Đề cương ôn thi giữa kì 1 Ngữ văn 11

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: http://thaiphiendanang.edu.vn/baigiangs/view/de-cuong-on-tap-giua-ky-1-nam-hoc-2004_2025-mon-van.html
Người gửi: Bùi Thị Phương Thảo
Ngày gửi: 14h:23' 24-02-2026
Dung lượng: 245.0 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn: http://thaiphiendanang.edu.vn/baigiangs/view/de-cuong-on-tap-giua-ky-1-nam-hoc-2004_2025-mon-van.html
Người gửi: Bùi Thị Phương Thảo
Ngày gửi: 14h:23' 24-02-2026
Dung lượng: 245.0 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
TRƯỜNG THPT THÁI PHIÊN
ÔN TẬP KIỂM TRA GIỮA KÌ I – NĂM HỌC 2024 -2025
MÔN NGỮ VĂN LỚP 11
I. KHUNG MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA ĐỊNH KÌ MÔN NGỮ VĂN LỚP 11
TT
Kĩ năng
1
Đọc
3
Viêt
Nội dung/đơn vi kĩ
năng
Mức độ nhận thức
Nhận biêt
Thông hiểu
Vận dung
Tổng
% điểm
Truyện
ngắn/Truyện
ngắn hiện đại
Thơ trữ tình.
2
(15%)
3
(30%)
1
(15%)
60
Viết văn bản nghị luận
về một đoạn trích/ tác
phẩm truyện
Viết văn bản nghị luận
về một tác phẩm thơ
Tỉ lệ điểm từng loại câu hỏi
1*
(5%)
1*
(20%)
1*
(15%)
40
20%
50%
30%
Tổng % điểm
70%
30%
100%
II. BẢNG ĐẶC TẢ ĐỀ KIỂM TRA ĐỊNH KÌ MÔN NGỮ VĂN LỚP 11
Kĩ
TT
năng
1
Đọc
hiểu
Đơn vi
kiên
Mức độ đánh giá
thức/Kĩ
năng
Truyện
Nhận biêt:
ngắn/Truyệ
- Nhận biết được chi tiết, đề tài, câu chuyện,
n ngắn hiện sự kiện, nhân vật và mối quan hệ của chúng
đại
trong tính chỉnh thể của tác phẩm.
- Nhận biết được một số yếu tố của truyện
ngắn hiện đại như: không gian, thời gian,
câu chuyện, nhân vật, người kể chuyện ngôi
thứ 3 (người kể chuyện toàn tri) và người kể
chuyện ngôi thứ nhất (người kể chuyện hạn
tri), sự thay đổi điểm nhìn, sự kết nối giữa
lời người kể chuyện, lời nhân vật…
- Chỉ ra được những biện pháp tu từ được sử
dụng trong văn bản.
- Nhận biết được một số yếu tố của truyện
ngắn hiện đại như: ngôn ngữ, diễn biến tâm
lí, hành động của nhân vật,…
Thông hiểu:
- Phân tích được các chi tiết, đề tài, câu
Số câu hỏi theo mức độ
nhận thức
Nhận
Thông Vận
biết
hiểu
dụng
Theo như ma trận ở trên
chuyện, sự kiện, nhân vật và mối quan hệ
của chúng trong tính chỉnh thể của tác
phẩm; đánh giá được vai trò của những chi
tiết quan trọng trong việc thể hiện nội dung
văn vản.
- Phân tích và đánh giá được chủ đề, tư
tưởng, thông điệp mà văn bản muốn gửi đến
người đọc thông qua hình thức nghệ thuật
của văn bản; phân tích được sự phù hợp
giữa chủ đề, tư tưởng và cảm hứng chủ đạo
trong văn bản
- Phân tích, đánh giá được giá trị nhận thức,
giáo dục và thẩm mĩ của tác phẩm; phát
hiện được các giá trị văn hoá, triết lí nhân
sinh từ văn bản.
- Nhận biết được một số đặc điểm cơ bản
của phong cách cổ điển, hiện thực, lãng mạn
qua các tác phẩm văn học tiêu biểu đã học.
- Phân tích và đánh giá được sự phù hợp của
người kể chuyện, điểm nhìn trong việc thể
hiện chủ đề của văn bản.
- Phân tích được một số yếu tố của truyện
ngắn hiện đại như: không gian, thời gian,
câu chuyện, nhận vật, người kể chuyện ngôi
thứ 3 (người kể chuyện toàn tri) và người kể
chuyện ngôi thứ nhất (người kể chuyện hạn
tri), sự thay đổi điểm nhìn, sự kết nối giữa
lời người kể chuyện, lời nhân vật…
Vận dung:
- Phân tích và đánh giá được y nghĩa hay tác
đọng của tác phẩm văn học đối vơi người đọc
và tiến bọ xã họi.
