Đề cương ôn thi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đoàn Ngọc Dung
Ngày gửi: 19h:40' 17-09-2026
Dung lượng: 261.1 KB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Đoàn Ngọc Dung
Ngày gửi: 19h:40' 17-09-2026
Dung lượng: 261.1 KB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
ĐỀ 1
PHẦN I: ĐỌC – HIỂU
Đọc đoạn trích:
ĐỀ CƯƠNG THAM KHẢO ÔN TẬP CUỐI KÌ 1 VĂN 9
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng (1)
Tin sương luống những rày trong mai chờ
Bên trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai
Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh(2) những ai đó giờ
Sân Lai (3)cách mấy nắng mưa
Có khi gốc tử(4) đã vừa người ôm
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
(Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, 2018)
* Chú thích:
Vị trí đoạn trích: Đoạn trích trên nằm ở phần thứ hai (Gia biến và lưu lạc). Sau khi biết mình bị lừa vào chốn
lầu xanh, Kiều uất ức định tự vẫn. Tú Bà vờ hứa hẹn đợi Kiều bình phục sẽ gả chồng cho nàng vào nơi tử tế, rồi
đưa Kiều ra giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, đợi thực hiện âm mưu mới.
(1) Chén đồng: chén rượu thề nguyền cùng lòng cùng dạ (đồng tâm) với nhau.
(2) Quạt nồng ấp lạnh: mùa hè, trời nóng nực thì quạt cho cha mẹ ngủ; mùa đông, trời giá lạnh thì nằm trước
trong giường (ấp chiếu chăn) để khi cha mẹ ngủ, chỗ nằm đã ấm sẵn.Ý cả câu nói về sự lo lắng không biết ai sẽ
phụng dưỡng, chăm sóc cha mẹ.
(3) Sân Lai: sân nhà lão Lai Tử, đây chỉ sân nhà cha mẹ Thúy Kiều. Theo Hiếu tử truyện: Lão Lai Tử người
nước Sở thời Xuân Thu rất có hiếu, tuy đã già mà còn nhảy múa ở ngoài sân cho cha mẹ xem để mua vui cho
cha mẹ.
(4) Gốc tử: gốc cây tử (cây thị), chỉ cha mẹ. Cả câu ý nói cha mẹ đã già rồi, theo điển cũ nói cây dâu và cây tử
là những cây do cha mẹ trồng ở quanh nhà.
(5) Duềnh (cũng gọi là doành): vụng (vũng) sông hoặc vụng biển./-strong/-heart:>:o:-((:-h Câu 1. Phần trích
trên thuộc phương thức biểu đạt nào? Đoạn truyện trên thuộc phần nào trong mô hình cốt truyện của truyện thơ
Nôm?
Câu 2: Nhân vật chính được nói đến ở đây là ai? Hoàn cảnh của nhân vật đó được miêu tả trong đoạn trích như
thế nào? Câu 3: Trong đoạn trích, nhân vật chủ yếu được khắc họa trên phương diện nào?
Câu 4. Tìm dòng thơ có sủ dụng điển cố trong đoạn trích và cho biết hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng điển
cố đó.
Câu 5. Nội dung đoạn trích trên?
Câu 6. Bằng sự hiểu biết về lễ giáo phong kiến, em hãy lí giải trình tự cảm xúc khi nhớ về người thân của Thúy
Kiều để thấy được sự tinh tế của tác giả Nguyễn Du trong việc xây dựng nhân vật Thúy Kiều?
Câu 7. Sau khi đọc đoạn trích trên, em có những cảm nhận như thế nào khi phải sống xa quê hương, xa người
thân?
II.PHẦN VIẾT:
Bằng hiểu biết của mình, em hãy viết bài văn phân tích đoạn trích trên.
ĐỀ 2:
I.ĐỌC – HIỂU
Đọc đoạn trích và thực hiện các yêu cầu sau:
Ngô Tử Văn tên là Soạn, người huyện Yên Dũng, đất Lạng Giang. Chàng vốn khảng khái, nóng nảy, thấy sự tà
gian thì không thể chịu được, vùng Bắc người ta vẫn khen là một người cương trực. Trong làng trước có một
ngôi đền linh ứng lắm. Cuối đời nhà Hồ, quân Ngô sang lấn cướp, vùng ấy thành một nơi chiến trường. Bộ
tướng của Mộc Thạnh có viên Bách hộ họ Thôi, tử trận ở gần đền, từ đấy làm yêu làm quái trong dân gian. Tử
Văn rất tức giận, một hôm tắm gội sạch sẽ, khấn trời, rồi châm lửa đốt đền. Mọi người đều lắc đầu lè lưỡi, lo sợ
thay cho Tử Văn, nhưng chàng vẫn vung tay không cần gì cả.
Đốt đền xong, chàng về nhà, thấy trong mình khó chịu, đầu lảo đảo và bụng run run, rồi nổi lên một cơn sốt
nóng sốt rét. Trong khi sốt, chàng thấy một người khôi ngô, cao lớn, đầu đội mũ trụ đi đến, nói năng và quần áo
rất giống người phương Bắc, tự xưng là cư sĩ, đến đòi làm trả lại ngôi đền như cũ và nói:
- Nhà ngươi đã theo nghiệp nho, đọc sách vở của thánh hiền, há không biết cái đức của quỷ thần sao, cớ gì lại
dám khinh nhờn hủy tượng, đốt đền, khiến cho hương lửa không có chỗ tựa nương, oai linh không có nơi hiển
hiện, vậy bảo làm sao bây giờ? Biết điều thì dựng trả ngôi đền như cũ. Nếu không thì, vô cớ hủy đền Lư Sơn,
Cố Thiệu sẽ khó lòng tránh khỏi tai vạ./-strong/-heart:>:o:-((:-h Tử Văn mặc kệ, vẫn cứ ngồi ngất ngưởng tự
nhiên. Phong đô không xa xôi gì, ta tuy hèn, há lại không đem nổi nhà ngươi đến đấy. Không nghe lời ta thì rồi
sẽ biết.
Nói rồi phất áo đi.
Chiều tối, lại có một ông già, áo vải mũ đen, phong độ nhàn nhã, thủng thỉnh đi vào đến trước thềm, vái chào
mà rằng:
- Tôi là Thổ công ở đây, nghe thấy việc làm rất thú của nhà thầy, vậy xin đến để tỏ lời mừng.
Tử Văn ngạc nhiên nói:
- Thế người đội mũ trụ đến đây ban nãy, chẳng phải là Thổ công đấy ư? Sao mà nhiều thần quá vậy?
Ông già nói:
- Ô, đấy là viên tướng bại trận của Bắc triều, cái hồn bơ vơ ở Nam quốc, tranh chiếm miếu đền của tôi, giả mạo
họ tên của tôi, quen dùng chước dối lừa, thích làm trò thảm ngược, Thượng Đế bị nó bưng bít, hạ dân bị nó
quấy rầy, phàm những việc hưng yêu tác quái đều tự nó cả, chứ có phải tôi đâu. [...]”.
Tử Văn nói:
- Việc xảy ra đến như thế, sao ngài không kiện ở Diêm Vương và tâu lên Thượng Đế, lại đi khinh bỏ chức vị,
làm một người áo vải nhà quê?
Ông già chau mặt nói:
- Rễ ác mọc lan, khó lòng lay động. Tôi đã định thưa kiện, nhưng mà có nhiều nỗi ngăn trở: Những đền miếu
gần quanh, vì tham của đút, đều bênh vực cho nó cả. Tôi chỉ giữ được một chút lòng thành, nhưng không làm
thế nào để thông đạt được lên, cho nên đành tạm ẩn nhẫn mà ngồi xó một nơi.
