Đề khảo sát chất lượng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: chính chủ
Người gửi: Nguyễn Đại Hùng
Ngày gửi: 21h:45' 04-05-2023
Dung lượng: 26.5 KB
Số lượt tải: 30
Nguồn: chính chủ
Người gửi: Nguyễn Đại Hùng
Ngày gửi: 21h:45' 04-05-2023
Dung lượng: 26.5 KB
Số lượt tải: 30
Số lượt thích:
0 người
Đề bài: Phân tích tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử.
Dàn ý chi tiết:
1. Mở bài:
“Tôi đã đôi lần đến với huế mộng mơ,
tôi ôm ấp một tình yêu dịu ngọt.”
Xứ Huế là xứ sở mộng mơ tràn ngập tình yêu là nguồn cảm hứng vô tận cho các thi sĩ đa tình.
Viết về xứ Huế, có nhiều tác giả đã dành hết cả tâm tư tình cảm của mình để nâng niu mảnh đất
này bằng những câu thơ ngọt ngào. Hàn Mặc Tử cũng là nhà thơ bị thu hút bởi sự mơ mộng ấy,
ông viết về xứ Huế bằng niềm trân trọng và gửi gắm tất cả tình cảm chân thành của mình cho
các tác phẩm văn học với lòng tha thiết mến thương. “Đây thôn Vĩ Dạ” là tình yêu thiên nhiên,
là tâm hồn nhạy cảm, đồng thời là sự giãi bày nỗi niềm bâng khuâng, khát khao về hạnh phúc
của con người thôn Vĩ được vẽ nên bởi một thi sĩ đa tình. Đây cũng chính là tác phẩm tâm đắ
nhất của Hàn Mặc Tử trước khi ông qua đời.
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
…………
Ai biết tình ai có đạm đà?”
2. Thân bài:
a. Tổng:
“Đây thôn Vĩ Dạ” được lấy cảm hứng từ bức ảnh mà Hoàng Cúc - người tình trong mộng
của Hàn Mặc Tử, tặng kèm lời thăm hỏi khi ông đang lúc đau bệnh. Ban đầu bài thơ được đặt
tên “Ở đây thôn Vĩ Dạ” và được in trong tập “Thơ Điên” năm 1938, sau đổi thành “Đau
thương”. Bài thơ nằm ở phần “Hương thơm” của tập thơ. Bài thơ là một thi phẩm xuất sắc của
thơ mới, là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ của Hàn Mặc Tử.
b. Phân tích:
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên,”
Khổ thứ nhất mở đầu bằng một câu hỏi tu từ. Câu thơ thoáng như một lời trách móc nhẹ
nhàng có pha chút tiếc nuối của ai đó, nhưng đằng sau đó là lời chào mời tha thiết khách đến
thăm để được thưởng thức cảnh đẹp của “thôn Vĩ”. Về thôn Vĩ để được “nhìn nắng hàng cau
nắng mới lên”. Nhà thơ nói đến cây cau trước tiên vì cau là loài cây thanh nhã, xinh xắn với
thân thẳng tắp, tán lá xanh tươi, gợi sự ngay thẳng thủy chung. Hình ảnh hàng cau ở đây còn có
một chi tiết khó quên, ấy là “Nắng hàng cau, nắng mới lên”. Điệp từ “nắng” gợi cho ta ánh nắng
ban mai, biểu tượng cho sức sống, niềm vui đang lan tỏa tràn đầy mặt đất. Trong ánh nắng ban
mai, những thân cau còn đọng sương đêm sáng lên lấp lánh như đang vươn lên hút lấy những
ánh vàng rực rỡ.
“Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc
Lá trúc he ngang mặt chữ điền.”