- Vạn dụng được kinh nghiẹm đọc, trải
nghiẹm về cuọc sống và kiến thức văn học để
đánh giá, phê bình văn bản văn học, thể hiẹn
được cảm xúc, suy nghĩ của cá nhân về văn
bản văn học.
- Biết đạt tác phẩm trong bối cảnh sáng tác và
bối cảnh hiẹn tại để co đánh giá phù hợp.
- So sánh được hai văn bản văn học viết cùng
đề tài ở các giai đoạn khác nhau; liên tưởng,
mở rọng vấn đề để hiểu sâu hơn văn bản
được đọc.
Thơ trữ
tình
Nhận biêt:
- Nhạn biết được các chi tiết, đề tài, nhân vạt
trữ tình, nhan đề, lời đề từ và mối quan hẹ của
chúng trong tính chỉnh thể của tác phẩm.
- Nhạn biết được mọt số yếu tố trong thơ như:
thể thơ, từ ngữ, hình ảnh, biẹn pháp tu từ, vân,
nhịp, đối,...
- Nhạn biết được mọt số yếu tố của thơ trữ tình
hiẹn đại như: ngôn ngữ, hình tượng, biểu
tượng, yếu tố tượng trưng, siêu thực trong
thơ,...
- Nhạn biết được chủ thể trữ tình.
- Nhạn biết được tình cảm, cảm xúc của người
viết thể hiẹn qua văn bản.
Thông hiểu:
- Phân tích được các chi tiết, đề tài, nhân vạt
trữ tình, nhan đề, lời đề từ và mối quan hẹ của
chúng trong tính chỉnh thể của tác phẩm.
- Phân tích và đánh giá được chủ đề, tư tưởng,
thông điẹp mà văn bản muốn gửi đến người
đọc thông qua hình thức nghẹ thuạt của văn
bản; phân tích sự phù hợp giữa chủ đề, tư
tưởng và cảm hứng chủ đạo trong văn bản.
- Phân tích và đánh giá được giá trị nhạn
thức, giáo dục và thẩm mĩ của tác phẩm; phát
hiẹn được các giá trị văn hoá, triết lí nhân
sinh từ văn bản.
- Nhạn biết được mọt số đạc điểm cơ bản của
phong cách cổ điển, hiẹn thực và lãng mạn
qua các tác phẩm văn học tiêu biểu đã học.
- Phân tích và đánh giá được mọt số yếu tố
trong thơ như: thể thơ, từ ngữ, hình ảnh, biẹn
pháp tu từ, vân, nhịp, đối,...
- Phân tích được mọt số yếu tố của thơ trữ
tình hiẹn đại như: ngôn ngữ, hình tượng, biểu
tượng, yếu tố tượng trưng, siêu thực trong
thơ,...
- Phân tích được chủ thể trữ tình.
- Phân tích và đánh giá được tình cảm, cảm
xúc, cảm hứng chủ đạo của người viết thể
hiẹn qua văn bản.
Vận dung:
- Phân tích và đánh giá được y nghĩa hay tác
đọng của tác phẩm văn học đối vơi người đọc
và tiến bọ xã họi.
- Vạn dụng được kinh nghiẹm đọc, trải
nghiẹm về cuọc sống và kiến thức văn học để
2
Viêt
đánh giá, phê bình văn bản văn học, thể hiẹn
được cảm xúc, suy nghĩ của cá nhân về văn
bản văn học.
- So sánh được hai văn bản văn học viết cùng
đề tài ở các giai đoạn khác nhau; liên tưởng,
mở rọng vấn đề để hiểu sâu hơn văn bản được
đọc.
Biết đạt tác phẩm trong bối cảnh sáng tác và
bối cảnh hiẹn tại để co đánh giá phù hợp.
Viết văn
Nhận biêt:
bản nghị
- Giơi thiệu được đây đủ thông tin chính về
luận về một tên tác phẩm, tác giả, loại hình nghệ thuật,…
đoạn trích/ của đoạn trích/tác phẩm.
tác phẩm
- Đảm bảo cấu trúc, bố cục của một văn bản
truyện
nghị luận.
Thông hiểu:
- Trình bày được những nội dung khái quát
của tác phẩm truyện.
- Phân tích được những biểu hiện riêng của
loại hình nghệ thuật thể hiện trong tác phẩm.
- Nêu và nhận xét về nội dung, một số nét
nghệ thuật đặc sắc.