(Trích Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, Nguyễn Dữ, Ngữ văn 10, tập 2, NXB Giáo dục, 2009)
Câu 1. Nguyên nhân nào khiến Tử Văn châm lửa đốt đền?
Câu 2. Hành động Tử Văn đốt đền cho thấy chàng là người có tính cách như thế nào?
Câu 3. Theo em, chi tiết Tử Văn tắm gội sạch sẽ, khấn trời trong đoạn trích có ý nghĩa như thế nào?
Câu 4. Nhân vật chính trong đoạn trích được khắc họa chủ yếu qua phương diện nào?
Câu 5. Nhận xét về vai trò của yếu tố kì ảo trong đoạn trích.
II. PHẦN VIẾT: Phân tích đoạn trích trên.
ĐỀ 3:
I. ĐỌC HIỂU: Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi
ĐỀN NGỌC SƠN
H1. CỔNG VÀO ĐỀN
H2.ĐỀN NỔI GIỮA HỒ GƯƠM
Trong cụm di tích hồ Gươm nổi tiếng của thủ đô Hà Nội Hà Nội, người ta vẫn thường nhắc tới Đền
Ngọc Sơn Ngọc Sơn như một nơi liêng thiêng và luôn đồng hành cùng mọi sự thăng trầm của thủ đô Hà
Nội. Chính vì lẽ đó, không có vị khách nào tới Hà Nội mà không ghé thăm quần thể kiến trúc độc đáo này. Đền
nằm trên đảo Ngọc (còn gọi là Ngọc Sơn), một gò đất nổi giữa Hồ Gươm, cách Tháp Rùa một quãng không xa.
Theo văn bia của đền ghi lại, đền Ngọc Sơn được khởi xây vào mùa thu năm 1841. Ngôi đền được tu sửa công
phu nhất vào năm 1865, do Nguyễn Văn Siêu – nhà nho lỗi lạc của đất Thăng Long đứng ra lo liệu. Nhiều công
trình ý nghĩa cũng được hình thành vào lần tu sửa này tạo nên bộ mặt hài hòa của kiến trúc đền Ngọc Sơn Ngọc
Sơn gồm: đền Ngọc Sơn Ngọc Sơn – cầu Thê Húc – tháp Bút – đài Nghiên. Tháp Bút được xây bằng đá, trên có
tạc 3 chữ “tả thanh thiên” (viết lên trời xanh), trên đỉnh là hình ngọn bút lông vươn lên trời cao. Đài Nghiên là
một nghiên mực bằng đá được đội lên bởi 3 con cóc. Nếu Văn Miếu – Quốc Tử Giám nổi tiếng với hình ảnh
rùa đội bia thì kiến trúc cóc đội nghiên này mang lại một nét đặc sắc khá thú vị cho khu đền Ngọc Sơn. Tháp
Bút – đài Nghiên từ xưa vẫn luôn được coi như biểu tượng linh thiêng gắn liền với văn chương, thi cử. Nhiều sĩ
tử tìm đến đây cầu một chút may mắn để vững tâm hơn trong con đường học hành của mình. Cầu Thê Húc, cây
cầu với cái tên mang ý nghĩa là đón những ánh nắng ban mai đã trở thành hình ảnh tiêu biểu của quần thể kiến
trúc Hồ Gươm nói chung và đền Ngọc Sơn nói riêng. Cây cầu bằng gỗ sơn son với 15 nhịp, 32 chân cột tròn nổi
bật trên nền nước xanh ngăn ngắt của Hồ Gươm, nối liền từ đường cái quan đến cổng đền. Cổng đền có tên là
Đắc Nguyệt Lâu với lối kiến trúc hai tầng đẹp mắt vẫn còn giữ nguyên nét cổ kính cho tới ngày nay. Bên trong
là đền chính gồm hai khu nối nhau. Khu thứ nhất hướng về phía Bắc thờ Đức Đại vương Trần Hưng Đạo và
Đức Văn Xương Đế Quân. Phía Nam là đình Trấn Ba có kiến trúc thanh thoát và đậm chất thơ.
Ngoài ra, trong đền Ngọc Sơn Ngọc Sơn còn thờ cả đức Phật A Di Đà. Điều này vừa thể hiện đời sống tâm
linh phong phú của người dân vừa là minh chứng rõ nét cho sự chung sống hòa hợp giữa các tôn giáo trên cùng
một đất nước Việt Nam. Cùng với quần thể Hồ Gươm, Tháp Rùa; đền Ngọc Sơn Ngọc Sơn là một di tích văn
hóa – lịch sử độc đáo, một điểm du lịch đặc sắc của thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến.
(Trần Thanh Giang, theo Báo Điện tử)
Câu 1. Ngoài phương thức biểu đạt chính là thuyết minh, văn bản còn sử dụng những phương thức biểu đạt nào
khác?
-> Phương thức miêu tả và tự sự.
Câu 2. Văn bản viết về đề tài gì?
-> Viết về quần thể kiến trúc độc đáo của đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc, Tháp Bút, đài Nghiên và giá trị lịch sử,
văn hoá của nó.
Câu 3. Phần in đậm ở đầu văn bản gọi là gì? Nêu tác dụng của phần in đậm đó.
-> Phần in đậm ở đầu văn bản gọi là đền Ngọc Sơn. Phần này giúp người đọc hiểu rõ chủ đề và nội dung chính
của văn bản
Câu 4. Em ấn tượng nhất với chi tiết thuyết minh nào trong văn bản? Vì sao em ấn tượng với chi tiết đó?
->Em ấn tượng nhất có thể là chi tiết miêu tả đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc và các công trình ý nghĩa khác. Em
ấn tượng vì đây là các chi tiết cho thấy sự hài hoà giữa kiến trúc và thiên nhiên, cũng như giá trị lịch sử và tâm
linh mà công trình mang lại.
Câu 5.Trong văn bản trên, tác giả đã sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ nào? Tác dụng của việc sử dụng
phương tiện phi ngôn ngữ đó?
-> Sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ là hình ảnh (H1,H2). Tác dụng trình bày thông tin một cách trực quan và
nổi bật thông tin quan trọng.
Câu 6. Em cho biết bố cục của 1 bài phỏng vấn gồm mấy phần? Nêu tên từng phần?
- Bố cục bài phỏng vấn gồm 3 phần:
- Gọi tên: + Phần mở đầu
+Phần nội dung
+Phần kết thúc
II. VIẾT : Viết bài văn phân tích đoạn thơ sau:
Đầu lòng hai ả tố nga
Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân
Mai cốt cách tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn
Làn thu thủy nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
Một hai nghiêng nước nghiêng thành
Sắc đành đòi một tài đành họa hai
Thông minh vốn sẵn tính trời
Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm
Cung thương lầu bậc ngũ âm
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một chương
Khúc nhà tay lựa nên chương
Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân
ĐỀ 4:
I. ĐỌC HIỂU: Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi
SÔNG BẠCH ĐẰNG LỊCH SỬ
Đằng Giang tự cổ huyết do hồng
(Bạch Đằng thuở trước máu còn loang)
Giang Văn Minh (1573 - 1638)
Sông Bạch Đằng là con sông nổi tiếng nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt. Sông có
“tên hiệu” là sông Vân Cừ và tên “dân dã” là sông Rừng. Người Quảng Yên trước đây từng lưu truyền câu
“Con ơi, nhớ lấy lời cha / Gió nồm, nước rặc chớ qua sông Rừng” để nói lên sự hiểm yếu của con sông này.
Cha ông ta xưa kia hiểu rất rõ “thủy chế” của sông Bạch Đằng dưới tác động của thủy triều, nên đã vận dụng
vào những trận chiến bảo vệ Tổ quốc, đánh đuổi kẻ thù ở nơi cửa ngõ này. Sông đã ba lần lập chiến công, là mồ
chôn quân giặc từ phương Bắc tới.