1
Cảnh đẹp, thu hút sự chú ý của tác giả. Câu thơ thứ ba cất lên như một tiếng reo thích thú
biểu hiện sự ngạc nhiên, ngưỡng mộ. Khung cảnh Vĩ Dạ đẹp như một bức tranh: “Vườn ai mướt
quá xanh như ngọc”. Vườn Vĩ Dạ với những cây trái được sự chăm sóc bởi bàn tay khéo léo, lại
được tắm gội mưa gió thường xuyên, nên mượt mà và dưới ánh nắng ban mai lấp lánh như
những viên ngọc bích. Hình ảnh so sánh của tác giả trong câu thơ vừa chính xác, vừa gợi cảm.
Có thể nói, tả vườn của Hàn Mặc Tử đã đạt đến độ tinh tế của một họa sĩ tài hoa. Chỉ bằng vài
nét vẽ chấm phá, Hàn Mạc Tử đã phác họa được khung cảnh khu vườn một làng quê xứ Huế
vừa quen thuộc, bình dị, vừa thi vị độc đáo. Ngắm vườn xứ Huế trong cái “nắng mới lên” thật
thanh thản. Nhưng cảnh vật Vĩ Dạ bỗng sinh động hẳn lên, khi bóng dáng con người xuất hiện:
“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Mặt chữ điền thường gợi về vẻ đẹp phúc hậu. trang trọng,
quý phái, còn lá trúc gợi cái dáng vẻ mảnh mai, xinh xắn, thanh tú. Câu thơ ngoài ý nghĩa tả
thực: thấp thoáng sau khóm trúc có khuôn mặt rất phúc hậu của ai đó hình như đang dõi theo
khách đường xa, còn có ý nghĩa tượng trưng, cách điệu hóa. Cảnh và người tô điểm cho nhau:
cảnh xinh xắn, thơ mộng, người phúc hậu qúy phái. Tất cả tạo nên một vẻ đẹp kín đáo, dịu
dàng. Nhờ thế câu thơ đã làm bật được cái linh hồn vườn cây xứ Huế mà khổ thơ tập trung biểu
hiện.
Tóm lại, bằng những chi tiết rất quen thuộc và bình dị, Hàn Mạc Tử đã khắc họa một bức
tranh quê Vĩ Dạ tràn đầy sức sống với vẻ đẹp bất ngờ, có sự hài hòa giữa cảnh và người. Đoạn
thơ làm khơi dậy trong tâm hồn người đọc biết bao nỗi niềm quê hương làng mạc Việt Nam.
Khổ thơ thứ hai cho thấy một thế giới khác của Huế: dòng sông Hương và vẻ đẹp êm đềm
trầm tư của Vĩ Dạ nói riêng và Huế nói chung.Về với Vĩ Dạ, về với Huế, với núi Ngự, sông
Hương, Hàn Mạc Tử cũng cảm nhận được cái linh hồn, cái nhịp điệu rất Huế ấy. Khung cảnh
Huế dưới ngòi bút của Hàn Mạc Tử có sông nước, bờ bài, có gió, có mây và con thuyền ai đó
đậu dưới trăng nơi bến vắng. Tất cả tạo nên một bức tranh êm đềm, thơ mộng.
“Gió theo lối gió, mấy đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.”
Hai câu thơ đầu tả cảnh nhưng thấm đẫm tình người. Hai câu thơ gợi cảm giác chia li buồn
vắng đến não nề. Phải chăng một mối tình đơn phương, chưa có phút giây gặp gỡ ngọt ngào đã
sớm chia li nên cảnh cũng hòa vào lòng người mà sầu tủi, phân li? Bởi đang trong tâm trạng
buồn như vậy nên nhìn vào đâu cũng thấy buồn. Gió thổi mây bay thường là một chiều, nhưng
đây lại đứt gẫy, như là không có sự gặp gỡ. Điệp từ “gió” và “mây” đã thể hiện ra điều dó. Và
ngay đến dòng nước vô tri kia cũng trở nên buồn hiu cùng với hoa bắp hiu hắt khẽ “lay”. Hai
câu thơ không chỉ tả cảnh và tình trong cảnh, mà dường như còn muốn tả cái nhịp điệu của
cảnh. Đó là cái nhịp điệu êm đềm, lững lờ, nét trầm tư rất điển hình không nơi nào có được của
Huế. Hai câu thơ có cái nhịp khoan thai chậm rãi cũng đã diễn tả rất thành công cái cảm xúc
trên.