- Kết hợp được lí lẽ và dẫn chứng để tạo tính
chặt chẽ, logic của mỗi luận điểm.
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng
Việt.
Vận dung:
- Nêu được những bài học rút ra từ đoạn
trích/tác phẩm.
- Thể hiện được sự đồng tình / không đồng
tình vơi thông điệp của tác giả (thể hiện trong
đoạn trích/ tác phẩm).
- Sử dụng kết hợp các phương thức miêu tả,
biểu cảm, tự sự,…để tăng sức thuyết phục cho
bài viết.
- Vận dụng hiệu quả những kiến thức Tiếng
Việt lơp 11 để tăng tính thuyết phục, sức hấp
dẫn cho bài viết.
Viết văn
Nhận biêt:
bản nghị
- Giơi thiệu được đây đủ thông tin chính về
luận về một tên tác phẩm, tác giả, loại hình nghệ
tác phẩm
thuật,… của bài thơ.
thơ
- Đảm bảo cấu trúc, bố cục của một văn bản
nghị luận.
Thông hiểu:
- Trình bày được những nội dung khái quát
của tác phẩm thơ.
- Phân tích được những biểu hiện riêng của
1*
1*
1*
1 câu
TL
Tỉ lệ %
Tỉ lệ chung
loại hình nghệ thuật thể hiện trong tác
phẩm.
- Nêu và nhận xét về nội dung, một số nét
nghệ thuật đặc sắc.
- Kết hợp được lí lẽ và dẫn chứng để tạo
tính chặt chẽ, logic của mỗi luận điểm.
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng
Việt.
Vận dung:
- Nêu được những bài học rút ra từ đoạn
trích/tác phẩm.
- Thể hiện được sự đồng tình / không đồng
tình vơi thông điệp của tác giả (thể hiện
trong đoạn trích/ tác phẩm).
- Sử dụng kết hợp các phương thức miêu tả,
biểu cảm, tự sự,…để tăng sức thuyết phục
cho bài viết.
- Vận dụng hiệu quả những kiến thức Tiếng
Việt lơp 11 để tăng tính thuyết phục, sức
hấp dẫn cho bài viết.
25%
70%
45%
30%
30%
III. HƯỚNG DẪN VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN MỘT TÁC PHẨM/ĐOẠN TRÍCH THƠ, TRUYỆN.
1. Tác phẩm truyện/ trích đoạn tác phẩm
* Mở bài: Giơi thiệu ngắn gọn về tác phẩm truyện/đoạn trích, nêu khía cạnh trong nghệ thuật của tác
phẩm/ đoạn trích mà bài viết sẽ tập trung làm rõ.
* Thân bài:
- Triển khai bài viết thành các luận điểm tương ứng căn cứ vào việc xác định các yếu tố làm nên tính
nghệ thuật của tác phẩm truyện/đoạn trích.
- Trình tự phân tích:
+ Miêu tả yếu tố đo.
+ Chỉ ra chức năng, vai trò của no.
+ Đánh giá hiệu quả của yếu tố nghệ thuật.
* Kêt bài: Khẳng định giá trị nghệ thuật của tác phẩm/đoạn trích.
2. Tác phẩm thơ/ trích đoạn thơ
* Mở bài: Giơi thiệu chung về bài thơ/trích đoạn thơ và xác định vấn đề sẽ được tập trung bàn luận
trong bài viết.
* Thân bài: Triển khai các y:
- Cảm giác chung mà cấu tứ cùng những hình ảnh và cách diễn tả khác lạ trong bài thơ/trích đoạn thơ
đã gợi cho người đọc.
- Sự khác biệt giữa bài thơ này so vơi các bài thơ khác trên phương diện xây dựng hệ thống hình ảnh
và tạo sự kết nối giữa các bộ phận cấu tạo trong bài thơ/trích đoạn thơ.
- Những khả năng hiểu khác nhau đối vơi một số yếu tố, hình ảnh trong bài thơ/đoạn thơ.
- Điều được làm sáng tỏ qua việc đọc thăm dò và thử nghiệm các cách đọc khác nhau đối vơi bài
thơ/trích đoạn thơ.
- Sự gợi mở về cách nhìn mơi đối vơi thế giơi và con người được đề xuất từ mạch ngâm văn bản bài
thơ/trích đoạn thơ.
* Kêt bài: Khẳng định lại sự độc đáo của bài thơ/trích đoạn thơ và y nghĩa của no đối vơi việc đem
lại cái nhìn, cách đọc mơi cho độc giả.