1. Trận Bạch Đằng năm 938
Năm 938, vua Nam Hán là Lưu Nghiễm phong cho con là Lưu Hoằng Tháo thống lĩnh hai vạn quân, tiến vào
cửa sông Bạch Đằng, đánh chiếm nước ta.
Ngô Quyền cho quân sĩ đóng cọc bịt sắt nhọn xuống lòng sông Bạch Đằng. Khi thủy triều lên, bãi cọc không bị
lộ.
Quân Nam Hán tiến vào. Ngô Quyền ra lệnh cho quân rút lên thượng lưu. Đợi đến khi thủy triều xuống, quân ta
đổ ra đánh. Nhiề
cọc đâm thủng. Lúc ấy Ngô Quyền mới tung quân ra tấn công dữ dội. Quân Nam Hán thua chạy, Lưu Hoằng
Tháo bỏ mạng cùng với quá nửa quân sĩ.
2. Trận Bạch Đằng năm 981
Cuối năm 979, Đinh Tiên Hoàng và con là Đinh Liễn bị ám hại. Nhân khi Đại Cồ Việt có nội loạn, mùa thu
năm 980, nhà Tống đem quân chia làm hai đạo tiến vào theo đường bộ và đường thủy. Cánh quân thủy do Hầu
Nhân Bảo chỉ huy tiến vào cửa sông Bạch Đằng.
Ngày 28-4-981, trận quyết chiến diễn ra trên sông. Lê Hoàn cho một cánh quân ra khiêu chiến với Hầu Nhân
Bảo, giả thua nhử quân địch đuổi theo. Khi đoàn chiến thuyền của Hầu Nhân Bảo lọt vào trận địa mai phục, Lê
Hoàn tung quân từ khắp các ngả tấn công quân Tống. Hầu Nhân Bảo bị giết chết trong cuộc hỗn chiến. Đám tàn
quân hoảng sợ vội tháo lui ra biển. Nghe tin thất trận, các đạo quân Tống hoảng sợ rút lui, bị quân Đại Cồ Việt
truy kích tiêu diệt quá nửa.
3. Trận Bạch Đằng năm 1288
Năm 1287, nhà Nguyên mở cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ ba, nhưng chỉ chiếm được kinh thành Thăng Long
không một bóng người. Đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ bị thủy quân Trần do Trần Khánh Dư chỉ huy
đánh tan trong trận Vân Đồn. Trước tình thế bất lợi, quân Nguyên định tổ chức rút về Trung Quốc theo các
hướng khác nhau.
Trần Hưng Đạo chỉ huy quân dân Đại Việt chuẩn bị trận địa mai phục trên sông Bạch Đằng. Các cây gỗ lim, gỗ
táu đốn từ trên rừng được kéo về bến sông, tại đây cây được đẽo nhọn và cắm xuống lòng sông ở các cửa dẫn ra
biển, chỉ để trống sông Đá Bạc cho quân Nguyên kéo vào.
Nhân lúc nước lớn, Ô Mã Nhi dẫn đoàn thuyền tiến vào sông Bạch Đằng. Thủy quân Trần tràn ra giao chiến,
rồi giả thua chạy vào sâu bên trong. Ô Mã Nhi trúng kế thúc quân đuổi theo, tiến sâu vào khúc sông đã đóng
cọc. Quân Trần đợi cho thủy triều xuống, nhất loạt quay thuyền lại đánh thẳng vào đội hình địch. Quân Nguyên
hoảng loạn, bỏ thuyền lên bờ tìm đường chạy trốn, nhưng lại rơi vào ổ phục kích của quân Trần.
Hơn 4 vạn quân Nguyên bị loại khỏi vòng chiến, nhiều tướng Nguyên trong đó có Ô Mã Nhi bị bắt sống. Trận
đại thắng trên sông Bạch Đằng của Trần Hưng Đạo được xem là trận thủy chiến lớn nhất trong lịch sử Việt
Nam, và là thắng lợi tiêu biểu nhất của Đại Việt trong ba cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên
Mông.
Gắn liền với những chiến thắng oanh liệt của dân tộc, sông Bạch Đằng xứng đáng được vinh danh trong bảng
vàng lịch sử. Năm 1835, vua Minh Mạng cho đúc Cửu đỉnh đặt ở Thái Miếu trong kinh thành Huế. Nhà vua đã
- cho chạm chín dòng sông tiêu biểu của Việt Nam lên Cửu
đỉnh, gồm các sông Bến Nghé, sông Hương, sông Gianh, sông Mã, sông Lô, Bạch Đằng, Thạch Hãn, sông
Lam, sông Hồng. Trongđó sông Bạch Đằng được khắc lên Nghị đỉnh.
(Nguyễn Như Mai, Nguyễn Huy Thắng, Nguyễn Quốc Tín, Dạt dào sông nước, NXB Kim Đồng, 2015)
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính trong văn bản trên là gì?
-> Thuyết minh
Câu 2. Dựa trên thông tin văn bản cung cấp, tên gọi khác của sông Bạch Đằng là gì?
-> Sông Vân Cừ
Câu 3. Đề tài chính của văn bản trên là là gì ?
-> giới thiệu về những chiến công trên sông Bạch Đằng.
Câu 4. Việc đưa nội dung ba trận chiến trên sông Bạch Đằng nhằm làm nổi bật thông tin chính nào về dòng
sông?
-> chứng minh đây là dòng sông lịch sử
Câu 5: Thái độ, quan điểm của tác giả khi cung cấp thông tin về sông Bạch Đằng như trên là gì?
-> Tự hào, ngưỡng mộ trước những chiến tích lịch sử trên dòng sông
Câu 6. Cách trình bày dữ liệu và thông tin được thể hiện theo cấu trúc nào? Nhận xét về hiệu quả của các cách
trình bày đó.
Cấu trúc: Ý chính – Thông tin chi tiết và trật tự thời gian
Thông tin chi tiết: Thuyết minh về ba trận chiến trên sông Bạch Đằng theo trật tự thời gian - Nhận xét: Cấu
trúc dễ theo dõi, rõ ràng đi vào trọng tâm chính của vấn đề
Câu 7. Từ VB thông tin trên, em hãy liên hệ đến câu thơ của chủ tịch HCM về giáo dục nguồn cội cho dân ta?
-> Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam
Câu 8. Tìm thành ngữ và giải thích nghĩa của thành ngữ có trong phần trích sau
Một hai nghiêng nước nghiêng thành
Sắc đành đòi một tài đành họa hai
->thành ngữ “ nghiêng nước nghiêng thành”
-> nghĩa : miêu tả vẻ đẹp của người phụ nữ có thể làm cho người ta say mê đến nỗi mất thành, mất nước.
II. VIẾT: Viết bài văn phân tích tác phẩm sau:
(Tóm tắt phần đầu: Nguyễn Sinh người Thanh Trì, diện mạo đẹp đẽ, tư chất thông minh, giọng hát ngọt ngào.
Chàng sớm mồ cô cha, nhà nghèo nên học hành dang dở, chàng làm nghề chèo đò. Vì say đắm giọng hát và vẻ
ưa nhìn của chàng nên cô con gái một nhà giàu họ Trần đã đem lòng yêu mến, sai người hầu đem khăn tay đến
tặng, dặn chàng nhờ người mối manh đến hỏi. Nguyễn Sinh nhờ mẹ bảo người mối manh đến nhà nàng nhưng
bố nàng chê chàng nghèo nên không nhận lời, còn dùng lời lẽ không hay để mắng bà mối. Chàng phẫn chí bỏ
đi xa để lập nghiệp; cô gái biết chuyện âm thầm đau khổ chẳng thể giãi bày cùng ai, dần sinh bệnh, hơn một
năm sau thì nàng qua đời.)
