng giới giữa vợ và chồng được hiểu như thế nào?
Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.
Như vậy, Bình đẳng giới không có nghĩa là cào bằng, Nam giới và phụ nữ như nhau về tất cả các mặt, mà bình đẳng giới có nghĩa là phải tạo những cơ hội và điều kiện cho nam giới và phụ nữ phát huy được những khả năng của mình, nếu tạo cơ hội mà không có những điều kiện phù hợp với giới tính, tuổi tác, tình trạng sức khỏe.... thì cũng không phát huy được khả năng của người đó, khi đó sẽ không thực hiện được những cơ hội đã được tạo cho. Bình đẳng giới giữa vợ chồng là một trường hợp cụ thể của bình đẳng giới.
Để có bình đẳng giới giữa vợ chồng thì cần phải có những điều kiện và tạo những cơ hội để vợ chồng phát huy được khả năng của mình. Cơ hội bình đẳng ở đây có thể hiểu là tạo những quyền và nghĩa vụ như nhau giữa vợ và chồng, cơ hội đó là những yếu tố khách quan do người khác mang lại không phụ thuộc vào bản thân của vợ hoặc chồng. Còn điều kiện bình đẳng có thể hiểu là những cách thức và biện pháp để phát huy những mặt mạnh và khắc phục những điểm bất lợi của vợ hoặc chồng để phát huy hết khả năng của mỗi người; điều kiện này là những yếu tố khách quan nhưng nó phải gắn với những hoàn cảnh cụ thể của vợ hoặc chồng như giới tính, sức khỏe, tuổi, đặc điểm riêng của mỗi cặp vợ chồng,...Chính vì vậy, để có được bình đẳng giới thực chất giữa vợ và chồng thì khi tạo những cơ hội cho vợ chồng thì phải tính đến những đặc điểm giới tính, những rào cản của định kiến xã hội về giới, tức là phải có những điều kiện phù hợp để mỗi bên vợ chồng thực hiện tốt được những cơ hội của mình.
Quyền bình đẳng giới giữa vợ chồng được thể hiện ở những nhóm quyền sau:
+ Nhóm quyền tài sản, thì vợ chồng có quyền tiếp cận, kiểm soát và ra quyết định như nhau đối với tài sản chung của vợ chồng và nguồn lực kinh tế của gia đình.
+ Nhóm quyền nhân thân: vợ chồng phải tự nguyện và chia sẻ với nhau để thực hiện những công việc của gia đình; cải cách sự phân công lao động truyền thống trong gia đình như lao động công việc gia đình cũng tính toán được bằng tiền, vai trò giáo dục con cái là của hai vợ chồng chứ không của riêng vợ hoặc chồng; vợ chồng cùng được tiếp cận và được chăm sóc sức khỏe sinh sản, các biện pháp kế hoạch hóa gia đình phải tác động đến cả hai vợ chồng, các biện pháp bảo vệ người phụ nữ, người mẹ đang nuôi con nhỏ không được coi là sự phân biệt đối xử; ngoài ra còn phải xóa bỏ những định kiến giới của xã hội về vai trò của người chồng và người vợ trong gia đình.
Từ phân tích trên có thể hiểu bình đẳng giới giữa vợ và chồng được là việc tạo cho chồng, vợ có vị trí, vai trò ngang nhau trong gia đình để thực hiện được chức năng của mình; đồng thời được tạo những cơ hội và điều kiện phù hợp với giới tính, sức khỏe, tuổi,.... để phát huy những khả năng của mỗi người để xây dựng gia đình hạnh phúc và phát triển kinh tế gia đình, từ đó góp phần vào sự phát triển chung của xã hội cũng như được thụ hưởng những thành quả của sự phát triển.
2. Những quy định của pháp luật hiện hành chưa thực hiện được quyền bình đẳng giới thực chất giữa vợ và chồng.
Việc xây dựng bình đẳng giới giữa nam và nữ, trong đó có bình đẳng giới giữa vợ và chồng là một mục tiêu lớn, vì vậy, pháp luật đã có những văn bản để điều chỉnh về vấn đề này, từ nền tảng là những quy định ở Hiến pháp 1992, tiếp theo là những văn bản luật như Bộ luật Dân sự, Luật lao động, Luật hôn nhân và gia đình,…và đặc biệt đáng chú ý là sự ra đời của Luật bình đẳng giới vào năm 2006 đã tạo ra những cơ sở pháp lý cho việc thực hiện bình đẳng giới trong đó có bình đẳng giới giữa vợ và chồng. Tuy nhiên, trong các quy định hiện hành có những quy định còn mang tính hình thức chưa thực hiện được quyền bình đẳng giới thực
CHUYÊN ĐỀ 1: Bình đẳng giới giữa vợ chồng được hiểu như thế nào? Nêu và phân tích những quy định của pháp luật hiện hành chưa thực hiện được quyền bình đẳng giới thực chất giữa vợ và chồng và hướng hoàn thiện pháp luật về những quy định đó.