IV. ĐỀ MINH HỌA KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I – MÔN VĂN LỚP 11
SỞ GD&ĐT ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG THPT THÁI PHIÊN
ĐỀ MINH HỌA KIỂM TRA GIỮA KÌ I
MÔN: NGỮ VĂN 11 - NĂM HỌC: 2024 – 2025
Thời gian làm bài: 90 phút (Không kể thời gian phát đề)
Họ và tên học sinh:……………………...........…… Mã số học sinh:…………………
ĐỀ 01
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
(Lược dẫn: Vợ của nhân vật xưng “tôi” mua một con cho, nhưng no rất xấu xí nên chẳng ai dám
đến gân. Mấy người quen của nhân vật “tôi” định bụng sẽ giết thịt no để làm một châu nhậu, nhưng
rồi giặc đến, mọi người đều phải bỏ làng chạy giặc. Vì vương víu nên gia đình nhân vật “tôi” đành
phải bỏ con cho lại nhà cụ bếp Mom và nhờ cụ nuôi hộ. Trươc khi ra đi, vợ của nhân vật “tôi” đã xích
con cho vào gốc cây để no khỏi chạy theo).
“Ắng!… Ắng! Ắng!…” Tiếng con chó lồng lộn, cuống quít đằng sau bước chân tôi. Nó như gọi
tôi, nó như kêu cứu, như than khóc, oán trách…
Ra khỏi ngõ tôi thoảng nghe tiếng chị vợ cả nói với chồng:
– Vợ chồng nhà ấy họ đi đấy à? Này, họ bỏ lại con chó cậu ạ.
Và tiếng anh chồng dấm dẳn:
– Đến người cũng chả chắc giữ được nữa là con chó!…
Tôi xóc lại cái quai ba lô, bước theo hút cái bóng nhà tôi đang đi xăm xắm xuống đồi.
[…]
Tiếng con chó từ trong nhà cụ bếp Móm đưa ra vẫn nghe rõ mồn một “Ắng!… Ắng! Ắng!…”.
Tiếng con chó da diết, nhọn hoắt xói vào ruột gan tôi. “Thôi để chuyến này về tao nuôi. Tao sẽ nuôi
mày, tao không bỏ mày đâu…”.
Tôi nhủ thầm với tôi một lần nữa như vậy.
(Lược một đoạn: sau khi giặc rút, gia đình nhân vật “tôi” về lại làng, nhưng nhân vật “tôi” đã
quên bẵng con cho).
Một hôm tôi chợt thấy cặp kính trắng lấp loáng của Đặng “cồn” từ đầu ngõ đi vào, bấy giờ tôi
mới giật mình, sực nhớ đến con chó. Tôi quay lại hỏi nhà tôi:
– À, mình này! Con chó nhà ta đâu nhỉ? Mình chưa vào trong cụ bếp dắt nó về à?
Nhà tôi đứng ngẩn ra một lúc. Có lẽ nhà tôi cũng không ngờ rằng tôi đã về bằng ấy ngày giời rồi
vẫn không nói chuyện con chó ấy với tôi.
– Nó chết rồi!… – Nhà tôi nói khe khẽ.
– Chết rồi? Làm sao mà chết được?…
Tôi trố mắt lên hỏi lại. Nhà tôi cúi mặt xuống, thở dài:
– Nó chết thương lắm cơ mình ạ. Không phải nó chết trong cụ bếp Móm đâu. Nó về nhà ta nó
chết đấy.
Nhà tôi ngừng lại, cắn môi chớp chớp hai mắt nhìn ra ngoài sân. Lát sau, nhà tôi đứng dậy mời
Đặng vào trong nhà, rót nước mời anh rồi mới tiếp tục câu chuyện.
Chao ôi! Con chó xấu xí ấy của tôi! Con chó từ lúc mua, đến lúc chết không được một lần vuốt
ve! Nó đã chết một cách thảm thương và trung hậu quá. Từ hôm vợ chồng tôi gửi lại nó cho ông cụ
bếp Móm, con chó không chịu ăn uống gì. Nó chỉ kêu. Nó kêu suốt ngày, suốt đêm. Một đêm, ông cụ
bếp không thấy con chó kêu nữa, thì ra nó đã xổng xích đi đâu mất rồi.
Hôm nghe tin giặc rút, ở trong khe đồn Khau Vắt dọn về, nhà tôi tạt vào nhà cụ bếp Móm định
đem con chó về nhân thể, nhưng vào đến nơi thì nó không còn đấy nữa. Lúc ấy nhà tôi cũng yên trí là
con chó mất rồi. Chắc chắn nó sẽ lạc vào một trại ấp nào đấy và người ta làm thịt nó.