Viết về Huế không thể không tả trăng. Trăng dưới ngòi bút của Hàn Mạc Tử huyền ảo, tràn
đầy vũ trụ, tạo nên một không khí nửa thực, nửa hư như trong mộng:
“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”
2
Chỉ có trong mộng thì sông mới là sông trăng và thuyền mới chở trăng. Ở đây Hàn Mặc Tử
là con người có con mắt rất mơ, rất ảo. Nhìn vào sự thật thì sự thật thành chiêm bao, nhìn vào
chiêm bao lại thấy sẽ sang địa hạc huyền diệu. “Lời thơ của Tử thanh tao quá! Ngọt lịm cả
người” (Bích Khê). Trăng là biểu tượng cho cái đẹp của cuộc đời và thiên nhiên. Trăng cũng
tượng trưng cho hạnh phúc thanh bình. Vì vậy, hình ảnh thơ của Hàn Mạc Tử đã khơi dậy trong
trái tim người đọc một niềm tin, niềm vui, một khát vọng hướng tới cái đẹp hoàn mĩ và thánh
thiện. Nhưng lời thơ lại cất lên như một câu hỏi vô vọng. Hai câu thơ sau của khổ thơ thể hiện
tâm trạng khát khao gặp gỡ đồng thời cũng thể hiện nỗi niềm lo âu. phấp phỏng về sự muộn
màng. Chỉ một chữ “kịp” câu thơ cuối cùng đã nói lên điều đó.
Khổ thơ thứ ba cho thấy vẻ đẹp huyền ảo của xứ Huế và tình người tình đời thiết tha mà xa
xăm vô vọng của tác giả.
“Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra.”
Điệp ngữ “khách đường xa” vừa thể hiện tâm trạng khác khoải nhớ mong tha thiết vừa diễn
tả cái khoảng cách xa vời của mối tình đơn phương vô vọng. Vì vậy, “mơ khách đường xa” tác
giả chỉ thấy “áo'' nhưng “nhìn không ra”. Cô gái này là ai? Một cô gái Huế nào đó hay chính là
cô gái thôn Vĩ chập chờn trong cõi mộng của nhà thơ khiến cho tác giả có cảm giác bâng
khuâng hư thực? Chỉ biết đây là một hình ảnh vừa rất đỗi gần gũi tha thiết vừa xa xôi. Gần gũi
vì nó đã trở thành một hoài niệm thường trực, xa vời vì khoảng cách thời gian, không gian và
làn khói sương của một mối tình chưa có lời ước hẹn “Áo em trắng quá nhìn không ra” là một
câu thơ khá đặc sắc. Màu trắng là màu áo dài của nữ sinh xứ Huế và cũng là màu gợi về sự
thanh khiết trắng trong rất phù hợp với cô gái trong mộng tưởng.
Cái màu trắng cả không gian, làm nhập nhòa cả thị giác của tác giả. Và “áo trắng quá” lại càng
khó nhận ra khi lẩn vào sương khói hư ảo của Huế lắm nắng, nhiều mưa và sương khói của mối
tình chưa có ước hẹn.
“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai, có đậm đà?”
“Ở đây” là ở đâu ? Dù ở đâu thì cũng đã bị bao phủ bởi sương khói của thời gian. Ai là một
đại từ phiếm chỉ. Một đại từ phiếm chỉ được sử dụng hai lần trong một câu thơ, gợi lên bao ý
nghĩa. Câu thơ tha thiết một khát khao, một ước nguyện muốn có người hiểu được tâm sự của
mình. Đồng thời thể hiện tâm trạng hoài nghi. Trong bài thơ có tới bốn lần tác giả sử dụng đại
từ ai, và “anh” và “em” đã hoà nhập trong từ ai ấy, hoà nhập trong tâm tưởng của thi nhân. Câu
thơ cuối cùng thoáng chút hoài nghi ấy xuất phát từ lòng khát khao sống, khát khao giao tiếp
với cuộc đời ; xuất phát từ niềm khao khát thuỷ chung. Vượt lên nỗi đau riêng, thơ Hàn Mặc Tử
nói lên tâm trạng chung của bao lứa đôi xa cách… Thơ đi từ cái thực tới cái ảo ảnh, từ ảo ảnh đi
tới cái huyền diệu, từ huyền diệu đi tới chiêm bao. Bao trùm cả bài thơ là thế giới mơ, đó là lời
của Hàn Mặc Tử về thơ và có lẽ là về chính Đây thôn Vĩ Dạ.
