Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra
cach-ta-nghi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:15' 04-02-2026
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:15' 04-02-2026
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
CÁCH TA NGHĨ
Tác giả
John Dewey
Dịch giả
Vũ Đức Anh
Số trang
372 trang
Năm
2017
Tủ sách
Tủ sách Tinh hoa
Nxb
Tri Thức
✪
VcTveGroup
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Lời tựa
CÁC nhà trường của chúng ta đang rối bời với vô số môn học, mỗi môn
lại có cơ man các tài liệu và quy tắc. Gánh nặng càng dồn lên vai những
người làm nghề dạy khi họ phải ứng xử với từng cá nhân học sinh chứ không
phải trước một số đông. Trừ phi những bước đi tiên phong này rốt cuộc chỉ
để tiêu khiển đầu óc, mục đích của chúng ta là tìm ra được điểm mấu chốt
hay nguyên tắc nào đó hướng tới một sự giản lược hóa. Cuốn sách này thể
hiện niềm tin vững chắc rằng, việc nỗ lực đưa thái độ tâm trí, đưa thói quen
tư duy – những cái mà chúng ta gọi là có tính khoa học ấy – trở thành cứu
cánh sẽ đồng thời làm phát lộ nhân tố có tác dụng củng cố và hướng đến
niềm tin ấy. Dễ mường tượng được là thái độ khoa học này khó lòng dung
hợp ngay với việc dạy dỗ thanh thiếu niên. Nhưng cuốn sách này cũng thể
hiện niềm tin rằng đó không phải là điều muốn hướng tới; rằng thái độ cố
hữu và còn vô nhiễm của tuổi thơ, nổi bật với trí tò mò, óc tưởng tượng đầy
hứng khởi cùng với lòng yêu thích tra xét thử nghiệm là những thứ gần gũi,
rất gần gũi với thái độ của một đầu óc khoa học. Nếu những trang viết này
giúp ích chút nào cho việc ngộ ra được mối liên hệ mật thiết này cũng như
giúp cho việc nghiêm túc suy xét rằng làm thế nào mà khi điều này đi vào
thực tiễn giáo dục sẽ đem đến hạnh phúc cá nhân và giảm bớt lãng phí xã
hội, hẳn khi ấy tác dụng của cuốn sách đã vượt quá sự mong đợi.
Không thể kể tên cho hết các tác giả mà tôi muốn tri ân. Xin tỏ lòng biết
ơn sâu sắc tới vợ tôi, người tiếp nguồn cảm hứng cho những ý tưởng của
cuốn sách, và chuyên tâm tận sức với Trường thực nghiệm tại Chicago trong
thời gian từ năm 1896 đến năm 1903. Qua đó, những ý tưởng trong cuốn
sách này trở nên cụ thể vì đã được tổ chức và thử nghiệm trong thực tiễn.
Cũng qua đây, tôi vinh hạnh bày tỏ lòng biết ơn đối với những đóng góp trí
tuệ và sự đồng cảm của những người đã cộng tác với tư cách tham gia giảng
dạy, giám sát quá trình điều hành ngôi trường thực nghiệm, và nhất là bà
Ella Flagg Young, khi còn là đồng nghiệp của tôi tại Trường đại học, nay là
Thanh tra giáo dục Chicago.
New York, tháng 12 năm 1909
PHẦN MỘT: VẤN ĐỀ LUYỆN
TRÍ
Chương I
Ý nghĩ là gì?
§1. Những Sắc thái của Thuật ngữ
Bốn
sắc
thái
của từ
KHÔNG từ ngữ nào quen miệng ta cho bằng những từ như
nghĩ tưởng và ý nghĩ. Quả thật lối sử dụng vô tội vạ những từ này
khiến việc minh định cho rành cái chúng ta muốn bày tỏ là không
ý nghĩ,
hề dễ dàng. Mục đích của chương này là tìm cho ra một ý nghĩa
từ rộng
xuyên suốt và nhất quán, có thể đạt được mục đích đó bằng cách
đến
xem xét một vài lối sử dụng điển hình của các thuật ngữ này.
hẹp
Thoạt tiên từ ý nghĩ được dùng một cách rộng rãi nếu không
dần
muốn nói là tùy tiện. Bất cứ cái gì hiện ra trong trí, cái gì “lướt
qua đầu”, đều được gọi là một ý nghĩ. Nghĩ tới một sự vật chỉ có
nghĩa là có ý thức về sự vật đó theo bất cứ cách nào. Thứ đến,
thuật ngữ này được giới hạn bằng cách gạt đi tất cả những gì trực
tiếp hiển hiện; chúng ta nghĩ (hoặc nghĩ tới) điều gì đó chỉ khi
nào chúng ta không trực tiếp trông thấy, nghe, ngửi, hoặc nếm
được. Thứ ba là, ý nghĩa của từ ấy tiếp tục được lược bớt chỉ bao
gồm những niềm tin có căn cứ trên một kiểu bằng chứng hay sự
thực chứng nào đó. Trong loại thứ ba này, có hai kiểu – hoặc
đúng hơn, hai cấp độ – cần phải được tách bạch. Trong một số
trường hợp, một niềm tin được chấp thuận mà hầu như không
mấy tốn sức để chỉ ra được những cơ sở cho niềm tin ấy. Trong
những hoàn cảnh khác, căn cứ hay nền tảng của niềm tin phải
được chủ động truy nguyên cũng như tính thích đáng của nó phải
được xem xét. Tiến trình này gọi là suy nghĩ phản tỉnh; nội tiến
trình này đã có giá trị giáo dục đích thực, và theo đó hình thành
nên chủ đề cốt lõi cho tập sách này. Ngay sau đây chúng ta sẽ lần
lượt phác sơ qua bốn sắc thái đó.
Ý nghĩ
nhất
thời và
vu vơ
I. Ở bình diện rộng nhất, ý nghĩ gợi đến mọi thứ, như chúng
ta vẫn nói là “ở trong đầu ta” hay “lướt qua óc ta”. Khi có ai ngỏ
ý hỏi “bạn đang nghĩ gì vậy” thì đó là một lời hỏi thăm không
hơn không kém. Gọi những thứ trong đầu bạn là những ý nghĩ,
quả tình người hỏi không có ý mong những thứ đó phải có giá trị
thực sự, sự liền mạch hay là sự thật. Bất cứ một nghĩ tưởng phù
phiếm, một hồi ức nhỏ nhặt hay ảnh tượng rời rạc nào cũng đủ
đáp đổi lời hỏi thăm của người kia. Kiểu mơ mộng giữa ban
ngày, xây lâu đài trên cát, cái luồng vô định các chất liệu tùy tiện
và rời rạc ấy khi trôi ngang đầu óc chúng ta trong những lúc rỗi
rãi, theo cái nghĩa vô tư lự này, là sự nghĩ tưởng. Một phần đáng
kể trong cuộc đời chúng ta khi hữu thức, mà ắt chẳng bao giờ
chúng ta tự mình nhìn nhận được trọn vẹn, chắc hẳn dành cả vào
sự nghĩ tưởng phù phiếm và hi vọng viển vông.