BÀI LÀM
1. Bình đẳng giới giữa vợ và chồng được hiểu như thế nào?
Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.
Như vậy, Bình đẳng giới không có nghĩa là cào bằng, Nam giới và phụ nữ như nhau về tất cả các mặt, mà bình đẳng giới có nghĩa là phải tạo những cơ hội và điều kiện cho nam giới và phụ nữ phát huy được những khả năng của mình, nếu tạo cơ hội mà không có những điều kiện phù hợp với giới tính, tuổi tác, tình trạng sức khỏe.... thì cũng không phát huy được khả năng của người đó, khi đó sẽ không thực hiện được những cơ hội đã được tạo cho. Bình đẳng giới giữa vợ chồng là một trường hợp cụ thể của bình đẳng giới.
Để có bình đẳng giới giữa vợ chồng thì cần phải có những điều kiện và tạo những cơ hội để vợ chồng phát huy được khả năng của mình. Cơ hội bình đẳng ở đây có thể hiểu là tạo những quyền và nghĩa vụ như nhau giữa vợ và chồng, cơ hội đó là những yếu tố khách quan do người khác mang lại không phụ thuộc vào bản thân của vợ hoặc chồng. Còn điều kiện bình đẳng có thể hiểu là những cách thức và biện pháp để phát huy những mặt mạnh và khắc phục những điểm bất lợi của vợ hoặc chồng để phát huy hết khả năng của mỗi người; điều kiện này là những yếu tố khách quan nhưng nó phải gắn với những hoàn cảnh cụ thể của vợ hoặc chồng như giới tính, sức khỏe, tuổi, đặc điểm riêng của mỗi cặp vợ chồng,...Chính vì vậy, để có được bình đẳng giới thực chất giữa vợ và chồng thì khi tạo những cơ hội cho vợ chồng thì phải tính đến những đặc điểm giới tính, những rào cản của định kiến xã hội về giới, tức là phải có những điều kiện phù hợp để mỗi bên vợ chồng thực hiện tốt được những cơ hội của mình.
Quyền bình đẳng giới giữa vợ chồng được thể hiện ở những nhóm quyền sau:
+ Nhóm quyền tài sản, thì vợ chồng có quyền tiếp cận, kiểm soát và ra quyết định như nhau đối với tài sản chung của vợ chồng và nguồn lực kinh tế của gia đình.
+ Nhóm quyền nhân thân: vợ chồng phải tự nguyện và chia sẻ với nhau để thực hiện những công việc của gia đình; cải cách sự phân công lao động truyền thống trong gia đình như lao động công việc gia đình cũng tính toán được bằng tiền, vai trò giáo dục con cái là của hai vợ chồng chứ không của riêng vợ hoặc chồng; vợ chồng cùng được tiếp cận và được chăm sóc sức khỏe sinh sản, các biện pháp kế hoạch hóa gia đình phải tác động đến cả hai vợ chồng, các biện pháp bảo vệ người phụ nữ, người mẹ đang nuôi con nhỏ không được coi là sự phân biệt đối xử; ngoài ra còn phải xóa bỏ những định kiến giới của xã hội về vai trò của người chồng và người vợ trong gia đình.
Từ phân tích trên có thể hiểu bình đẳng giới giữa vợ và chồng được là việc tạo cho chồng, vợ có vị trí, vai trò ngang nhau trong gia đình để thực hiện được chức năng của mình; đồng thời được tạo những cơ hội và điều kiện phù hợp với giới tính, sức khỏe, tuổi,.... để phát huy những khả năng của mỗi người để xây dựng gia đình hạnh phúc và phát triển kinh tế gia đình, từ đó góp phần vào sự phát triển chung của xã hội cũng như được thụ hưởng những thành quả của sự phát triển.
2. Những quy định của pháp luật hiện hành chưa thực hiện được quyền bình đẳng giới thực chất giữa vợ và chồng.
Việc xây dựng bình đẳng giới giữa nam và nữ, trong đó có bình đẳng giới giữa vợ và chồng là một mục tiêu lớn, vì vậy, pháp luật đã có những văn bản để điều chỉnh về vấn đề này, từ nền tảng là những quy định ở Hiến pháp 1992, tiếp theo là những văn bản luật như Bộ luật Dân sự, Luật lao động, Luật hôn nhân và gia đình,…và đặc biệt đáng chú ý là sự ra đời của Luật bình đẳng giới vào năm 2006 đã tạo ra những cơ sở pháp lý cho việc thực hiện bình đẳng giới trong đó có bình đẳng giới giữa vợ và chồng. Tuy nhiên, trong các quy định hiện hành có những quy định còn mang tính hình thức chưa thực hiện được quyền bình đẳng giới thực
 








Các ý kiến mới nhất