c. Hợp:
Bài thơ đã kết hợp giữa tả thực và tượng trưng tạo nên những mơ hồ, ảo ảnh thường thấy
trong thơ Hàn. Hình ảnh thơ đẹp độc đáo, gợi cảm làm cho bức tranh thiên nhiên xứ Huế cũng
3
như bức tranh tâm trạng của thi nhân thêm sâu sắc. Ngôn ngữ thơ trong sáng, tinh tế đa nghĩa,
đặc biệt sử dụng thành công những câu hỏi tu từ, điệp từ, biện pháp nhân hóa để sau mỗi cảnh
vật thiên nhiên hiện lên tâm trạng của chính mình.
3. Kết bài:
Với giọng điệu tha thiết, bài thơ trước hết lời Hàn Mặc Tử gửi gắm tình cảm với người con
gái mà ông yêu thầm, thể hiện tình cảm với cảnh và người xứ Huế và trên hết đó là tình cảm của
Hàn dành cho cuộc đời. Một hồn thơ khát khao với cuộc sống, với tình yêu với chân trời xứ
Huế lại đắng cay giữa nghịch cảnh đau thương mà số phận “đã đành”. Bài thơ không những là
tình yêu thiên nhiên, con người xứ Huế mà nó còn là những vần thơ trong trẻo nhất khép lại
khát khao mãnh liệt của HMT trước tình người, tình đời. Để bạn đọc hiểu rằng trước khi đến
với dòng thơ tượng trưng đầy ám ảnh của chàng thi sĩ họ Hàn ấy là cả một bầu trời thơ trong vắt
và long lanh đến lạ kỳ.
2
Dàn ý chi tiết:
1. Mở bài:
“Tôi đã đôi lần đến với huế mộng mơ,
tôi ôm ấp một tình yêu dịu ngọt.”
Xứ Huế là xứ sở mộng mơ tràn ngập tình yêu là nguồn cảm hứng vô tận cho các thi sĩ đa tình.
Viết về xứ Huế, có nhiều tác giả đã dành hết cả tâm tư tình cảm của mình để nâng niu mảnh đất
này bằng những câu thơ ngọt ngào. Hàn Mặc Tử cũng là nhà thơ bị thu hút bởi sự mơ mộng ấy,
ông viết về xứ Huế bằng niềm trân trọng và gửi gắm tất cả tình cảm chân thành của mình cho
các tác phẩm văn học với lòng tha thiết mến thương. “Đây thôn Vĩ Dạ” là tình yêu thiên nhiên,
là tâm hồn nhạy cảm, đồng thời là sự giãi bày nỗi niềm bâng khuâng, khát khao về hạnh phúc
của con người thôn Vĩ được vẽ nên bởi một thi sĩ đa tình. Đây cũng chính là tác phẩm tâm đắ
nhất của Hàn Mặc Tử trước khi ông qua đời.
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
…………
Ai biết tình ai có đạm đà?”