Ý nghĩ
phản
tỉnh là
liên tục
Theo nghĩa này, những tay ấm ớ với những kẻ bị thịt cũng
biết suy nghĩ, có câu chuyện về một kẻ không mấy tiếng tăm là
có đầu óc nọ, muốn được bầu làm đại biểu cho thành phố sở tại
chứ
thuộc vùng New England, đã phát biểu trước đám đông hàng phố
không
thế này: “Tôi có nghe các quý vị không tin là tôi đủ hiểu biết để
chỉ là
giữ chức vụ này. Tôi mong rằng quý vị hãy hiểu cho là tôi hầu
một
như lúc nào cũng suy nghĩ hết việc này đến việc khác”, ở đây ý
chuỗi
nghĩ phản tỉnh giống như thể một tràng những sự vật này chạy
ngang trí óc, ở chỗ nó bao gồm một chuỗi các sự vật được nghĩ
đến; nhưng nó khác ở chỗ là nếu chỉ có một chuỗi ngẫu nhiên
những “việc này việc nọ” tình cờ chắp nối một cách vô quy tắc
thì chưa đủ. Sự phản tỉnh không chỉ liên quan tới một chuỗi các ý
kiến, mà còn tới cả một hệ quả – một sự sắp đặt trật tự liên tục
theo cách nào đó sao cho mỗi hệ quả định đoạt phần kế tiếp như
là kết quả chính đáng của nó, cùng lúc về phần mỗi hệ quả đó lại
tựa vào những cái liền kề đã xảy ra trước. Những phần liên tiếp
của suy nghĩ phản tỉnh vươn lên từ phần kia và chống đỡ cho
nhau; chúng không tới và lui trong mớ hỗn độn; Mỗi công đoạn
là một bước đi từ cái này tới cái kia – nói đúng hơn, nó là một
giai kỳ của ý nghĩ. Mỗi chu kỳ để lại một lớp bồi tích sẽ được
dùng trong lần sau. Cái dòng hay luồng suy nghĩ ấy như thể là
một đoàn tàu, một chuỗi mắt xích hay sợi chỉ xuyên suốt.
Thu
gọn
phạm
vi của
II. Ngay cả khi việc suy nghĩ được sử dụng theo nghĩa rộng,
nó thường được giới hạn trong phạm vi các vấn đề không trực
nhận được: tức là những thứ ta không trông thấy, ngửi, nghe hay
nghĩ
sờ nắm được. Khi hỏi người kể chuyện liệu anh ta đã tận mắt
tưởng
thấy sự việc nào đó xảy ra chưa, câu trả lời rất có thể là “Không,
vào
tôi chỉ nghĩ thế”. Yếu tố hư cấu vậy là hiển lộ, khác với việc ghi
trong
nhận lại trung thực bằng quan sát. Điều quan trọng hơn cả trong
những
gì vượt
những suy nghĩ loại này là hàng loạt những sự việc tưởng tượng
quá
và bối cảnh, mà với mức độ mạch lạc nhất định, cài vào nhau
trực
trên một sợi dây xuyên suốt, nằm giữa một bên là những ý tưởng
quan,
viển vông đẹp đẽ và bên kia là những cân nhắc có chủ ý dùng để
thiết lập một kết luận. Những chuyện tưởng tượng mà trẻ con hào
hứng tuôn ra có đủ mọi mức độ ăn nhập về nội dung; có chuyện
thì đầu voi đuôi chuột, có chuyện lại ăn khớp với nhau. Khi được
kết nối, chúng phỏng dụ cho ý nghĩ có phản tỉnh; thực ra, chúng
thường nảy sinh trong những đầu óc có năng lực tư duy logic.
Những chuyện tưởng tượng này thường xuất hiện trước kiểu nghĩ
tưởng có kết cấu chặt chẽ và dọn đường cho lối nghĩ tưởng đó.
Ý nghĩ
phản
tỉnh
nhằm
Nhưng những suy nghĩ này không nhắm đến tri thức, đến sự
tin tưởng vào các sự kiện hoặc vào sự thật; và do đó chúng
không thuộc vào loại ý nghĩ phản tỉnh cho dù nó gần giống như
vào sự
vậy. Người bày tỏ những suy nghĩ đó hẳn không đón đợi sự tin
tin
cẩn, mà đúng ra họ chỉ muốn tạo dựng sự tin cậy cho một ý đồ
tưởng
khéo léo hoặc một cao trào có lớp lang. Họ dựng lên những câu
chuyện hay, chứ không – trừ phi do ngẫu nhiên – tạo ra tri thức.
Những ý nghĩ đó là sự giải phóng xúc cảm; mục đích của chúng
nhằm đẩy tới một trạng thái tâm lý hoặc cảm xúc; mối ràng buộc
của chúng nằm ở sự đồng điệu cảm xúc.
Ý nghĩ
dẫn dụ
niềm
tin theo
hai
cách
III. Theo ý nghĩa tiếp theo, ý nghĩ biểu thị niềm tin dựa vào
một căn cứ nào đó, tức là, tri thức, có thực hoặc được coi là có
thực, vượt ra khỏi những gì hiển hiện. Nó được nhận biết thông
qua sự chấp thuận hoặc gạt bỏ điều gì như là có khả năng hay
không có khả năng xảy ra theo lý lẽ. Tuy nhiên, công đoạn này
của ý nghĩ bao gồm hai loại niềm tin khác nhau, dẫu cho sự khác
biệt đó dứt khoát phải là khác biệt mức độ chứ không phải khác
biệt loại tính, nên việc xét chúng một cách riêng rẽ là thực sự
quan yếu. Có những niềm tin được chấp nhận ngay khi những
căn cứ của chúng chưa được tính đến, trong khi những niềm tin
khác được chấp nhận bởi lẽ căn cứ của chúng đã được khảo sát.
Khi nói “Xưa kia người ta từng cho là thế giới này bằng
phẳng,” hoặc “Tôi tưởng anh vừa đi qua trước nhà”, chúng ta
biểu đạt một niềm tin: điều gì đó được thâu nhận, bám giữ, thuận
theo, hoặc xác nhận. Nhưng những suy nghĩ đó có thể hàm nghĩa
có một giả định được thừa nhận trong khi những căn cứ thực sự
của nó không hề được tính đến. Những mệnh đề đưa ra đủ điều
kiện để được xem là những niềm tin, nhưng có thể chưa thỏa mãn
cấp độ cao nhất của ý nghĩ; duy một điều giá trị của chúng xét
trong ý nghĩa nâng đỡ niềm tin thì đã không hề được tính tới.
Những suy nghĩ kiểu đó lớn dần một cách vô thức và không
hề quy chiếu vào việc đạt tới một niềm tin đúng. Những ý nghĩ
đó được ta tóm bắt lấy – chúng ta không rõ bằng cách nào. Từ
những đầu mối khuất khúc và qua những cửa ngõ không ngờ tới,
chúng nghiễm nhiên được ta thừa nhận và vô hình trung đi vào
trong sinh hoạt tinh thần của chúng ta. Lề lối, sự truyền thụ, sự
bắt chước – tất cả những cái ăn theo quyền uy trong dạng thức
nào đó, hoặc dựa vào lợi thế của chính chúng ta, hoặc hòa quyện
với một đam mê mãnh liệt – đều phải chịu trách nhiệm về chúng.
Những ý nghĩ đó là thành kiến, tức là, những phán đoán chưa
được thẩm tra, chưa phải là những xét đoán vốn dựa trên việc
khảo sát các bằng chứng*.