Nhưng khi nhà tôi về đến nhà, bà con xóm giềng vừa chạy sang láo nháo thăm hỏi thì, ở ngoài
vườn sau, có mấy tiếng chó hú lên thảm thương và ghê rợn.
Từ sau bụi dứa rậm rạp, con chó khốn khổ ấy lảo đảo đi ra. Người nó run lên bần bật. Nó gầy
quá, chỉ còn một dúm xương da xộc xệch, rụng hết lông. Nó đói quá, đi không vững nữa. Nó đi ngã
dụi bên này, dụi bên kia. Rồi nó không còn đủ sức mà đi nữa. Nó nằm bệt trên đất, rúm người lại, lết
lết về phía nhà tôi. Lúc ấy cả người nó chỉ còn có cái đuôi là còn ngó ngoáy được để mừng chủ và
cái lưỡi liếm liếm vào tay chủ. Khốn nạn con chó! Được gặp chủ nó mừng quá. Từ trong hai con mắt
đờ đẫn của nó mấy giọt nước chảy ra. Lát sau thì nó không liếm được nữa, cái đuôi ngoáy yếu dần,
yếu dần rồi im hẳn. Nó chết.
Tôi tối sầm mặt lại, vừa thương xót con chó, vừa thấy xấu hổ. Quả thật tôi chỉ là một thằng tồi.
Một thằng ích kỷ. Tôi chỉ nghĩ đến mình và vợ con mình. Đến như con chó mình nuôi, mình đối xử với
nó có được như cái tình nghĩa của nó đối xử với mình đâu?
[…]
(Trích Con chó xấu xí, Kim Lân, Tuyển tập Kim Lân, NXB Văn học)
Trả lời câu hỏi:
Câu 1. Ngôi kể nào được sử dụng trong đoạn trích? (0,75 điểm)
Câu 2. Trích đoạn tác phẩm trên chủ yếu được kể từ điểm nhìn của nhân vật nào? (0,75 điểm)
Câu 3. Hình tượng “con cho xấu xí” là biểu tượng cho điều gì? (1,0 điểm)
Câu 4. Câu hỏi tu từ được sử dụng trong đoạn trích: Tôi tối sầm mặt lại, vừa thương xót con chó,
vừa thấy xấu hổ. Quả thật tôi chỉ là một thằng tồi. Một thằng ích kỷ. Tôi chỉ nghĩ đến mình và vợ
con mình. Đến như con chó mình nuôi, mình đối xử với nó có được như cái tình nghĩa của nó đối
xử với mình đâu co tác dụng gì? (1,0 điểm)
Câu 5. Theo anh/chị, truyẹn ngắn Con chó xấu xí của Kim Lân được viết theo phong cách sáng
tác nào? Dựa vào đâu để anh/chị khẳng định như vậy? (1,0 điểm)
Câu 6. Anh/chị rút ra được bài học gì cho bản thân sau khi đọc đoạn trích trên? (Trình bày từ 5 –
7 câu) (1,5 điểm)
II. VIẾT (4.0 điểm)
Viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích những đặc điểm trong cách kể của
Kim Lân ở trích đoạn tác phẩm Con chó xấu xí được dẫn ở phân Đọc hiểu.
ĐỀ 02
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
Tôi không thích khi cưỡi xe vào tận thềm nhà lại phải rạp mình dưới giàn bầu ấy. Chị và
mẹ tôi lại ngại tóc rối. Cha tôi khó chịu khi phải dắt quan khách len lỏi bên mấy trái bầu để vào căn
nhà sang trọng […]. Bữa canh đầu tiên cả nhà háo hức, nuốt tuồn tuột từng miếng bầu trong veo,
ngọt lịm […]. Một lần, hai lần rồi ba lần, chúng tôi ngán tận cổ. Mà, chết thật, nội tôi cứ trồng mãi,
trồng mãi, giàn bầu ngày càng rộng ra choán hết khoảng sân kiểng của cha xanh rầm rì […]. Chị
Lan nhăn nhó:
- Nội ơi, trồng chi nhiều vậy?
Bà nội cười, buồn buồn.
- Nội làm lặt vặt quen rồi. Trồng trọt để đỡ nhớ quê.