2. Thân bài:
a. Tổng:
“Đây thôn Vĩ Dạ” được lấy cảm hứng từ bức ảnh mà Hoàng Cúc - người tình trong mộng
của Hàn Mặc Tử, tặng kèm lời thăm hỏi khi ông đang lúc đau bệnh. Ban đầu bài thơ được đặt
tên “Ở đây thôn Vĩ Dạ” và được in trong tập “Thơ Điên” năm 1938, sau đổi thành “Đau
thương”. Bài thơ nằm ở phần “Hương thơm” của tập thơ. Bài thơ là một thi phẩm xuất sắc của
thơ mới, là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ của Hàn Mặc Tử.
b. Phân tích:
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên,”
Khổ thứ nhất mở đầu bằng một câu hỏi tu từ. Câu thơ thoáng như một lời trách móc nhẹ
nhàng có pha chút tiếc nuối của ai đó, nhưng đằng sau đó là lời chào mời tha thiết khách đến
thăm để được thưởng thức cảnh đẹp của “thôn Vĩ”. Về thôn Vĩ để được “nhìn nắng hàng cau
nắng mới lên”. Nhà thơ nói đến cây cau trước tiên vì cau là loài cây thanh nhã, xinh xắn với
thân thẳng tắp, tán lá xanh tươi, gợi sự ngay thẳng thủy chung. Hình ảnh hàng cau ở đây còn có
một chi tiết khó quên, ấy là “Nắng hàng cau, nắng mới lên”. Điệp từ “nắng” gợi cho ta ánh nắng
ban mai, biểu tượng cho sức sống, niềm vui đang lan tỏa tràn đầy mặt đất. Trong ánh nắng ban
mai, những thân cau còn đọng sương đêm sáng lên lấp lánh như đang vươn lên hút lấy những
ánh vàng rực rỡ.
“Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc
Lá trúc he ngang mặt chữ điền.”
1
Cảnh đẹp, thu hút sự chú ý của tác giả. Câu thơ thứ ba cất lên như một tiếng reo thích thú
biểu hiện sự ngạc nhiên, ngưỡng mộ. Khung cảnh Vĩ Dạ đẹp như một bức tranh: “Vườn ai mướt
quá xanh như ngọc”. Vườn Vĩ Dạ với những cây trái được sự chăm sóc bởi bàn tay khéo léo, lại
được tắm gội mưa gió thường xuyên, nên mượt mà và dưới ánh nắng ban mai lấp lánh như
những viên ngọc bích. Hình ảnh so sánh của tác giả trong câu thơ vừa chính xác, vừa gợi cảm.
Có thể nói, tả vườn của Hàn Mặc Tử đã đạt đến độ tinh tế của một họa sĩ tài hoa. Chỉ bằng vài
nét vẽ chấm phá, Hàn Mạc Tử đã phác họa được khung cảnh khu vườn một làng quê xứ Huế
vừa quen thuộc, bình dị, vừa thi vị độc đáo. Ngắm vườn xứ Huế trong cái “nắng mới lên” thật
thanh thản. Nhưng cảnh vật Vĩ Dạ bỗng sinh động hẳn lên, khi bóng dáng con người xuất hiện:
“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Mặt chữ điền thường gợi về vẻ đẹp phúc hậu. trang trọng,
quý phái, còn lá trúc gợi cái dáng vẻ mảnh mai, xinh xắn, thanh tú. Câu thơ ngoài ý nghĩa tả
thực: thấp thoáng sau khóm trúc có khuôn mặt rất phúc hậu của ai đó hình như đang dõi theo
khách đường xa, còn có ý nghĩa tượng trưng, cách điệu hóa. Cảnh và người tô điểm cho nhau:
cảnh xinh xắn, thơ mộng, người phúc hậu qúy phái. Tất cả tạo nên một vẻ đẹp kín đáo, dịu
dàng. Nhờ thế câu thơ đã làm bật được cái linh hồn vườn cây xứ Huế mà khổ thơ tập trung biểu
hiện.
Tóm lại, bằng những chi tiết rất quen thuộc và bình dị, Hàn Mạc Tử đã khắc họa một bức
tranh quê Vĩ Dạ tràn đầy sức sống với vẻ đẹp bất ngờ, có sự hài hòa giữa cảnh và người. Đoạn
thơ làm khơi dậy trong tâm hồn người đọc biết bao nỗi niềm quê hương làng mạc Việt Nam.