Trước khi nhắm mắt, nàng dặn cha:
- Trong ngực con chắc có một vật lạ. Sau khi con nhắm mắt, xin cha cho hỏa táng để xem vật đó là vật gì?
Ông làm theo lời con. Khi lửa thiêu đã lụi, ông thấy trong nắm xương tàn, sót lại một vật, to bằng cái đấu, sắc
đỏ như son, không phải ngọc cũng chẳng phải đá, nó trong như gương, búa đập không vỡ. Nhìn kĩ thì thấy
trong khối ấy có hình một con đò, trên đò một chàng trai trẻ tuổi đang ngả đầu tựa mái chèo nằm hát. Nhớ lại
việc nhân duyên trước kia của con, ông chợt hiểu ra vì chàng lái đò mà con gái ông chết, hối thì không kịp nữa.
Ông bèn đóng một chiếc hộp con, cất khối đỏ ấy vào trong, đặt lên giường của con gái.
Nguyễn sinh bỏ nhà lên Cao Bằng làm khách của trấn tướng. Chàng vì hát hay nên được trấn tướng yêu quý.
Hơn một năm sau, chàng dần dần có của nả, rồi lại mấy năm nữa tích cóp lại được hơn hai trăm lạng vàng.
Chàng nghĩ: “Số vàng này đủ để chi dùng cho việc cưới xin”. Xong, chàng sửa soạn hành trang trở về. Đến
nhà, chàng hỏi thăm ngay cô gái nọ. Được nghe tất cả đầu đuôi về nàng, chàng vô cùng đau đớn, vội sắm sửa
lễ vật đến điếu nàng. Khi chàng làm lễ xong, bố cô có mời chàng ở lại dùng cơm. Chàng xin ông cho xem vật
đã được cất giấu trong hộp con. Ông mở hộp lấy ra đưa chàng. Chàng nâng niu cầm lấy, lòng vô cùng xúc
động, hai dòng lệ trào ra nhỏ xuống khối đá đỏ. Bỗng khối đá tan ra thành nước, giọt giọt đều biến thành máu
tươi, chảy đầm đìa vào tay áo chàng. Chàng cảm kích mối tình của nàng, thề không lấy ai nữa.
(Trích Chuyện tình ở Thanh Trì, Lan Trì kiến văn lục, Vũ Trinh, in trong cuốn Văn xuôi tự sự Việt Nam thời
trung đại, tập 1, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và tuyển soạn, NXB Giáo dục, 1997, tr 424-426)
ĐỀ 5:
I. PHẦN ĐỌC HIỂU: (6điểm)
Đọc truyện sau và trả lời câu hỏi nêu bên dưới:
CHUYỆN GÃ TRÀ ĐỒNG GIÁNG SINH
(Trà đồng giáng đản lục)
Dương Đức Công tên là Tạc, người phủ Thường Tín xứ Sơn Nam. Dưới triều vua Huệ Tông nhà Lý, ông
làm quan coi việc hình án trấn Tuyên Quang xét rõ mọi điều oan khuất, khiến các vụ án đều được công bằng.
Vì sự nhân từ phúc hậu, người thời bấy giờ gọi là Đức công. Năm 50 tuổi, Đức công vẫn không có con trai,
chợt bị ốm nặng rồi chết, hồi lâu lại tỉnh bảo với mọi người rằng:
- Ta vừa đến một chỗ thành đèn vách sắt, toan bước chân vào thì có một viên chức ngăn lại. Viên ấy dẫn ta đi
sang phía hữu, thấy có những cửa đỏ biển son. Vén áo đi vào cửa này thì thấy san sát những tòa rộng dẫy dài,
có đến hơn trăm người thắt đai đứng hầu sau trước. Giữa có hai vị mặc áo bào tía ngồi đối diện nhau ở bên
một cái án, đưa mắt cho viên chức kia bảo lấy sổ son của họ Dương ra xem, một lát hai vị cùng nhìn nhau bảo
rằng:
- Dương gian thật không có người nào được thế, cứu sống cho mọi người nhiều lắm. Chỉ tiếc hưởng tuổi không
dài và dòng sau không người nối dõi. Người như thế mà không biểu dương thì làm sao khuyến khích cho kẻ
khác được; ta sẽ phải tâu lên Thượng đế.
Bèn truyền cho Đức công hẵng xuống tạm nghỉ ở cái hành lang phía đông. Chừng độ nửa ngày, hai vị ấy lại sai
dẫn Đức công vào, bảo rằng:
- Nhà ngươi ngày thường vốn có tiếng là người lương thiện. Thượng đế khen ngợi, ban cho một người con trai
tốt và cho sống lâu thêm hai kỷ nữa. Nên mau về đi mà cố gắng làm thêm điều âm đức, đừng bảo là trên cõi
minh minh không biết gì đến.
Đoạn sai viên chức kia dẫn về. Khi ra khỏi cửa, Dương hỏi rằng:
- Chẳng hay đây là dinh tòa nào? Ai là chủ trương và coi giữ công việc gì?
Viên chức ấy nói:
- Đây là một tòa trong 24 tòa ở Phong Đô ; phàm người mới chết đều phải qua cả. Người nào tên ghi ở sổ son,
may ra còn có khi sống mà về được, chứ đã tên ghi sổ mực thì chẳng còn có mong gì. Nếu ông không phải là
người xưa nay hết lòng làm việc thiện thì cũng khó bề thoát được.
Bèn cùng nhau chia tay từ biệt, rồi ông bừng tỉnh như một giấc chiêm bao.
Bà vợ cũng nói là đêm qua lúc cuối canh một, có ngôi sao nhỏ rơi vào lòng, lòng bỗng thấy rung động.
Rồi bà có mang đủ ngày tháng sinh ra được một cậu con trai, đặt tên cho là Thiên Tích. Tính Thiên Tích thích
uống trà lắm, thường tự ví mình như Lư Đồng Lục Vũ đời xưa. Song thiên tư lỗi lạc, học vấn rộng rãi, phàm
sách vở văn chương cổ kim, không cái gì là không thông thuộc. Đức công mừng mà rằng:
- Thế là ta có dòng giống rồi!
Bèn chuyên đem những nghĩa lý chân chính dạy con. Sau đó 24 năm, ông mắc bệnh mà mất, Thiên Tích thương
xót rất mực; xa gần ai nấy đều cảm động.
(Nguyễn Dữ, in trong Truyền kỳ Mạn lục, NXB Văn học)
Câu 1. (1đ) Xác định thể loại, ngôi kể và phương thức biểu đạt chính của văn bản trên?
Câu 2. (2đ)
a) Trong câu chuyện trên, nhân vật Đức Công được khắc họa ở những không gian nào?
b) Qua đó em có nhận xét gì về đặc điểm của không gian trong truyện truyền kì?
Câu 3. (1đ) Truyện có yếu tố kì ảo nào? Yếu tố kì ảo đó có ý nghĩa, vai trò gì trong truyện?
Câu 4: (2đ)
chính?
a) Xác định nhân vật chính, nhân vật phụ trong truyện? Chỉ ra những phẩm chất tiêu biểu của nhân vật
b)Từ câu chuyện trên, em rút ra được những bài học ý nghĩa gì cho bản thân?
II. PHẦN VIẾT: (4đ)
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ và cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
Kiều càng sắc sảo, mặn mà,
So bề tài, sắc, lại là phần hơn.
Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên Bạc mệnh, lại càng não nhân.
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
(Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du)
ĐÁP ÁN:
Câu 1. (1đ)
- Thể loại: truyện truyền kì
- Ngôi kể: ngôi thứ 3
- Phương thức biểu đạt chính: tự sự.
Câu 2. (2đ)
a) Trong câu chuyện trên, nhân vật Đức Công được khắc họa ở những không gian: trần gian và âm phủ.
b) Không gian trong truyện truyền kì thường mang yếu tố kì ảo làm tăng tính truyền kì và hấp dẫn cho câu
chuyện.