Suy
tưởng
trong
nghĩa
IV. Những ý nghĩ đưa lại niềm tin tự thân có một vai trò quan
trọng là chúng dẫn tới tư duy phản thân, tới sự truy vấn hữu ý
vào bản chất, vào các điều kiện và cơ sở của niềm tin. Từ những
chặt
đám mây mà nghĩ tưởng tới những con cá voi và lạc đà, tức là tự
chẽ
tiêu khiển bằng trí tưởng tượng, có thể đọng lại trong ta là sự
nhất là
thích thú, mà không đưa dẫn tới một niềm tin cụ thể nào. Nhưng
có cân
khi nghĩ rằng thế giới là bằng phẳng, tức là đã gán cho một sự vật
nhắc
tới căn
có thực một tính chất như thể đó là thuộc tính thực sự của vật ấy.
cứ và
Kết luận này biểu thị cho mối ràng buộc giữa các sự vật, và do
những
vậy, giống như ý nghĩ tưởng tượng, không bị biến đổi theo tâm
hệ quả
trạng chúng ta. Niềm tin vào tính bằng phẳng của thế giới sẽ
của
khiến cho người giữ niềm tin ấy suy nghĩ về các đối tượng khác
việc tin
tưởng
theo những cách thức riêng nào đó, chẳng hạn như về những
thiên thể, về những điểm đối chân {trong trường hợp của địa
cầu}, về khả năng hàng hải. Nó sẽ quy định những hành động
của anh ta sao cho phù hợp với ý niệm mà anh ta mang trong đầu
về những đối tượng này.
Sau đó những hệ quả của niềm tin này tác động lên những
niềm tin khác và lên hành vi có thể trở nên hệ trọng tới độ người
ta buộc lòng phải xem xét những cơ sở hoặc lý lẽ cho niềm tin
của mình cùng những hậu quả nó kéo theo. Điều muốn nói tới ở
đây là ý nghĩ phản tỉnh – ý nghĩ trong ý nghĩa chân thực và dứt
khoát của nó.
Người ta nghĩ rằng thế giới này là bằng phẳng cho tới khi
Columbus nghĩ rằng nó tròn. Ý nghĩ trước là niềm tin của những
người không có sức mạnh hoặc can đảm để chất vấn những điều
quanh họ được chấp nhận và dạy đỗ, nhất là khi nó được đưa ra
và dường như được thừa nhận bởi những sự việc hiển hiện trước
cảm quan. Ý nghĩ của Columbus là một kết luận có luận giải. Nó
thể hiện sự sâu sát trong việc tìm hiểu sự vật, sự săm soi và tu
chính bằng chứng, việc tìm ra ý nghĩa của những giả thuyết khác
nhau, và việc so sánh những kết quả lý thuyết này với nhau và
với những sự vật đã biết. Vì Columbus không mặc nhiên chấp
nhận những lý thuyết đương thời, vì ông nghi ngờ và tra vấn, ông
đạt đến ý nghĩ đó. Hoài nghi những cái được xem như đương
nhiên, vốn bắt rễ từ thói quen truyền đời và tin vào những điều
tưởng như không thể, ông đã tiếp tục suy nghĩ cho đến khi tìm ra
bằng chứng chứng minh cho niềm tin cũng như bác bỏ những
điều ông không tin. Ngay cả khi kết luận của ông rốt cuộc là sai
thì niềm tin ấy vẫn thuộc vào một loại khác so với những niềm
tin mà nó xung khắc, bởi lẽ nó đạt đến theo một phương cách
khác hẳn.
Định
nghĩa
cho tư
duy
phản
thân
Những suy tính đắn đo, tích cực, bền bỉ, và cẩn trọng đối với
bất cứ niềm tin hoặc hình thức nào của tri thức dưới sự soi tỏ
của những căn cứ nâng đỡ nó, và những kết luận mà nó có xu
hướng giải phóng, tạo nên tư duy phản thân. Bất cứ hình thức
suy tưởng nào trong số ba kiểu ban đầu đều khó lòng kích thích
được kiểu tư duy loại này; nhưng một khi đã được nhen lên, nó là
một nỗ lực đầy ý thức và tự nguyện trong việc kiến tạo niềm tin
có cơ sở vững chắc.
§2. Thành tố cốt lõi trong suy tưởng
Có một
thành
tố
chung
Tuy nhiên không có những đường ranh rõ rệt giữa những vận
động vừa phác qua. Việc tạo lập được những thói quen tư duy
đúng đắn sẽ dễ dàng hơn nhiều nếu những kiểu suy xét khác biệt
trong
đó không vô tình cài lẫn vào nhau. Đến đây, chúng ta đã xem xét
các
những ví dụ khá cực đoan tiêu biểu cho từng loại nhằm làm
loại
khoáng đạt phạm vi chủ đề. Giờ chúng ta đi ngược lại sự vận
suy
động này; chúng ta xét một tình huống căn cơ của hành động
tưởng:
nghĩ, giữa một bên là sự khảo sát bằng chứng cẩn trọng với một
bên là dòng các suy nghĩ thuần túy vô tư lự. Một người đang dạo
bộ một ngày đẹp trời nọ. Lần cuối ngước lên anh ta thấy trời vẫn
còn trong; trong khi đầu óc hãy còn bận việc riêng, anh ta thấy
không khí có vẻ se lạnh hơn. Anh ta nhận thấy trời có vẻ sắp
mưa; ngước mắt nhìn, anh ta thấy có đám mây đen ngang trời và
vội rảo bước. Vậy những tình huống như thế thì điều gì có thể
được xem là ý nghĩ? Cả hành động đi lẫn việc phát hiện hơi lạnh
trong không khí đều không phải là ý nghĩ. Động tác bước chân là
một phương cách hành động; nhìn thấy và nhận biết là dạng hoạt
động khác. Tuy nhiên khả năng trời sắp đổ mưa là điều gì đó
được gợi ra. Người đi dạo cảm nhận thấy hơi lạnh; anh ta nghĩ
đến những đám mây và cơn mưa chực ập xuống.
Sự gợi
ý đến
điều gì
ngoài
Ở đây ta có một tình huống giống như khi một người nhìn
đám mây thì tưởng tượng ra hình người với khuôn mặt. Suy nghĩ
trong cả hai tình huống này (tình huống thực tin và tình huống
tầm
tiêu khiển) liên quan tới một sự kiện đã được ghi nhận hay là
mắt.
được nhận thức, kéo theo điều gì đó không được quan sát thấy
Mà sự
mà được đem vào trong trí óc, được gợi ra từ cái đã trông thấy.
phản
Chúng ta nói rằng cái này nhắc ta về cái kia. Tuy nhiên, song đối
tỉnh
can dự
với nhân tố quy đồng hai tình huống dù cho sự gợi ý này còn có
cả vào
một nhân tố thể hiện sự khác biệt rõ rệt. Chúng ta không tin vào
những
khuôn mặt do đám mây tạo ra; chúng ta không mảy may đắn đo
liên hệ
xem liệu đó có phải sự thực. Trong đó không hề có suy tư phản
nằm
tỉnh. Trái lại, cơn mưa chực ập xuống gợi ra một nguy cơ thực sự
trong
việc
báo
hiệu
– một sự kiện hoàn toàn có thể xảy đến có cùng bản chất với sự
cảm nhận hơi lạnh trong không khí. Nói khác đi, ta không coi
đám mây có nghĩa hoặc chỉ rõ một khuôn mặt mà nó chỉ đơn
thuần gợi ra hình mặt người trong khi chúng ta thực sự băn
khoăn liệu cái lạnh kia có thể chuyển sang thành cơn mưa. Trong
tình huống đầu, khi thấy một đối tượng, ta nói rằng điều đó làm
ta chợt nghĩ sang điều gì khác; trong tình huống thứ hai, ta có
đắn đo xem khả năng và bản chất của mối liên hệ giữa cái trông
thấy và cái được gợi ra. Cái trông thấy theo nghĩa nào đó được
coi như căn cứ hoặc cơ sở cho niềm tin vào cái được gợi ra; nó
mang một chất lượng làm chứng cứ.