[…] Ba tôi nói “làm người đừng suy nghĩ hẹp hòi, đừng tưởng nơi mình sinh ra, nơi có mồ
mả ông cha là quê hương, khắp đất nước này chỗ nào cũng là quê cả”. Cha tôi nói đúng và ông rước
bà nội lên thành phố. […]. Ở nhà tôi, công việc nhàn đến mức bà thơ thẩn vào rồi lại thơ thẩn ra
[…]. Bà làm nhiều thứ bánh lắm, không kể hết được, nào là bánh ngọt, bánh ú....toàn là bánh nhà
quê. […]. Mùa này nhiều trái bầu khô, nội hái vào móc ruột ra, lấy cái vỏ mằn mì gọt. Lâu lâu nội
đưa lên nhìn, nheo nheo mắt. Tôi hỏi, nội gọt gì. Nội cười, đưa cho tôi mảnh vỏ dầy hình trái tim nhỏ
xíu.
- Mặt dây chuyền cho tụi nhỏ đeo.
Tôi không nén được xuỳ một tiếng.
- Thời này ai đeo mấy thứ này, nội làm chỉ mất công.
Trong đôi mắt đùng đục của bà, tôi thấy có một nỗi buồn sâu kín. Con chị bếp dưới quê lên,
bà gói dúi vào tay nó mấy mảnh bầu. Con nhỏ hớn hở, vui thiệt là vui. Cũng niềm vui ấy, con bé bán
vé số lỏn lẻn cười “Bà đẽo đẹp ghê ha”. Hôm sau tôi thấy nó xúng xính xỏ cọng chỉ vào, đeo tòn ten
trước cổ lạ lắm. Hình như tôi ngắm vàng ròng, cẩm thạch quen rồi. Tôi xin, bà móm mém cười “Bà
để dành cho bay cái đẹp nhất nè”.
Tôi gói trái tim xíu xíu kia bỏ vào ngăn tủ, chị Lan trông thấy giành “cho chị đi”. Tôi lắc
đầu. Chị giận bảo “chị cóc cần, ở chợ bán hàng khối”. Nhưng rồi chị quay về nài nỉ tôi. Lần đầu tiền,
tôi thấy món quà của nội dễ thương đến thế.
Giàn bầu vẫn trước ngõ. Cha tôi đã thôi khó chịu, hay bực dọc riết rồi chai đi, chẳng biết
bực là gì nữa. Nhưng khách đến nhà, ai cũng khen “anh ba có giàn bầu đẹp thiệt”. Họ săm soi, từng
mảng lá cuống hoa. Khách nước ngoài còn kề má bên trái bầu xanh lún phún lông tơ mà chụp hình
kỷ niệm. Mấy anh chị sinh viên đạp xe ngang dừng lại nhìn đau đáu qua rào rồi kháo nhau “Nhớ nhà
quá, tụi mày ơi” […]. Ông chủ tịch đến chơi nhà […]. Cha tôi sai chị bếp mang rượu thịt ra ông chủ
tịch khoát tay:
- Thôi, chú bảo chị ấy nấu canh bầu ăn.
[…] Hôm ấy cả nhà tôi ăn lại bát canh ngày xưa, nghe ngọt lìm lịm lưỡi. Chị bếp ngó nội,
khoái chí cười đầy hàm ý. Hình như nội tôi vui.
[…]Bà nội lẩn thơ lẩn thẩn rồi, mà hình như bà chỉ nhớ về quá khứ. Nội hay ra ngoài hiên,
chăm chăm nhìn giàn bầu đang run rẩy trong gió. Bà ngồi đấy lặng lẽ, thẫn thờ, như chờ một tiếng
vạc sành, một tiếng ếch kêu. Tay bà lạnh ngắt, tôi chạy vào phòng lấy lọ dầu thoa, vẫn thấy mảnh
bầu trái tim màu vàng trong ngăn kéo, cái màu vàng như của rạ, của lúa, như của mái nhà lá nhỏ lơ
phơ dưới nắng chiều. Giàn bầu vẫn trước ngõ, có kẻ đi qua kêu lên, “tôi nhớ nhà”. Cha tôi bảo: “có
thể bứt người ta ra khỏi quê hương nhưng không thể tách quê hương ra khỏi trái tim con người”. Và
cha tôi lại nói đúng.
(Trích Giàn bầu trước ngõ1, Nguyễn Ngọc Tư2, in trong Xa xóm mũi, NXB Kim Đồng, 2015, tr.13-15)
Chú thích:
(1) Giàn bầu trước ngõ là một trong những truyện ngắn đặc sắc của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư khi viết về những
điều gân gũi, thân thuộc trong cuộc sống. Truyện xoay quanh câu chuyện về nỗi nhơ, tình yêu quê hương của nhân
vật, qua đo gợi lên cho người đọc những đồng cảm sâu sắc.
(2) Nguyễn Ngọc Tư là nữ nhà văn trẻ của Hội nhà văn Việt Nam. Tác phẩm của chị khắc họa chân thực những
tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của tâng lơp lao động nghèo đồng bằng, của những con người chân chất hồn hậu.