Câu 3. (1đ)
- Truyện có yế
PHẦN I: ĐỌC – HIỂU
Đọc đoạn trích:
ĐỀ CƯƠNG THAM KHẢO ÔN TẬP CUỐI KÌ 1 VĂN 9
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng (1)
Tin sương luống những rày trong mai chờ
Bên trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai
Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh(2) những ai đó giờ
Sân Lai (3)cách mấy nắng mưa
Có khi gốc tử(4) đã vừa người ôm
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
(Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, 2018)
* Chú thích:
Vị trí đoạn trích: Đoạn trích trên nằm ở phần thứ hai (Gia biến và lưu lạc). Sau khi biết mình bị lừa vào chốn
lầu xanh, Kiều uất ức định tự vẫn. Tú Bà vờ hứa hẹn đợi Kiều bình phục sẽ gả chồng cho nàng vào nơi tử tế, rồi
đưa Kiều ra giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, đợi thực hiện âm mưu mới.
(1) Chén đồng: chén rượu thề nguyền cùng lòng cùng dạ (đồng tâm) với nhau.
(2) Quạt nồng ấp lạnh: mùa hè, trời nóng nực thì quạt cho cha mẹ ngủ; mùa đông, trời giá lạnh thì nằm trước
trong giường (ấp chiếu chăn) để khi cha mẹ ngủ, chỗ nằm đã ấm sẵn.Ý cả câu nói về sự lo lắng không biết ai sẽ
phụng dưỡng, chăm sóc cha mẹ.
(3) Sân Lai: sân nhà lão Lai Tử, đây chỉ sân nhà cha mẹ Thúy Kiều. Theo Hiếu tử truyện: Lão Lai Tử người
nước Sở thời Xuân Thu rất có hiếu, tuy đã già mà còn nhảy múa ở ngoài sân cho cha mẹ xem để mua vui cho
cha mẹ.
(4) Gốc tử: gốc cây tử (cây thị), chỉ cha mẹ. Cả câu ý nói cha mẹ đã già rồi, theo điển cũ nói cây dâu và cây tử
là những cây do cha mẹ trồng ở quanh nhà.
(5) Duềnh (cũng gọi là doành): vụng (vũng) sông hoặc vụng biển./-strong/-heart:>:o:-((:-h Câu 1. Phần trích
trên thuộc phương thức biểu đạt nào? Đoạn truyện trên thuộc phần nào trong mô hình cốt truyện của truyện thơ
Nôm?
Câu 2: Nhân vật chính được nói đến ở đây là ai? Hoàn cảnh của nhân vật đó được miêu tả trong đoạn trích như
thế nào? Câu 3: Trong đoạn trích, nhân vật chủ yếu được khắc họa trên phương diện nào?
Câu 4. Tìm dòng thơ có sủ dụng điển cố trong đoạn trích và cho biết hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng điển
cố đó.
Câu 5. Nội dung đoạn trích trên?
Câu 6. Bằng sự hiểu biết về lễ giáo phong kiến, em hãy lí giải trình tự cảm xúc khi nhớ về người thân của Thúy
Kiều để thấy được sự tinh tế của tác giả Nguyễn Du trong việc xây dựng nhân vật Thúy Kiều?
Câu 7. Sau khi đọc đoạn trích trên, em có những cảm nhận như thế nào khi phải sống xa quê hương, xa người
thân?
II.PHẦN VIẾT:
Bằng hiểu biết của mình, em hãy viết bài văn phân tích đoạn trích trên.
ĐỀ 2:
I.ĐỌC – HIỂU
Đọc đoạn trích và thực hiện các yêu cầu sau:
Ngô Tử Văn tên là Soạn, người huyện Yên Dũng, đất Lạng Giang. Chàng vốn khảng khái, nóng nảy, thấy sự tà
gian thì không thể chịu được, vùng Bắc người ta vẫn khen là một người cương trực. Trong làng trước có một
ngôi đền linh ứng lắm. Cuối đời nhà Hồ, quân Ngô sang lấn cướp, vùng ấy thành một nơi chiến trường. Bộ
tướng của Mộc Thạnh có viên Bách hộ họ Thôi, tử trận ở gần đền, từ đấy làm yêu làm quái trong dân gian. Tử
Văn rất tức giận, một hôm tắm gội sạch sẽ, khấn trời, rồi châm lửa đốt đền. Mọi người đều lắc đầu lè lưỡi, lo sợ
thay cho Tử Văn, nhưng chàng vẫn vung tay không cần gì cả.
Đốt đền xong, chàng về nhà, thấy trong mình khó chịu, đầu lảo đảo và bụng run run, rồi nổi lên một cơn sốt
nóng sốt rét. Trong khi sốt, chàng thấy một người khôi ngô, cao lớn, đầu đội mũ trụ đi đến, nói năng và quần áo
rất giống người phương Bắc, tự xưng là cư sĩ, đến đòi làm trả lại ngôi đền như cũ và nói:
- Nhà ngươi đã theo nghiệp nho, đọc sách vở của thánh hiền, há không biết cái đức của quỷ thần sao, cớ gì lại
dám khinh nhờn hủy tượng, đốt đền, khiến cho hương lửa không có chỗ tựa nương, oai linh không có nơi hiển
hiện, vậy bảo làm sao bây giờ? Biết điều thì dựng trả ngôi đền như cũ. Nếu không thì, vô cớ hủy đền Lư Sơn,
Cố Thiệu sẽ khó lòng tránh khỏi tai vạ./-strong/-heart:>:o:-((:-h Tử Văn mặc kệ, vẫn cứ ngồi ngất ngưởng tự
nhiên. Phong đô không xa xôi gì, ta tuy hèn, há lại không đem nổi nhà ngươi đến đấy. Không nghe lời ta thì rồi
sẽ biết.
Nói rồi phất áo đi.
Chiều tối, lại có một ông già, áo vải mũ đen, phong độ nhàn nhã, thủng thỉnh đi vào đến trước thềm, vái chào
mà rằng:
- Tôi là Thổ công ở đây, nghe thấy việc làm rất thú của nhà thầy, vậy xin đến để tỏ lời mừng.
Tử Văn ngạc nhiên nói:
- Thế người đội mũ trụ đến đây ban nãy, chẳng phải là Thổ công đấy ư? Sao mà nhiều thần quá vậy?
Ông già nói:
- Ô, đấy là viên tướng bại trận của Bắc triều, cái hồn bơ vơ ở Nam quốc, tranh chiếm miếu đền của tôi, giả mạo
họ tên của tôi, quen dùng chước dối lừa, thích làm trò thảm ngược, Thượng Đế bị nó bưng bít, hạ dân bị nó
quấy rầy, phàm những việc hưng yêu tác quái đều tự nó cả, chứ có phải tôi đâu. [...]”.
Tử Văn nói:
- Việc xảy ra đến như thế, sao ngài không kiện ở Diêm Vương và tâu lên Thượng Đế, lại đi khinh bỏ chức vị,
làm một người áo vải nhà quê?
Ông già chau mặt nói:
- Rễ ác mọc lan, khó lòng lay động. Tôi đã định thưa kiện, nhưng mà có nhiều nỗi ngăn trở: Những đền miếu
gần quanh, vì tham của đút, đều bênh vực cho nó cả. Tôi chỉ giữ được một chút lòng thành, nhưng không làm
thế nào để thông đạt được lên, cho nên đành tạm ẩn nhẫn mà ngồi xó một nơi.
(Trích Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, Nguyễn Dữ, Ngữ văn 10, tập 2, NXB Giáo dục, 2009)
Câu 1. Nguyên nhân nào khiến Tử Văn châm lửa đốt đền?
Câu 2. Hành động Tử Văn đốt đền cho thấy chàng là người có tính cách như thế nào?