Khổ thơ thứ hai cho thấy một thế giới khác của Huế: dòng sông Hương và vẻ đẹp êm đềm
trầm tư của Vĩ Dạ nói riêng và Huế nói chung.Về với Vĩ Dạ, về với Huế, với núi Ngự, sông
Hương, Hàn Mạc Tử cũng cảm nhận được cái linh hồn, cái nhịp điệu rất Huế ấy. Khung cảnh
Huế dưới ngòi bút của Hàn Mạc Tử có sông nước, bờ bài, có gió, có mây và con thuyền ai đó
đậu dưới trăng nơi bến vắng. Tất cả tạo nên một bức tranh êm đềm, thơ mộng.
“Gió theo lối gió, mấy đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.”
Hai câu thơ đầu tả cảnh nhưng thấm đẫm tình người. Hai câu thơ gợi cảm giác chia li buồn
vắng đến não nề. Phải chăng một mối tình đơn phương, chưa có phút giây gặp gỡ ngọt ngào đã
sớm chia li nên cảnh cũng hòa vào lòng người mà sầu tủi, phân li? Bởi đang trong tâm trạng
buồn như vậy nên nhìn vào đâu cũng thấy buồn. Gió thổi mây bay thường là một chiều, nhưng
đây lại đứt gẫy, như là không có sự gặp gỡ. Điệp từ “gió” và “mây” đã thể hiện ra điều dó. Và
ngay đến dòng nước vô tri kia cũng trở nên buồn hiu cùng với hoa bắp hiu hắt khẽ “lay”. Hai
câu thơ không chỉ tả cảnh và tình trong cảnh, mà dường như còn muốn tả cái nhịp điệu của
cảnh. Đó là cái nhịp điệu êm đềm, lững lờ, nét trầm tư rất điển hình không nơi nào có được của
Huế. Hai câu thơ có cái nhịp khoan thai chậm rãi cũng đã diễn tả rất thành công cái cảm xúc
trên.
Viết về Huế không thể không tả trăng. Trăng dưới ngòi bút của Hàn Mạc Tử huyền ảo, tràn
đầy vũ trụ, tạo nên một không khí nửa thực, nửa hư như trong mộng:
“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”
2
Chỉ có trong mộng thì sông mới là sông trăng và thuyền mới chở trăng. Ở đây Hàn Mặc Tử
là con người có con mắt rất mơ, rất ảo. Nhìn vào sự thật thì sự thật thành chiêm bao, nhìn vào
chiêm bao lại thấy sẽ sang địa hạc huyền diệu. “Lời thơ của Tử thanh tao quá! Ngọt lịm cả
người” (Bích Khê). Trăng là biểu tượng cho cái đẹp của cuộc đời và thiên nhiên. Trăng cũng
tượng trưng cho hạnh phúc thanh bình. Vì vậy, hình ảnh thơ của Hàn Mạc Tử đã khơi dậy trong
trái tim người đọc một niềm tin, niềm vui, một khát vọng hướng tới cái đẹp hoàn mĩ và thánh
thiện. Nhưng lời thơ lại cất lên như một câu hỏi vô vọng. Hai câu thơ sau của khổ thơ thể hiện
tâm trạng khát khao gặp gỡ đồng thời cũng thể hiện nỗi niềm lo âu. phấp phỏng về sự muộn
màng. Chỉ một chữ “kịp” câu thơ cuối cùng đã nói lên điều đó.
Khổ thơ thứ ba cho thấy vẻ đẹp huyền ảo của xứ Huế và tình người tình đời thiết tha mà xa
xăm vô vọng của tác giả.
“Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra.”