Những
cách
diễn
Chính chức năng mà cái này báo hiệu hoặc chỉ ra cái kia, và
vì thế hướng ta vào việc xét xem cái đó được coi là sự đảm bảo
cho niềm tin vào cái kia đến mức độ nào, khi đó nó là nhân tố
đạt
như
nhau
cho
trung tâm trong mọi tư duy phản tỉnh hoặc là mang tính trí tuệ
đặc thù. Bằng cách đưa ra những tình thế khác nhau biểu hiện
qua những từ như báo hiệu và chỉ ra, người học sẽ tìm ra cho bản
chức
thân những sự kiện có thực được diễn đạt bởi cụm từ tư duy phản
năng
tỉnh. Những từ có cùng nghĩa với cụm từ này bao gồm: chỉ tới,
của tác
nói về, báo hiệu, dự báo, biểu hiện, đại diện, ngụ ý*. Chúng ta
động
cũng nói rằng cái này là điềm báo cho cái kia; tiềm định cái kia,
báo
hiệu
hay là triệu chứng của cái đó, hoặc là chìa khóa cho nó, hoặc
(nếu sự liên hệ tỏ ra khá mù mờ) nó ám chỉ, phô ra ngụ ý, bộc lộ
đầu mối hoặc mang đến cảm nhận.
Phản
tư và
sự tin
tưởng
Tư duy phản tỉnh vì thế hàm ý cái gì được tin (hoặc không
tin), không phải qua sự biểu đạt trực diện của nó, mà qua điều
khác có vị thế chứng nhân, bằng chứng, bằng cớ, biên nhận, bảo
dựa
đảm; tức là làm cơ sở tin tưởng. Có lúc, ta trực tiếp cảm nhận
trên
hoặc trải nghiệm cơn mưa; lúc khác, ta suy đoán về cơn mưa
bằng
bằng việc nhìn ngó cây cối, hoặc ta biết trời sắp có mưa căn cứ
chứng
vào tình trạng bầu khí quyển hay qua chỉ báo phong vũ biểu. Có
lúc, ta thấy có người (hoặc giả là như vậy) mà không cần thông
qua sự việc trung gian nào; lúc khác, ta lại không dám chắc vào
chính điều mắt ta thấy, và truy tìm những sự việc cùng đi kèm có
ý nghĩa như những dấu hiệu, chỉ báo, điềm báo cho điều mà ta
phải tin tưởng.
Tư duy, trong những mục đích của tra vấn này, được định
nghĩa như là sự vận động trong đó những sự vật hiện thời gợi tới
những sự vật (hoặc sự thực) khác theo cách gây tạo niềm tin vào
cái sau dựa trên cơ sở hoặc dựa vào sự bảo đảm của cái trước.
Chúng ta không đặt niềm tin đơn giản chỉ dựa vào suy luận ở
mức độ bảo đảm cao nhất. Khi nói “Tôi nghĩ thế” tức là ngụ ý tôi
vẫn chưa biết thế. Niềm tin thu được thông qua suy luận có thể
mãi về sau mới được xác nhận và đứng vững, nhưng tự thân nó
luôn chứa đựng trong mình đôi phần giả định.
§3. Những thành tố của suy nghĩ phản tỉnh
Ta có thể ngừng ở đây việc mô tả những khía cạnh có tính
chất bề ngoài và hiển nhiên của sự việc được gọi là suy nghĩ. Suy
xét sâu hơn nữa lập tức cho ta thấy những chu trình góp mặt vào
trong mỗi vận động của sự phản tỉnh. Những chu trình này gồm:
(a) một trạng thái bối rối, băn khoăn, ngờ vực; và (b) một hành vi
tìm tòi hoặc tra xét vận động theo hướng soi tỏ những sự việc kế
tiếp có tác dụng minh chứng hoặc vô hiệu hóa sự tin tưởng đã gợi
mở.
Ý
nghĩa
của sự
bất tất
(a) Như trong ví dụ minh họa, cái lạnh xộc vào người gây
xáo động và hoang mang, chí ít trong một thoáng chốc. Do nó ập
đến bất ngờ, cảm giác rùng mình hay sự gián đoạn suy nghĩ đó
cần được lý giải, xác định, hoặc định rõ. Nói rằng sự đột biến về
nhiệt độ gây ra vấn đề ấy thì xem chừng vẫn khiên cưỡng và giả
tạo; song nếu ta sẵn lòng mở rộng ý nghĩa của từ vấn đề bao quát
bất cứ điều gì – cho dù điều đó có tính chất nhỏ nhặt và thông
thường cỡ nào đi nữa – gây băn khoăn và thách đố trí óc, làm
lung lay chút tín tưởng vốn dĩ đã mong manh, thì quả thực khi ấy
có một vấn đề hay mối bận tâm đã xảy ra cùng lúc với trải
nghiệm đột biến này.
Và của
việc
truy
vấn với
(b) Động tác ngẩng đầu, ngước mắt quét ánh nhìn ngang bầu
trời, là những hành động phản ứng để đưa vào ý thức nhận biết
những sự việc có tác dụng đem đến lời giải đáp cho cảm giác se
mục
lạnh. Những sự việc đó thoạt đầu khiến ta đôi chút bối rối; tuy
đích
vậy, chúng gợi mở tới những đám mây. Động tác nhìn ngó là một
thử
nghiệm
hành vi khám phá xem liệu lời giải đáp này có thỏa đáng chăng,
cho rằng hành động nhìn ngó hầu như không cần suy nghĩ này là
hành vi nghiên cứu hoặc tra vấn thì xem chừng cũng vẫn đôi chút
gượng ép. Nhưng một lần nữa, nếu ta sẵn lòng khái quát những ý
niệm về vận động của trí óc bao gồm từ những thứ nhỏ nhặt và
thông thường cho tới những thứ mang tính kỹ thuật và khó hiểu,
thì không có lý gì khiến ta gạt đi việc gắn cho hành động ngước
nhìn đó cách gọi tên như vậy cả. Ý nghĩa chung cho hành động
tra xét này là để xác nhận hoặc phủ nhận niềm tin đã được gợi
mở. Những sự việc mới được mang lại trong ý niệm, qua đó
chúng xác thực ý tưởng về tình trạng thời tiết đang sắp thay đổi,
hoặc phủ nhận điều đó.