Câu 3. Theo em, chi tiết Tử Văn tắm gội sạch sẽ, khấn trời trong đoạn trích có ý nghĩa như thế nào?
Câu 4. Nhân vật chính trong đoạn trích được khắc họa chủ yếu qua phương diện nào?
Câu 5. Nhận xét về vai trò của yếu tố kì ảo trong đoạn trích.
II. PHẦN VIẾT: Phân tích đoạn trích trên.
ĐỀ 3:
I. ĐỌC HIỂU: Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi
ĐỀN NGỌC SƠN
H1. CỔNG VÀO ĐỀN
H2.ĐỀN NỔI GIỮA HỒ GƯƠM
Trong cụm di tích hồ Gươm nổi tiếng của thủ đô Hà Nội Hà Nội, người ta vẫn thường nhắc tới Đền
Ngọc Sơn Ngọc Sơn như một nơi liêng thiêng và luôn đồng hành cùng mọi sự thăng trầm của thủ đô Hà
Nội. Chính vì lẽ đó, không có vị khách nào tới Hà Nội mà không ghé thăm quần thể kiến trúc độc đáo này. Đền
nằm trên đảo Ngọc (còn gọi là Ngọc Sơn), một gò đất nổi giữa Hồ Gươm, cách Tháp Rùa một quãng không xa.
Theo văn bia của đền ghi lại, đền Ngọc Sơn được khởi xây vào mùa thu năm 1841. Ngôi đền được tu sửa công
phu nhất vào năm 1865, do Nguyễn Văn Siêu – nhà nho lỗi lạc của đất Thăng Long đứng ra lo liệu. Nhiều công
trình ý nghĩa cũng được hình thành vào lần tu sửa này tạo nên bộ mặt hài hòa của kiến trúc đền Ngọc Sơn Ngọc
Sơn gồm: đền Ngọc Sơn Ngọc Sơn – cầu Thê Húc – tháp Bút – đài Nghiên. Tháp Bút được xây bằng đá, trên có
tạc 3 chữ “tả thanh thiên” (viết lên trời xanh), trên đỉnh là hình ngọn bút lông vươn lên trời cao. Đài Nghiên là
một nghiên mực bằng đá được đội lên bởi 3 con cóc. Nếu Văn Miếu – Quốc Tử Giám nổi tiếng với hình ảnh
rùa đội bia thì kiến trúc cóc đội nghiên này mang lại một nét đặc sắc khá thú vị cho khu đền Ngọc Sơn. Tháp
Bút – đài Nghiên từ xưa vẫn luôn được coi như biểu tượng linh thiêng gắn liền với văn chương, thi cử. Nhiều sĩ
tử tìm đến đây cầu một chút may mắn để vững tâm hơn trong con đường học hành của mình. Cầu Thê Húc, cây
cầu với cái tên mang ý nghĩa là đón những ánh nắng ban mai đã trở thành hình ảnh tiêu biểu của quần thể kiến
trúc Hồ Gươm nói chung và đền Ngọc Sơn nói riêng. Cây cầu bằng gỗ sơn son với 15 nhịp, 32 chân cột tròn nổi
bật trên nền nước xanh ngăn ngắt của Hồ Gươm, nối liền từ đường cái quan đến cổng đền. Cổng đền có tên là
Đắc Nguyệt Lâu với lối kiến trúc hai tầng đẹp mắt vẫn còn giữ nguyên nét cổ kính cho tới ngày nay. Bên trong
là đền chính gồm hai khu nối nhau. Khu thứ nhất hướng về phía Bắc thờ Đức Đại vương Trần Hưng Đạo và
Đức Văn Xương Đế Quân. Phía Nam là đình Trấn Ba có kiến trúc thanh thoát và đậm chất thơ.
Ngoài ra, trong đền Ngọc Sơn Ngọc Sơn còn thờ cả đức Phật A Di Đà. Điều này vừa thể hiện đời sống tâm
linh phong phú của người dân vừa là minh chứng rõ nét cho sự chung sống hòa hợp giữa các tôn giáo trên cùng
một đất nước Việt Nam. Cùng với quần thể Hồ Gươm, Tháp Rùa; đền Ngọc Sơn Ngọc Sơn là một di tích văn
hóa – lịch sử độc đáo, một điểm du lịch đặc sắc của thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến.
(Trần Thanh Giang, theo Báo Điện tử)
Câu 1. Ngoài phương thức biểu đạt chính là thuyết minh, văn bản còn sử dụng những phương thức biểu đạt nào
khác?
-> Phương thức miêu tả và tự sự.
Câu 2. Văn bản viết về đề tài gì?
-> Viết về quần thể kiến trúc độc đáo của đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc, Tháp Bút, đài Nghiên và giá trị lịch sử,
văn hoá của nó.
Câu 3. Phần in đậm ở đầu văn bản gọi là gì? Nêu tác dụng của phần in đậm đó.
-> Phần in đậm ở đầu văn bản gọi là đền Ngọc Sơn. Phần này giúp người đọc hiểu rõ chủ đề và nội dung chính
của văn bản
Câu 4. Em ấn tượng nhất với chi tiết thuyết minh nào trong văn bản? Vì sao em ấn tượng với chi tiết đó?
->Em ấn tượng nhất có thể là chi tiết miêu tả đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc và các công trình ý nghĩa khác. Em
ấn tượng vì đây là các chi tiết cho thấy sự hài hoà giữa kiến trúc và thiên nhiên, cũng như giá trị lịch sử và tâm
linh mà công trình mang lại.
Câu 5.Trong văn bản trên, tác giả đã sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ nào? Tác dụng của việc sử dụng
phương tiện phi ngôn ngữ đó?
-> Sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ là hình ảnh (H1,H2). Tác dụng trình bày thông tin một cách trực quan và
nổi bật thông tin quan trọng.
Câu 6. Em cho biết bố cục của 1 bài phỏng vấn gồm mấy phần? Nêu tên từng phần?
- Bố cục bài phỏng vấn gồm 3 phần:
- Gọi tên: + Phần mở đầu
+Phần nội dung
+Phần kết thúc
II. VIẾT : Viết bài văn phân tích đoạn thơ sau:
Đầu lòng hai ả tố nga
Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân
Mai cốt cách tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn
Làn thu thủy nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
Một hai nghiêng nước nghiêng thành
Sắc đành đòi một tài đành họa hai
Thông minh vốn sẵn tính trời
Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm
Cung thương lầu bậc ngũ âm
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một chương
Khúc nhà tay lựa nên chương
Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân
ĐỀ 4:
I. ĐỌC HIỂU: Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi
SÔNG BẠCH ĐẰNG LỊCH SỬ
Đằng Giang tự cổ huyết do hồng
(Bạch Đằng thuở trước máu còn loang)
Giang Văn Minh (1573 - 1638)
Sông Bạch Đằng là con sông nổi tiếng nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt. Sông có
“tên hiệu” là sông Vân Cừ và tên “dân dã” là sông Rừng. Người Quảng Yên trước đây từng lưu truyền câu
“Con ơi, nhớ lấy lời cha / Gió nồm, nước rặc chớ qua sông Rừng” để nói lên sự hiểm yếu của con sông này.
Cha ông ta xưa kia hiểu rất rõ “thủy chế” của sông Bạch Đằng dưới tác động của thủy triều, nên đã vận dụng
vào những trận chiến bảo vệ Tổ quốc, đánh đuổi kẻ thù ở nơi cửa ngõ này. Sông đã ba lần lập chiến công, là mồ
chôn quân giặc từ phương Bắc tới.
1. Trận Bạch Đằng năm 938
Năm 938, vua Nam Hán là Lưu Nghiễm phong cho con là Lưu Hoằng Tháo thống lĩnh hai vạn quân, tiến vào
cửa sông Bạch Đằng, đánh chiếm nước ta.