Giọng văn của Nguyễn Ngọc Tư đậm chất Nam bộ, giọng kể mềm mại, ngôn ngữ đời thường gân gũi, giản dị mà
thấm đẫm cái tình của làng, của đất, của hồn quê Việt Nam.
Trả lời câu hỏi:
Câu 1. Đoạn trích trên viết về đề tài gì? (0,75 điểm)
Câu 2. Sau khi lên thành phố, bà cụ đã làm những gì để vơi bơt đi nỗi nhơ quê? (0,75 điểm)
Câu 3. Hình ảnh giàn bâu trong trích đoạn tác phẩm biểu tượng cho điều gì? (1,0 điểm)
Câu 4. Biện pháp liệt kê được sử dụng trong chi tiết: Bà làm nhiều thứ bánh lắm, không kể hết
được, nào là bánh ngọt, bánh ú....toàn là bánh nhà quê co tác dụng gì? (1,0 điểm)
Câu 5. Diễn biến cảm xúc của nhân vật tôi thế nào trươc mon quà là mảnh bâu hình trái tim của
bà nội? (1,0 điểm)
Câu 6. Từ nội dung đoạn trích, anh/chị co đồng tình vơi y kiến có thể bứt người ta ra khỏi quê
hương nhưng không thể tách quê hương ra khỏi trái tim con người không? Vì sao? (Trả lời bằng
5-7 câu). (1,5 điểm)
II. LÀM VĂN (4.0 điểm)
Viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích những đặc điểm trong cách kể
của Nguyễn Ngọc Tư ở trích đoạn tác phẩm Giàn bầu trước ngõ được dẫn ở phân Đọc hiểu.
ĐỀ 03
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
(…) An và Liên đã buồn ngủ ríu cả mắt. Tuy vậy hai chị em vẫn cố gượng để thức khuya chút
nữa, trước khi vào hàng đóng cửa đi ngủ. Mẹ vẫn dặn phải thức đến khi tàu xuống - Ðường sắt đi
ngang qua ngay trước mặt phố - để bán hàng, may ra còn có một vài người mua. Nhưng cũng như mọi
đêm, Liên không trông mong còn ai đến mua nữa. Với lại đêm họ chỉ mua bao diêm, hai gói thuốc là
cùng. Liên và em cố thức là vì cớ khác, vì muốn được nhìn chuyến tàu. Chín giờ có chuyến tàu ở Hà
Nội đi qua huyện. Đó là sự hoạt động cuối cùng của đêm khuya.
An đã nằm xuống gối đầu lên đùi chị, mí mắt sắp sửa rơi xuống, còn dặn với:
- Tàu đến chị đánh thức em dậy nhé.
- Ừ, em cứ ngủ đi.
Liên khẽ quạt cho An, vuốt lại mái tóc tơ. Đầu em bé nặng dần trên người Liên; chị ngồi yên
không động đậy. Qua khe lá của cành bàng ngàn sao vẫn lấp lánh; một con đom đóm bám vào dưới
mặt lá, vùng sáng nhỏ xanh nhấp nháy rồi hoa bàng rụng xuống vai Liên khe khẽ, thỉnh thoảng từng
loạt một. Tâm hồn Liên yên tĩnh hẳn, có những cảm giác mơ hồ không hiểu.
Trống cầm canh[10] ở huyện đánh tung lên một tiếng ngắn, khô khan, không vang động ra xa,
rồi chìm ngay vào bóng tối. Người vắng mãi, trên hàng ghế chị Tí mới có hai ba bác phu ngồi uống
nước và hút thuốc lào. Nhưng một lát từ phố huyện đi ra, hai ba người cầm đèn lồng lung lay các bóng
dài: mấy người làm công ở hiệu khách đi đón bà chủ ở tỉnh về. Bác Siêu nghển cổ nhìn ra phía ga, lên
tiếng:
- Đèn ghi đã ra kia rồi.
Liên cũng trông thấy ngọn lửa xanh biếc, sát mặt đất, như ma trơi. Rồi tiếng còi xe lửa ở đâu vang lại,
trong đêm khuya kéo dài ra theo gió xa xôi. Liên đánh thức em:
- Dậy đi, An. Tàu đến rồi.
An nhỏm dậy, lấy tay dụi mắt cho tỉnh hẳn. Hai chị em nghe thấy tiếng dồn dập, tiếng xe rít
mạnh vào ghi. Một làn khói bừng sáng trắng lên đằng xa, tiếp đến tiếng hành khách ồn ào khe khẽ.