Tìm
đường
là ví dụ
minh
Một ví dụ khác, cũng hay gặp nhưng không đến mức quá nhỏ
nhặt, có thể minh chứng bài học này. Trên vùng đất lạ, một người
tới một ngã ba đường. Vì không rõ phương hướng, anh ta phân
họa
vân và đứng lại. Lối nào mới là lối đi đúng? Làm thế nào thoát
cho tư
khỏi trình trạng rắc rối này? Chỉ có một trong hai cách: hoặc anh
duy
ta cứ thế dấn bước, phó mặc cho may rủi, hoặc anh ta phải tìm ra
phản
cơ sở đảm bảo để chọn ra lối đi đúng. Bất cứ sự đắn đo suy nghĩ
tỉnh
nào nhằm quyết định việc này đều dính tới việc lục vấn những sự
kiện khác, dù là được lấy ra từ trí nhớ hay từ sự quan sát kỹ càng
hơn, hoặc cả hai. Kẻ bộ hành đang bối rối kia hẳn phải nhìn trước
ngó sau kỹ càng và lục tung trí nhớ. Anh ta xoay xở tìm kiếm
bằng chứng củng cố cho niềm tin vào sự lựa chọn một trong hai
ngả đường – bằng chứng mà sẽ khiến anh ta nghiêng về một lựa
chọn. Anh ta có thể leo lên cây; có thể bước qua lối này rồi chạy
sang lối kia nhìn ngó, kiếm tìm một dấu hiệu, đầu mối, chỉ dẫn ở
từng ngả. Anh ta muốn tìm cho ra cái gì đó tựa hồ tấm bảng chỉ
đường hoặc tấm bản đồ, và toàn bộ việc suy xét của anh ta đều
nhằm phát hiện
Tác giả
John Dewey
Dịch giả
Vũ Đức Anh
Số trang
372 trang
Năm
2017
Tủ sách
Tủ sách Tinh hoa
Nxb
Tri Thức
✪
VcTveGroup
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Lời tựa
CÁC nhà trường của chúng ta đang rối bời với vô số môn học, mỗi môn
lại có cơ man các tài liệu và quy tắc. Gánh nặng càng dồn lên vai những
người làm nghề dạy khi họ phải ứng xử với từng cá nhân học sinh chứ không
phải trước một số đông. Trừ phi những bước đi tiên phong này rốt cuộc chỉ
để tiêu khiển đầu óc, mục đích của chúng ta là tìm ra được điểm mấu chốt
hay nguyên tắc nào đó hướng tới một sự giản lược hóa. Cuốn sách này thể
hiện niềm tin vững chắc rằng, việc nỗ lực đưa thái độ tâm trí, đưa thói quen
tư duy – những cái mà chúng ta gọi là có tính khoa học ấy – trở thành cứu
cánh sẽ đồng thời làm phát lộ nhân tố có tác dụng củng cố và hướng đến
niềm tin ấy. Dễ mường tượng được là thái độ khoa học này khó lòng dung
hợp ngay với việc dạy dỗ thanh thiếu niên. Nhưng cuốn sách này cũng thể
hiện niềm tin rằng đó không phải là điều muốn hướng tới; rằng thái độ cố
hữu và còn vô nhiễm của tuổi thơ, nổi bật với trí tò mò, óc tưởng tượng đầy
hứng khởi cùng với lòng yêu thích tra xét thử nghiệm là những thứ gần gũi,
rất gần gũi với thái độ của một đầu óc khoa học. Nếu những trang viết này
giúp ích chút nào cho việc ngộ ra được mối liên hệ mật thiết này cũng như
giúp cho việc nghiêm túc suy xét rằng làm thế nào mà khi điều này đi vào
thực tiễn giáo dục sẽ đem đến hạnh phúc cá nhân và giảm bớt lãng phí xã
hội, hẳn khi ấy tác dụng của cuốn sách đã vượt quá sự mong đợi.
Không thể kể tên cho hết các tác giả mà tôi muốn tri ân. Xin tỏ lòng biết
ơn sâu sắc tới vợ tôi, người tiếp nguồn cảm hứng cho những ý tưởng của
cuốn sách, và chuyên tâm tận sức với Trường thực nghiệm tại Chicago trong
thời gian từ năm 1896 đến năm 1903. Qua đó, những ý tưởng trong cuốn
sách này trở nên cụ thể vì đã được tổ chức và thử nghiệm trong thực tiễn.
Cũng qua đây, tôi vinh hạnh bày tỏ lòng biết ơn đối với những đóng góp trí
tuệ và sự đồng cảm của những người đã cộng tác với tư cách tham gia giảng
dạy, giám sát quá trình điều hành ngôi trường thực nghiệm, và nhất là bà
Ella Flagg Young, khi còn là đồng nghiệp của tôi tại Trường đại học, nay là
Thanh tra giáo dục Chicago.
New York, tháng 12 năm 1909
PHẦN MỘT: VẤN ĐỀ LUYỆN
TRÍ
Chương I
Ý nghĩ là gì?
§1. Những Sắc thái của Thuật ngữ
Bốn
sắc
thái
của từ
KHÔNG từ ngữ nào quen miệng ta cho bằng những từ như
nghĩ tưởng và ý nghĩ. Quả thật lối sử dụng vô tội vạ những từ này
khiến việc minh định cho rành cái chúng ta muốn bày tỏ là không
ý nghĩ,
hề dễ dàng. Mục đích của chương này là tìm cho ra một ý nghĩa
từ rộng
xuyên suốt và nhất quán, có thể đạt được mục đích đó bằng cách
đến
xem xét một vài lối sử dụng điển hình của các thuật ngữ này.
hẹp
Thoạt tiên từ ý nghĩ được dùng một cách rộng rãi nếu không
dần
muốn nói là tùy tiện. Bất cứ cái gì hiện ra trong trí, cái gì “lướt
qua đầu”, đều được gọi là một ý nghĩ. Nghĩ tới một sự vật chỉ có
nghĩa là có ý thức về sự vật đó theo bất cứ cách nào. Thứ đến,
thuật ngữ này được giới hạn bằng cách gạt đi tất cả những gì trực
tiếp hiển hiện; chúng ta nghĩ (hoặc nghĩ tới) điều gì đó chỉ khi
nào chúng ta không trực tiếp trông thấy, nghe, ngửi, hoặc nếm
được. Thứ ba là, ý nghĩa của từ ấy tiếp tục được lược bớt chỉ bao
gồm những niềm tin có căn cứ trên một kiểu bằng chứng hay sự
thực chứng nào đó. Trong loại thứ ba này, có hai kiểu – hoặc
đúng hơn, hai cấp độ – cần phải được tách bạch. Trong một số
trường hợp, một niềm tin được chấp thuận mà hầu như không
mấy tốn sức để chỉ ra được những cơ sở cho niềm tin ấy. Trong
những hoàn cảnh khác, căn cứ hay nền tảng của niềm tin phải
được chủ động truy nguyên cũng như tính thích đáng của nó phải
được xem xét. Tiến trình này gọi là suy nghĩ phản tỉnh; nội tiến
trình này đã có giá trị giáo dục đích thực, và theo đó hình thành
nên chủ đề cốt lõi cho tập sách này. Ngay sau đây chúng ta sẽ lần
lượt phác sơ qua bốn sắc thái đó.
Ý nghĩ
nhất
thời và
vu vơ
I. Ở bình diện rộng nhất, ý nghĩ gợi đến mọi thứ, như chúng
ta vẫn nói là “ở trong đầu ta” hay “lướt qua óc ta”. Khi có ai ngỏ
ý hỏi “bạn đang nghĩ gì vậy” thì đó là một lời hỏi thăm không
hơn không kém. Gọi những thứ trong đầu bạn là những ý nghĩ,
quả tình người hỏi không có ý mong những thứ đó phải có giá trị
thực sự, sự liền mạch hay là sự thật. Bất cứ một nghĩ tưởng phù
phiếm, một hồi ức nhỏ nhặt hay ảnh tượng rời rạc nào cũng đủ
đáp đổi lời hỏi thăm của người kia. Kiểu mơ mộng giữa ban
ngày, xây lâu đài trên cát, cái luồng vô định các chất liệu tùy tiện
và rời rạc ấy khi trôi ngang đầu óc chúng ta trong những lúc rỗi
rãi, theo cái nghĩa vô tư lự này, là sự nghĩ tưởng. Một phần đáng
kể trong cuộc đời chúng ta khi hữu thức, mà ắt chẳng bao giờ
chúng ta tự mình nhìn nhận được trọn vẹn, chắc hẳn dành cả vào
sự nghĩ tưởng phù phiếm và hi vọng viển vông.