Ngô Quyền cho quân sĩ đóng cọc bịt sắt nhọn xuống lòng sông Bạch Đằng. Khi thủy triều lên, bãi cọc không bị
lộ.
Quân Nam Hán tiến vào. Ngô Quyền ra lệnh cho quân rút lên thượng lưu. Đợi đến khi thủy triều xuống, quân ta
đổ ra đánh. Nhiề
cọc đâm thủng. Lúc ấy Ngô Quyền mới tung quân ra tấn công dữ dội. Quân Nam Hán thua chạy, Lưu Hoằng
Tháo bỏ mạng cùng với quá nửa quân sĩ.
2. Trận Bạch Đằng năm 981
Cuối năm 979, Đinh Tiên Hoàng và con là Đinh Liễn bị ám hại. Nhân khi Đại Cồ Việt có nội loạn, mùa thu
năm 980, nhà Tống đem quân chia làm hai đạo tiến vào theo đường bộ và đường thủy. Cánh quân thủy do Hầu
Nhân Bảo chỉ huy tiến vào cửa sông Bạch Đằng.
Ngày 28-4-981, trận quyết chiến diễn ra trên sông. Lê Hoàn cho một cánh quân ra khiêu chiến với Hầu Nhân
Bảo, giả thua nhử quân địch đuổi theo. Khi đoàn chiến thuyền của Hầu Nhân Bảo lọt vào trận địa mai phục, Lê
Hoàn tung quân từ khắp các ngả tấn công quân Tống. Hầu Nhân Bảo bị giết chết trong cuộc hỗn chiến. Đám tàn
quân hoảng sợ vội tháo lui ra biển. Nghe tin thất trận, các đạo quân Tống hoảng sợ rút lui, bị quân Đại Cồ Việt
truy kích tiêu diệt quá nửa.
3. Trận Bạch Đằng năm 1288
Năm 1287, nhà Nguyên mở cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ ba, nhưng chỉ chiếm được kinh thành Thăng Long
không một bóng người. Đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ bị thủy quân Trần do Trần Khánh Dư chỉ huy
đánh tan trong trận Vân Đồn. Trước tình thế bất lợi, quân Nguyên định tổ chức rút về Trung Quốc theo các
hướng khác nhau.
Trần Hưng Đạo chỉ huy quân dân Đại Việt chuẩn bị trận địa mai phục trên sông Bạch Đằng. Các cây gỗ lim, gỗ
táu đốn từ trên rừng được kéo về bến sông, tại đây cây được đẽo nhọn và cắm xuống lòng sông ở các cửa dẫn ra
biển, chỉ để trống sông Đá Bạc cho quân Nguyên kéo vào.
Nhân lúc nước lớn, Ô Mã Nhi dẫn đoàn thuyền tiến vào sông Bạch Đằng. Thủy quân Trần tràn ra giao chiến,
rồi giả thua chạy vào sâu bên trong. Ô Mã Nhi trúng kế thúc quân đuổi theo, tiến sâu vào khúc sông đã đóng
cọc. Quân Trần đợi cho thủy triều xuống, nhất loạt quay thuyền lại đánh thẳng vào đội hình địch. Quân Nguyên
hoảng loạn, bỏ thuyền lên bờ tìm đường chạy trốn, nhưng lại rơi vào ổ phục kích của quân Trần.
Hơn 4 vạn quân Nguyên bị loại khỏi vòng chiến, nhiều tướng Nguyên trong đó có Ô Mã Nhi bị bắt sống. Trận
đại thắng trên sông Bạch Đằng của Trần Hưng Đạo được xem là trận thủy chiến lớn nhất trong lịch sử Việt
Nam, và là thắng lợi tiêu biểu nhất của Đại Việt trong ba cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên
Mông.
Gắn liền với những chiến thắng oanh liệt của dân tộc, sông Bạch Đằng xứng đáng được vinh danh trong bảng
vàng lịch sử. Năm 1835, vua Minh Mạng cho đúc Cửu đỉnh đặt ở Thái Miếu trong kinh thành Huế. Nhà vua đã
- cho chạm chín dòng sông tiêu biểu của Việt Nam lên Cửu
đỉnh, gồm các sông Bến Nghé, sông Hương, sông Gianh, sông Mã, sông Lô, Bạch Đằng, Thạch Hãn, sông
Lam, sông Hồng. Trongđó sông Bạch Đằng được khắc lên Nghị đỉnh.
(Nguyễn Như Mai, Nguyễn Huy Thắng, Nguyễn Quốc Tín, Dạt dào sông nước, NXB Kim Đồng, 2015)
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính trong văn bản trên là gì?
-> Thuyết minh
Câu 2. Dựa trên thông tin văn bản cung cấp, tên gọi khác của sông Bạch Đằng là gì?
-> Sông Vân Cừ
Câu 3. Đề tài chính của văn bản trên là là gì ?
-> giới thiệu về những chiến công trên sông Bạch Đằng.
Câu 4. Việc đưa nội dung ba trận chiến trên sông Bạch Đằng nhằm làm nổi bật thông tin chính nào về dòng
sông?
-> chứng minh đây là dòng sông lịch sử
Câu 5: Thái độ, quan điểm của tác giả khi cung cấp thông tin về sông Bạch Đằng như trên là gì?
-> Tự hào, ngưỡng mộ trước những chiến tích lịch sử trên dòng sông
Câu 6. Cách trình bày dữ liệu và thông tin được thể hiện theo cấu trúc nào? Nhận xét về hiệu quả của các cách
trình bày đó.
Cấu trúc: Ý chính – Thông tin chi tiết và trật tự thời gian
Thông tin chi tiết: Thuyết minh về ba trận chiến trên sông Bạch Đằng theo trật tự thời gian - Nhận xét: Cấu
trúc dễ theo dõi, rõ ràng đi vào trọng tâm chính của vấn đề
Câu 7. Từ VB thông tin trên, em hãy liên hệ đến câu thơ của chủ tịch HCM về giáo dục nguồn cội cho dân ta?
-> Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam
Câu 8. Tìm thành ngữ và giải thích nghĩa của thành ngữ có trong phần trích sau
Một hai nghiêng nước nghiêng thành
Sắc đành đòi một tài đành họa hai
->thành ngữ “ nghiêng nước nghiêng thành”
-> nghĩa : miêu tả vẻ đẹp của người phụ nữ có thể làm cho người ta say mê đến nỗi mất thành, mất nước.
II. VIẾT: Viết bài văn phân tích tác phẩm sau:
(Tóm tắt phần đầu: Nguyễn Sinh người Thanh Trì, diện mạo đẹp đẽ, tư chất thông minh, giọng hát ngọt ngào.
Chàng sớm mồ cô cha, nhà nghèo nên học hành dang dở, chàng làm nghề chèo đò. Vì say đắm giọng hát và vẻ
ưa nhìn của chàng nên cô con gái một nhà giàu họ Trần đã đem lòng yêu mến, sai người hầu đem khăn tay đến
tặng, dặn chàng nhờ người mối manh đến hỏi. Nguyễn Sinh nhờ mẹ bảo người mối manh đến nhà nàng nhưng
bố nàng chê chàng nghèo nên không nhận lời, còn dùng lời lẽ không hay để mắng bà mối. Chàng phẫn chí bỏ
đi xa để lập nghiệp; cô gái biết chuyện âm thầm đau khổ chẳng thể giãi bày cùng ai, dần sinh bệnh, hơn một
năm sau thì nàng qua đời.)
Trước khi nhắm mắt, nàng dặn cha:
- Trong ngực con chắc có một vật lạ. Sau khi con nhắm mắt, xin cha cho hỏa táng để xem vật đó là vật gì?