Điệp ngữ “khách đường xa” vừa thể hiện tâm trạng khác khoải nhớ mong tha thiết vừa diễn
tả cái khoảng cách xa vời của mối tình đơn phương vô vọng. Vì vậy, “mơ khách đường xa” tác
giả chỉ thấy “áo'' nhưng “nhìn không ra”. Cô gái này là ai? Một cô gái Huế nào đó hay chính là
cô gái thôn Vĩ chập chờn trong cõi mộng của nhà thơ khiến cho tác giả có cảm giác bâng
khuâng hư thực? Chỉ biết đây là một hình ảnh vừa rất đỗi gần gũi tha thiết vừa xa xôi. Gần gũi
vì nó đã trở thành một hoài niệm thường trực, xa vời vì khoảng cách thời gian, không gian và
làn khói sương của một mối tình chưa có lời ước hẹn “Áo em trắng quá nhìn không ra” là một
câu thơ khá đặc sắc. Màu trắng là màu áo dài của nữ sinh xứ Huế và cũng là màu gợi về sự
thanh khiết trắng trong rất phù hợp với cô gái trong mộng tưởng.
Cái màu trắng cả không gian, làm nhập nhòa cả thị giác của tác giả. Và “áo trắng quá” lại càng
khó nhận ra khi lẩn vào sương khói hư ảo của Huế lắm nắng, nhiều mưa và sương khói của mối
tình chưa có ước hẹn.
“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai, có đậm đà?”
“Ở đây” là ở đâu ? Dù ở đâu thì cũng đã bị bao phủ bởi sương khói của thời gian. Ai là một
đại từ phiếm chỉ. Một đại từ phiếm chỉ được sử dụng hai lần trong một câu thơ, gợi lên bao ý
nghĩa. Câu thơ tha thiết một khát khao, một ước nguyện muốn có người hiểu được tâm sự của
mình. Đồng thời thể hiện tâm trạng hoài nghi. Trong bài thơ có tới bốn lần tác giả sử dụng đại
từ ai, và “anh” và “em” đã hoà nhập trong từ ai ấy, hoà nhập trong tâm tưởng của thi nhân. Câu
thơ cuối cùng thoáng chút hoài nghi ấy xuất phát từ lòng khát khao sống, khát khao giao tiếp
với cuộc đời ; xuất phát từ niềm khao khát thuỷ chung. Vượt lên nỗi đau riêng, thơ Hàn Mặc Tử
nói lên tâm trạng chung của bao lứa đôi xa cách… Thơ đi từ cái thực tới cái ảo ảnh, từ ảo ảnh đi
tới cái huyền diệu, từ huyền diệu đi tới chiêm bao. Bao trùm cả bài thơ là thế giới mơ, đó là lời
của Hàn Mặc Tử về thơ và có lẽ là về chính Đây thôn Vĩ Dạ.
c. Hợp:
Bài thơ đã kết hợp giữa tả thực và tượng trưng tạo nên những mơ hồ, ảo ảnh thường thấy
trong thơ Hàn. Hình ảnh thơ đẹp độc đáo, gợi cảm làm cho bức tranh thiên nhiên xứ Huế cũng
3
như bức tranh tâm trạng của thi nhân thêm sâu sắc. Ngôn ngữ thơ trong sáng, tinh tế đa nghĩa,
đặc biệt sử dụng thành công những câu hỏi tu từ, điệp từ, biện pháp nhân hóa để sau mỗi cảnh
vật thiên nhiên hiện lên tâm trạng của chính mình.
3. Kết bài:
Với giọng điệu tha thiết, bài thơ trước hết lời Hàn Mặc Tử gửi gắm tình cảm với người con
gái mà ông yêu thầm, thể hiện tình cảm với cảnh và người xứ Huế và trên hết đó là tình cảm của
Hàn dành cho cuộc đời. Một hồn thơ khát khao với cuộc sống, với tình yêu với chân trời xứ
Huế lại đắng cay giữa nghịch cảnh đau thương mà số phận “đã đành”. Bài thơ không những là
tình yêu thiên nhiên, con người xứ Huế mà nó còn là những vần thơ trong trẻo nhất khép lại
khát khao mãnh liệt của HMT trước tình người, tình đời. Để bạn đọc hiểu rằng trước khi đến
với dòng thơ tượng trưng đầy ám ảnh của chàng thi sĩ họ Hàn ấy là cả một bầu trời thơ trong vắt
và long lanh đến lạ kỳ.
2
 








Các ý kiến mới nhất