Ý nghĩ
phản
tỉnh là
liên tục
Theo nghĩa này, những tay ấm ớ với những kẻ bị thịt cũng
biết suy nghĩ, có câu chuyện về một kẻ không mấy tiếng tăm là
có đầu óc nọ, muốn được bầu làm đại biểu cho thành phố sở tại
chứ
thuộc vùng New England, đã phát biểu trước đám đông hàng phố
không
thế này: “Tôi có nghe các quý vị không tin là tôi đủ hiểu biết để
chỉ là
giữ chức vụ này. Tôi mong rằng quý vị hãy hiểu cho là tôi hầu
một
như lúc nào cũng suy nghĩ hết việc này đến việc khác”, ở đây ý
chuỗi
nghĩ phản tỉnh giống như thể một tràng những sự vật này chạy
ngang trí óc, ở chỗ nó bao gồm một chuỗi các sự vật được nghĩ
đến; nhưng nó khác ở chỗ là nếu chỉ có một chuỗi ngẫu nhiên
những “việc này việc nọ” tình cờ chắp nối một cách vô quy tắc
thì chưa đủ. Sự phản tỉnh không chỉ liên quan tới một chuỗi các ý
kiến, mà còn tới cả một hệ quả – một sự sắp đặt trật tự liên tục
theo cách nào đó sao cho mỗi hệ quả định đoạt phần kế tiếp như
là kết quả chính đáng của nó, cùng lúc về phần mỗi hệ quả đó lại
tựa vào những cái liền kề đã xảy ra trước. Những phần liên tiếp
của suy nghĩ phản tỉnh vươn lên từ phần kia và chống đỡ cho
nhau; chúng không tới và lui trong mớ hỗn độn; Mỗi công đoạn
là một bước đi từ cái này tới cái kia – nói đúng hơn, nó là một
giai kỳ của ý nghĩ. Mỗi chu kỳ để lại một lớp bồi tích sẽ được
dùng trong lần sau. Cái dòng hay luồng suy nghĩ ấy như thể là
một đoàn tàu, một chuỗi mắt xích hay sợi chỉ xuyên suốt.
Thu
gọn
phạm
vi của
II. Ngay cả khi việc suy nghĩ được sử dụng theo nghĩa rộng,
nó thường được giới hạn trong phạm vi các vấn đề không trực
nhận được: tức là những thứ ta không trông thấy, ngửi, nghe hay
nghĩ
sờ nắm được. Khi hỏi người kể chuyện liệu anh ta đã tận mắt
tưởng
thấy sự việc nào đó xảy ra chưa, câu trả lời rất có thể là “Không,
vào
tôi chỉ nghĩ thế”. Yếu tố hư cấu vậy là hiển lộ, khác với việc ghi
trong
nhận lại trung thực bằng quan sát. Điều quan trọng hơn cả trong
những
gì vượt
những suy nghĩ loại này là hàng loạt những sự việc tưởng tượng
quá
và bối cảnh, mà với mức độ mạch lạc nhất định, cài vào nhau
trực
trên một sợi dây xuyên suốt, nằm giữa một bên là những ý tưởng
quan,
viển vông đẹp đẽ và bên kia là những cân nhắc có chủ ý dùng để
thiết lập một kết luận. Những chuyện tưởng tượng mà trẻ con hào
hứng tuôn ra có đủ mọi mức độ ăn nhập về nội dung; có chuyện
thì đầu voi đuôi chuột, có chuyện lại ăn khớp với nhau. Khi được
kết nối, chúng phỏng dụ cho ý nghĩ có phản tỉnh; thực ra, chúng
thường nảy sinh trong những đầu óc có năng lực tư duy logic.
Những chuyện tưởng tượng này thường xuất hiện trước kiểu nghĩ
tưởng có kết cấu chặt chẽ và dọn đường cho lối nghĩ tưởng đó.
Ý nghĩ
phản
tỉnh
nhằm
Nhưng những suy nghĩ này không nhắm đến tri thức, đến sự
tin tưởng vào các sự kiện hoặc vào sự thật; và do đó chúng
không thuộc vào loại ý nghĩ phản tỉnh cho dù nó gần giống như
vào sự
vậy. Người bày tỏ những suy nghĩ đó hẳn không đón đợi sự tin
tin
cẩn, mà đúng ra họ chỉ muốn tạo dựng sự tin cậy cho một ý đồ
tưởng
khéo léo hoặc một cao trào có lớp lang. Họ dựng lên những câu
chuyện hay, chứ không – trừ phi do ngẫu nhiên – tạo ra tri thức.
Những ý nghĩ đó là sự giải phóng xúc cảm; mục đích của chúng
nhằm đẩy tới một trạng thái tâm lý hoặc cảm xúc; mối ràng buộc
của chúng nằm ở sự đồng điệu cảm xúc.
Ý nghĩ
dẫn dụ
niềm
tin theo
hai
cách
III. Theo ý nghĩa tiếp theo, ý nghĩ biểu thị niềm tin dựa vào
một căn cứ nào đó, tức là, tri thức, có thực hoặc được coi là có
thực, vượt ra khỏi những gì hiển hiện. Nó được nhận biết thông
qua sự chấp thuận hoặc gạt bỏ điều gì như là có khả năng hay
không có khả năng xảy ra theo lý lẽ. Tuy nhiên, công đoạn này
của ý nghĩ bao gồm hai loại niềm tin khác nhau, dẫu cho sự khác
biệt đó dứt khoát phải là khác biệt mức độ chứ không phải khác
biệt loại tính, nên việc xét chúng một cách riêng rẽ là thực sự
quan yếu. Có những niềm tin được chấp nhận ngay khi những
căn cứ của chúng chưa được tính đến, trong khi những niềm tin
khác được chấp nhận bởi lẽ căn cứ của chúng đã được khảo sát.
Khi nói “Xưa kia người ta từng cho là thế giới này bằng
phẳng,” hoặc “Tôi tưởng anh vừa đi qua trước nhà”, chúng ta
biểu đạt một niềm tin: điều gì đó được thâu nhận, bám giữ, thuận
theo, hoặc xác nhận. Nhưng những suy nghĩ đó có thể hàm nghĩa
có một giả định được thừa nhận trong khi những căn cứ thực sự
của nó không hề được tính đến. Những mệnh đề đưa ra đủ điều
kiện để được xem là những niềm tin, nhưng có thể chưa thỏa mãn
cấp độ cao nhất của ý nghĩ; duy một điều giá trị của chúng xét
trong ý nghĩa nâng đỡ niềm tin thì đã không hề được tính tới.
Những suy nghĩ kiểu đó lớn dần một cách vô thức và không
hề quy chiếu vào việc đạt tới một niềm tin đúng. Những ý nghĩ
đó được ta tóm bắt lấy – chúng ta không rõ bằng cách nào. Từ
những đầu mối khuất khúc và qua những cửa ngõ không ngờ tới,
chúng nghiễm nhiên được ta thừa nhận và vô hình trung đi vào
trong sinh hoạt tinh thần của chúng ta. Lề lối, sự truyền thụ, sự
bắt chước – tất cả những cái ăn theo quyền uy trong dạng thức
nào đó, hoặc dựa vào lợi thế của chính chúng ta, hoặc hòa quyện
với một đam mê mãnh liệt – đều phải chịu trách nhiệm về chúng.
Những ý nghĩ đó là thành kiến, tức là, những phán đoán chưa
được thẩm tra, chưa phải là những xét đoán vốn dựa trên việc
khảo sát các bằng chứng*.
Suy
tưởng
trong
nghĩa
IV. Những ý nghĩ đưa lại niềm tin tự thân có một vai trò quan
trọng là chúng dẫn tới tư duy phản thân, tới sự truy vấn hữu ý
vào bản chất, vào các điều kiện và cơ sở của niềm tin. Từ những
chặt
đám mây mà nghĩ tưởng tới những con cá voi và lạc đà, tức là tự
chẽ
tiêu khiển bằng trí tưởng tượng, có thể đọng lại trong ta là sự
nhất là
thích thú, mà không đưa dẫn tới một niềm tin cụ thể nào. Nhưng
có cân
khi nghĩ rằng thế giới là bằng phẳng, tức là đã gán cho một sự vật
nhắc
tới căn
có thực một tính chất như thể đó là thuộc tính thực sự của vật ấy.
cứ và
Kết luận này biểu thị cho mối ràng buộc giữa các sự vật, và do
những
vậy, giống như ý nghĩ tưởng tượng, không bị biến đổi theo tâm
hệ quả
trạng chúng ta. Niềm tin vào tính bằng phẳng của thế giới sẽ
của
khiến cho người giữ niềm tin ấy suy nghĩ về các đối tượng khác
việc tin
tưởng
theo những cách thức riêng nào đó, chẳng hạn như về những
thiên thể, về những điểm đối chân {trong trường hợp của địa
cầu}, về khả năng hàng hải. Nó sẽ quy định những hành động
của anh ta sao cho phù hợp với ý niệm mà anh ta mang trong đầu
về những đối tượng này.