Ông làm theo lời con. Khi lửa thiêu đã lụi, ông thấy trong nắm xương tàn, sót lại một vật, to bằng cái đấu, sắc
đỏ như son, không phải ngọc cũng chẳng phải đá, nó trong như gương, búa đập không vỡ. Nhìn kĩ thì thấy
trong khối ấy có hình một con đò, trên đò một chàng trai trẻ tuổi đang ngả đầu tựa mái chèo nằm hát. Nhớ lại
việc nhân duyên trước kia của con, ông chợt hiểu ra vì chàng lái đò mà con gái ông chết, hối thì không kịp nữa.
Ông bèn đóng một chiếc hộp con, cất khối đỏ ấy vào trong, đặt lên giường của con gái.
Nguyễn sinh bỏ nhà lên Cao Bằng làm khách của trấn tướng. Chàng vì hát hay nên được trấn tướng yêu quý.
Hơn một năm sau, chàng dần dần có của nả, rồi lại mấy năm nữa tích cóp lại được hơn hai trăm lạng vàng.
Chàng nghĩ: “Số vàng này đủ để chi dùng cho việc cưới xin”. Xong, chàng sửa soạn hành trang trở về. Đến
nhà, chàng hỏi thăm ngay cô gái nọ. Được nghe tất cả đầu đuôi về nàng, chàng vô cùng đau đớn, vội sắm sửa
lễ vật đến điếu nàng. Khi chàng làm lễ xong, bố cô có mời chàng ở lại dùng cơm. Chàng xin ông cho xem vật
đã được cất giấu trong hộp con. Ông mở hộp lấy ra đưa chàng. Chàng nâng niu cầm lấy, lòng vô cùng xúc
động, hai dòng lệ trào ra nhỏ xuống khối đá đỏ. Bỗng khối đá tan ra thành nước, giọt giọt đều biến thành máu
tươi, chảy đầm đìa vào tay áo chàng. Chàng cảm kích mối tình của nàng, thề không lấy ai nữa.
(Trích Chuyện tình ở Thanh Trì, Lan Trì kiến văn lục, Vũ Trinh, in trong cuốn Văn xuôi tự sự Việt Nam thời
trung đại, tập 1, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và tuyển soạn, NXB Giáo dục, 1997, tr 424-426)
ĐỀ 5:
I. PHẦN ĐỌC HIỂU: (6điểm)
Đọc truyện sau và trả lời câu hỏi nêu bên dưới:
CHUYỆN GÃ TRÀ ĐỒNG GIÁNG SINH
(Trà đồng giáng đản lục)
Dương Đức Công tên là Tạc, người phủ Thường Tín xứ Sơn Nam. Dưới triều vua Huệ Tông nhà Lý, ông
làm quan coi việc hình án trấn Tuyên Quang xét rõ mọi điều oan khuất, khiến các vụ án đều được công bằng.
Vì sự nhân từ phúc hậu, người thời bấy giờ gọi là Đức công. Năm 50 tuổi, Đức công vẫn không có con trai,
chợt bị ốm nặng rồi chết, hồi lâu lại tỉnh bảo với mọi người rằng:
- Ta vừa đến một chỗ thành đèn vách sắt, toan bước chân vào thì có một viên chức ngăn lại. Viên ấy dẫn ta đi
sang phía hữu, thấy có những cửa đỏ biển son. Vén áo đi vào cửa này thì thấy san sát những tòa rộng dẫy dài,
có đến hơn trăm người thắt đai đứng hầu sau trước. Giữa có hai vị mặc áo bào tía ngồi đối diện nhau ở bên
một cái án, đưa mắt cho viên chức kia bảo lấy sổ son của họ Dương ra xem, một lát hai vị cùng nhìn nhau bảo
rằng:
- Dương gian thật không có người nào được thế, cứu sống cho mọi người nhiều lắm. Chỉ tiếc hưởng tuổi không
dài và dòng sau không người nối dõi. Người như thế mà không biểu dương thì làm sao khuyến khích cho kẻ
khác được; ta sẽ phải tâu lên Thượng đế.
Bèn truyền cho Đức công hẵng xuống tạm nghỉ ở cái hành lang phía đông. Chừng độ nửa ngày, hai vị ấy lại sai
dẫn Đức công vào, bảo rằng:
- Nhà ngươi ngày thường vốn có tiếng là người lương thiện. Thượng đế khen ngợi, ban cho một người con trai
tốt và cho sống lâu thêm hai kỷ nữa. Nên mau về đi mà cố gắng làm thêm điều âm đức, đừng bảo là trên cõi
minh minh không biết gì đến.
Đoạn sai viên chức kia dẫn về. Khi ra khỏi cửa, Dương hỏi rằng:
- Chẳng hay đây là dinh tòa nào? Ai là chủ trương và coi giữ công việc gì?
Viên chức ấy nói:
- Đây là một tòa trong 24 tòa ở Phong Đô ; phàm người mới chết đều phải qua cả. Người nào tên ghi ở sổ son,
may ra còn có khi sống mà về được, chứ đã tên ghi sổ mực thì chẳng còn có mong gì. Nếu ông không phải là
người xưa nay hết lòng làm việc thiện thì cũng khó bề thoát được.
Bèn cùng nhau chia tay từ biệt, rồi ông bừng tỉnh như một giấc chiêm bao.
Bà vợ cũng nói là đêm qua lúc cuối canh một, có ngôi sao nhỏ rơi vào lòng, lòng bỗng thấy rung động.
Rồi bà có mang đủ ngày tháng sinh ra được một cậu con trai, đặt tên cho là Thiên Tích. Tính Thiên Tích thích
uống trà lắm, thường tự ví mình như Lư Đồng Lục Vũ đời xưa. Song thiên tư lỗi lạc, học vấn rộng rãi, phàm
sách vở văn chương cổ kim, không cái gì là không thông thuộc. Đức công mừng mà rằng:
- Thế là ta có dòng giống rồi!
Bèn chuyên đem những nghĩa lý chân chính dạy con. Sau đó 24 năm, ông mắc bệnh mà mất, Thiên Tích thương
xót rất mực; xa gần ai nấy đều cảm động.
(Nguyễn Dữ, in trong Truyền kỳ Mạn lục, NXB Văn học)
Câu 1. (1đ) Xác định thể loại, ngôi kể và phương thức biểu đạt chính của văn bản trên?
Câu 2. (2đ)
a) Trong câu chuyện trên, nhân vật Đức Công được khắc họa ở những không gian nào?
b) Qua đó em có nhận xét gì về đặc điểm của không gian trong truyện truyền kì?
Câu 3. (1đ) Truyện có yếu tố kì ảo nào? Yếu tố kì ảo đó có ý nghĩa, vai trò gì trong truyện?
Câu 4: (2đ)
chính?
a) Xác định nhân vật chính, nhân vật phụ trong truyện? Chỉ ra những phẩm chất tiêu biểu của nhân vật
b)Từ câu chuyện trên, em rút ra được những bài học ý nghĩa gì cho bản thân?
II. PHẦN VIẾT: (4đ)
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ và cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
Kiều càng sắc sảo, mặn mà,
So bề tài, sắc, lại là phần hơn.
Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên Bạc mệnh, lại càng não nhân.
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
(Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du)
ĐÁP ÁN:
Câu 1. (1đ)
- Thể loại: truyện truyền kì
- Ngôi kể: ngôi thứ 3
- Phương thức biểu đạt chính: tự sự.
Câu 2. (2đ)
a) Trong câu chuyện trên, nhân vật Đức Công được khắc họa ở những không gian: trần gian và âm phủ.
b) Không gian trong truyện truyền kì thường mang yếu tố kì ảo làm tăng tính truyền kì và hấp dẫn cho câu
chuyện.
Câu 3. (1đ)
- Truyện có yế
 









Các ý kiến mới nhất