Sau đó những hệ quả của niềm tin này tác động lên những
niềm tin khác và lên hành vi có thể trở nên hệ trọng tới độ người
ta buộc lòng phải xem xét những cơ sở hoặc lý lẽ cho niềm tin
của mình cùng những hậu quả nó kéo theo. Điều muốn nói tới ở
đây là ý nghĩ phản tỉnh – ý nghĩ trong ý nghĩa chân thực và dứt
khoát của nó.
Người ta nghĩ rằng thế giới này là bằng phẳng cho tới khi
Columbus nghĩ rằng nó tròn. Ý nghĩ trước là niềm tin của những
người không có sức mạnh hoặc can đảm để chất vấn những điều
quanh họ được chấp nhận và dạy đỗ, nhất là khi nó được đưa ra
và dường như được thừa nhận bởi những sự việc hiển hiện trước
cảm quan. Ý nghĩ của Columbus là một kết luận có luận giải. Nó
thể hiện sự sâu sát trong việc tìm hiểu sự vật, sự săm soi và tu
chính bằng chứng, việc tìm ra ý nghĩa của những giả thuyết khác
nhau, và việc so sánh những kết quả lý thuyết này với nhau và
với những sự vật đã biết. Vì Columbus không mặc nhiên chấp
nhận những lý thuyết đương thời, vì ông nghi ngờ và tra vấn, ông
đạt đến ý nghĩ đó. Hoài nghi những cái được xem như đương
nhiên, vốn bắt rễ từ thói quen truyền đời và tin vào những điều
tưởng như không thể, ông đã tiếp tục suy nghĩ cho đến khi tìm ra
bằng chứng chứng minh cho niềm tin cũng như bác bỏ những
điều ông không tin. Ngay cả khi kết luận của ông rốt cuộc là sai
thì niềm tin ấy vẫn thuộc vào một loại khác so với những niềm
tin mà nó xung khắc, bởi lẽ nó đạt đến theo một phương cách
khác hẳn.
Định
nghĩa
cho tư
duy
phản
thân
Những suy tính đắn đo, tích cực, bền bỉ, và cẩn trọng đối với
bất cứ niềm tin hoặc hình thức nào của tri thức dưới sự soi tỏ
của những căn cứ nâng đỡ nó, và những kết luận mà nó có xu
hướng giải phóng, tạo nên tư duy phản thân. Bất cứ hình thức
suy tưởng nào trong số ba kiểu ban đầu đều khó lòng kích thích
được kiểu tư duy loại này; nhưng một khi đã được nhen lên, nó là
một nỗ lực đầy ý thức và tự nguyện trong việc kiến tạo niềm tin
có cơ sở vững chắc.
§2. Thành tố cốt lõi trong suy tưởng
Có một
thành
tố
chung
Tuy nhiên không có những đường ranh rõ rệt giữa những vận
động vừa phác qua. Việc tạo lập được những thói quen tư duy
đúng đắn sẽ dễ dàng hơn nhiều nếu những kiểu suy xét khác biệt
trong
đó không vô tình cài lẫn vào nhau. Đến đây, chúng ta đã xem xét
các
những ví dụ khá cực đoan tiêu biểu cho từng loại nhằm làm
loại
khoáng đạt phạm vi chủ đề. Giờ chúng ta đi ngược lại sự vận
suy
động này; chúng ta xét một tình huống căn cơ của hành động
tưởng:
nghĩ, giữa một bên là sự khảo sát bằng chứng cẩn trọng với một
bên là dòng các suy nghĩ thuần túy vô tư lự. Một người đang dạo
bộ một ngày đẹp trời nọ. Lần cuối ngước lên anh ta thấy trời vẫn
còn trong; trong khi đầu óc hãy còn bận việc riêng, anh ta thấy
không khí có vẻ se lạnh hơn. Anh ta nhận thấy trời có vẻ sắp
mưa; ngước mắt nhìn, anh ta thấy có đám mây đen ngang trời và
vội rảo bước. Vậy những tình huống như thế thì điều gì có thể
được xem là ý nghĩ? Cả hành động đi lẫn việc phát hiện hơi lạnh
trong không khí đều không phải là ý nghĩ. Động tác bước chân là
một phương cách hành động; nhìn thấy và nhận biết là dạng hoạt
động khác. Tuy nhiên khả năng trời sắp đổ mưa là điều gì đó
được gợi ra. Người đi dạo cảm nhận thấy hơi lạnh; anh ta nghĩ
đến những đám mây và cơn mưa chực ập xuống.
Sự gợi
ý đến
điều gì
ngoài
Ở đây ta có một tình huống giống như khi một người nhìn
đám mây thì tưởng tượng ra hình người với khuôn mặt. Suy nghĩ
trong cả hai tình huống này (tình huống thực tin và tình huống
tầm
tiêu khiển) liên quan tới một sự kiện đã được ghi nhận hay là
mắt.
được nhận thức, kéo theo điều gì đó không được quan sát thấy
Mà sự
mà được đem vào trong trí óc, được gợi ra từ cái đã trông thấy.
phản
Chúng ta nói rằng cái này nhắc ta về cái kia. Tuy nhiên, song đối
tỉnh
can dự
với nhân tố quy đồng hai tình huống dù cho sự gợi ý này còn có
cả vào
một nhân tố thể hiện sự khác biệt rõ rệt. Chúng ta không tin vào
những
khuôn mặt do đám mây tạo ra; chúng ta không mảy may đắn đo
liên hệ
xem liệu đó có phải sự thực. Trong đó không hề có suy tư phản
nằm
tỉnh. Trái lại, cơn mưa chực ập xuống gợi ra một nguy cơ thực sự
trong
việc
báo
hiệu
– một sự kiện hoàn toàn có thể xảy đến có cùng bản chất với sự
cảm nhận hơi lạnh trong không khí. Nói khác đi, ta không coi
đám mây có nghĩa hoặc chỉ rõ một khuôn mặt mà nó chỉ đơn
thuần gợi ra hình mặt người trong khi chúng ta thực sự băn
khoăn liệu cái lạnh kia có thể chuyển sang thành cơn mưa. Trong
tình huống đầu, khi thấy một đối tượng, ta nói rằng điều đó làm
ta chợt nghĩ sang điều gì khác; trong tình huống thứ hai, ta có
đắn đo xem khả năng và bản chất của mối liên hệ giữa cái trông
thấy và cái được gợi ra. Cái trông thấy theo nghĩa nào đó được
coi như căn cứ hoặc cơ sở cho niềm tin vào cái được gợi ra; nó
mang một chất lượng làm chứng cứ.
Những
cách
diễn
Chính chức năng mà cái này báo hiệu hoặc chỉ ra cái kia, và
vì thế hướng ta vào việc xét xem cái đó được coi là sự đảm bảo
cho niềm tin vào cái kia đến mức độ nào, khi đó nó là nhân tố
đạt
như
nhau
cho
trung tâm trong mọi tư duy phản tỉnh hoặc là mang tính trí tuệ
đặc thù. Bằng cách đưa ra những tình thế khác nhau biểu hiện
qua những từ như báo hiệu và chỉ ra, người học sẽ tìm ra cho bản
chức
thân những sự kiện có thực được diễn đạt bởi cụm từ tư duy phản
năng
tỉnh. Những từ có cùng nghĩa với cụm từ này bao gồm: chỉ tới,
của tác
nói về, báo hiệu, dự báo, biểu hiện, đại diện, ngụ ý*. Chúng ta
động
cũng nói rằng cái này là điềm báo cho cái kia; tiềm định cái kia,
báo
hiệu
hay là triệu chứng của cái đó, hoặc là chìa khóa cho nó, hoặc
(nếu sự liên hệ tỏ ra khá mù mờ) nó ám chỉ, phô ra ngụ ý, bộc lộ
đầu mối hoặc mang đến cảm nhận.
Phản
tư và
sự tin
tưởng
Tư duy phản tỉnh vì thế hàm ý cái gì được tin (hoặc không
tin), không phải qua sự biểu đạt trực diện của nó, mà qua điều
khác có vị thế chứng nhân, bằng chứng, bằng cớ, biên nhận, bảo
dựa
đảm; tức là làm cơ sở tin tưởng. Có lúc, ta trực tiếp cảm nhận
trên
hoặc trải nghiệm cơn mưa; lúc khác, ta suy đoán về cơn mưa
bằng
bằng việc nhìn ngó cây cối, hoặc ta biết trời sắp có mưa căn cứ
chứng
vào tình trạng bầu khí quyển hay qua chỉ báo phong vũ biểu. Có
lúc, ta thấy có người (hoặc giả là như vậy) mà không cần thông
qua sự việc trung gian nào; lúc khác, ta lại không dám chắc vào
chính điều mắt ta thấy, và truy tìm những sự việc cùng đi kèm có
ý nghĩa như những dấu hiệu, chỉ báo, điềm báo cho điều mà ta
phải tin tưởng.
Tư duy, trong những mục đích của tra vấn này, được định
nghĩa như là sự vận động trong đó những sự vật hiện thời gợi tới
những sự vật (hoặc sự thực) khác theo cách gây tạo niềm tin vào
cái sau dựa trên cơ sở hoặc dựa vào sự bảo đảm của cái trước.
Chúng ta không đặt niềm tin đơn giản chỉ dựa vào suy luận ở
mức độ bảo đảm cao nhất. Khi nói “Tôi nghĩ thế” tức là ngụ ý tôi
vẫn chưa biết thế. Niềm tin thu được thông qua suy luận có thể
mãi về sau mới được xác nhận và đứng vững, nhưng tự thân nó
luôn chứa đựng trong mình đôi phần giả định.
§3. Những thành tố của suy nghĩ phản tỉnh
Ta có thể ngừng ở đây việc mô tả những khía cạnh có tính
chất bề ngoài và hiển nhiên của sự việc được gọi là suy nghĩ. Suy
xét sâu hơn nữa lập tức cho ta thấy những chu trình góp mặt vào
trong mỗi vận động của sự phản tỉnh. Những chu trình này gồm:
(a) một trạng thái bối rối, băn khoăn, ngờ vực; và (b) một hành vi
tìm tòi hoặc tra xét vận động theo hướng soi tỏ những sự việc kế
tiếp có tác dụng minh chứng hoặc vô hiệu hóa sự tin tưởng đã gợi
mở.
Ý
nghĩa
của sự
bất tất
(a) Như trong ví dụ minh họa, cái lạnh xộc vào người gây
xáo động và hoang mang, chí ít trong một thoáng chốc. Do nó ập
đến bất ngờ, cảm giác rùng mình hay sự gián đoạn suy nghĩ đó
cần được lý giải, xác định, hoặc định rõ. Nói rằng sự đột biến về
nhiệt độ gây ra vấn đề ấy thì xem chừng vẫn khiên cưỡng và giả
tạo; song nếu ta sẵn lòng mở rộng ý nghĩa của từ vấn đề bao quát
bất cứ điều gì – cho dù điều đó có tính chất nhỏ nhặt và thông
thường cỡ nào đi nữa – gây băn khoăn và thách đố trí óc, làm
lung lay chút tín tưởng vốn dĩ đã mong manh, thì quả thực khi ấy
có một vấn đề hay mối bận tâm đã xảy ra cùng lúc với trải
nghiệm đột biến này.
Và của
việc
truy
vấn với
(b) Động tác ngẩng đầu, ngước mắt quét ánh nhìn ngang bầu
trời, là những hành động phản ứng để đưa vào ý thức nhận biết
những sự việc có tác dụng đem đến lời giải đáp cho cảm giác se
mục
lạnh. Những sự việc đó thoạt đầu khiến ta đôi chút bối rối; tuy
đích
vậy, chúng gợi mở tới những đám mây. Động tác nhìn ngó là một
thử
nghiệm
hành vi khám phá xem liệu lời giải đáp này có thỏa đáng chăng,
cho rằng hành động nhìn ngó hầu như không cần suy nghĩ này là
hành vi nghiên cứu hoặc tra vấn thì xem chừng cũng vẫn đôi chút
gượng ép. Nhưng một lần nữa, nếu ta sẵn lòng khái quát những ý
niệm về vận động của trí óc bao gồm từ những thứ nhỏ nhặt và
thông thường cho tới những thứ mang tính kỹ thuật và khó hiểu,
thì không có lý gì khiến ta gạt đi việc gắn cho hành động ngước
nhìn đó cách gọi tên như vậy cả. Ý nghĩa chung cho hành động
tra xét này là để xác nhận hoặc phủ nhận niềm tin đã được gợi
mở. Những sự việc mới được mang lại trong ý niệm, qua đó
chúng xác thực ý tưởng về tình trạng thời tiết đang sắp thay đổi,
hoặc phủ nhận điều đó.
Tìm
đường
là ví dụ
minh
Một ví dụ khác, cũng hay gặp nhưng không đến mức quá nhỏ
nhặt, có thể minh chứng bài học này. Trên vùng đất lạ, một người
tới một ngã ba đường. Vì không rõ phương hướng, anh ta phân
họa
vân và đứng lại. Lối nào mới là lối đi đúng? Làm thế nào thoát
cho tư
khỏi trình trạng rắc rối này? Chỉ có một trong hai cách: hoặc anh
duy
ta cứ thế dấn bước, phó mặc cho may rủi, hoặc anh ta phải tìm ra
phản
cơ sở đảm bảo để chọn ra lối đi đúng. Bất cứ sự đắn đo suy nghĩ
tỉnh
nào nhằm quyết định việc này đều dính tới việc lục vấn những sự
kiện khác, dù là được lấy ra từ trí nhớ hay từ sự quan sát kỹ càng
hơn, hoặc cả hai. Kẻ bộ hành đang bối rối kia hẳn phải nhìn trước
ngó sau kỹ càng và lục tung trí nhớ. Anh ta xoay xở tìm kiếm
bằng chứng củng cố cho niềm tin vào sự lựa chọn một trong hai
ngả đường – bằng chứng mà sẽ khiến anh ta nghiêng về một lựa
chọn. Anh ta có thể leo lên cây; có thể bước qua lối này rồi chạy
sang lối kia nhìn ngó, kiếm tìm một dấu hiệu, đầu mối, chỉ dẫn ở
từng ngả. Anh ta muốn tìm cho ra cái gì đó tựa hồ tấm bảng chỉ
đường hoặc tấm bản đồ, và toàn bộ việc suy xét của anh ta đều
nhằm phát hiện
 









Các ý kiến mới nhất