Mấy năm nay buôn bán kém nên người lên xuống ít, có khi hai chị em đợi chờ chẳng thấy ai. Trước kia,
ở sân ga, có mấy hàng cơm mở đón khách, đèn sáng cho đến nửa đêm. Nhưng bây giờ họ đóng cửa cả
rồi, cũng im lặng tối đen như ngoài phố.
Hai chị em chờ không lâu. Tiếng còi đã rít lên, và tàu rầm rộ đi tới. Liên dắt em đứng dậy để
nhìn đoàn xe vụt qua, các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường. Liên chỉ thoáng trông thấy
những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng. Rồi
chiếc tàu đi vào đêm tối, để lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt. Hai chị em còn nhìn theo
cái chấm đỏ của chiếc đèn xanh trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre.
- Tàu hôm nay không đông nhỉ, chị nhỉ.
Liên cầm tay em không đáp. Chuyến tàu đêm nay không đông như mọi khi, thưa vắng người và
hình khư kém sáng hơn. Nhưng họ ở Hà Nội về! Liên lặng theo mơ tưởng. Hà Nội xa xăm, Hà Nội
sáng rực vui vẻ và huyên náo. Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua. Một thế giới khác
hẳn đối với Liên, khác hẳn cái vầng sáng ngọn đèn của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu. Đêm tối vẫn
bao bọc chung quanh, đêm của đất quê, và ngoài kia, đồng ruộng mênh mang và yên lặng.
- Thôi đi ngủ đi chị.
Liên vỗ vai em ngồi xuống chỏng. An cũng ngồi xuống và ngả đầu vào vai Liên. Tiếng vang
động của xe hỏa đã nhỏ dần, và mất dần trong bóng tối, lắng tai cũng không nghe thấy nữa. Sao trên
trời vẫn lấp lánh. Cả phố huyện bây giờ mới thật là hết náo động, chỉ còn đêm khuya, tiếng trống cầm
canh và tiếng chó cắn. Từ phía ga, bóng đêm lồng với bóng người đi về; chị Tí đương sửa soạn đồ đạc
và bác Siêu đã gánh hàng đi vào trong làng, còn vợ chồng bác xẩm ngủ gục trên manh chiếu tự bao
giờ.
Liên quay lại nhìn em thấy An cũng đã ngủ say, tay nắm chặt tà áo c
ÔN TẬP KIỂM TRA GIỮA KÌ I – NĂM HỌC 2024 -2025
MÔN NGỮ VĂN LỚP 11
I. KHUNG MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA ĐỊNH KÌ MÔN NGỮ VĂN LỚP 11
TT
Kĩ năng
1
Đọc
3
Viêt
Nội dung/đơn vi kĩ
năng
Mức độ nhận thức
Nhận biêt
Thông hiểu
Vận dung
Tổng
% điểm
Truyện
ngắn/Truyện
ngắn hiện đại
Thơ trữ tình.
2
(15%)
3
(30%)
1
(15%)
60
Viết văn bản nghị luận
về một đoạn trích/ tác
phẩm truyện
Viết văn bản nghị luận
về một tác phẩm thơ
Tỉ lệ điểm từng loại câu hỏi
1*
(5%)
1*
(20%)
1*
(15%)
40
20%
50%
30%
Tổng % điểm
70%
30%
100%
II. BẢNG ĐẶC TẢ ĐỀ KIỂM TRA ĐỊNH KÌ MÔN NGỮ VĂN LỚP 11
Kĩ
TT
năng
1
Đọc
hiểu
Đơn vi
kiên
Mức độ đánh giá
thức/Kĩ
năng
Truyện
Nhận biêt:
ngắn/Truyệ
- Nhận biết được chi tiết, đề tài, câu chuyện,
n ngắn hiện sự kiện, nhân vật và mối quan hệ của chúng
đại
trong tính chỉnh thể của tác phẩm.
- Nhận biết được một số yếu tố của truyện
ngắn hiện đại như: không gian, thời gian,
câu chuyện, nhân vật, người kể chuyện ngôi
thứ 3 (người kể chuyện toàn tri) và người kể
chuyện ngôi thứ nhất (người kể chuyện hạn
tri), sự thay đổi điểm nhìn, sự kết nối giữa
lời người kể chuyện, lời nhân vật…
- Chỉ ra được những biện pháp tu từ được sử
dụng trong văn bản.
- Nhận biết được một số yếu tố của truyện
ngắn hiện đại như: ngôn ngữ, diễn biến tâm
lí, hành động của nhân vật,…
Thông hiểu:
- Phân tích được các chi tiết, đề tài, câu
Số câu hỏi theo mức độ
nhận thức
Nhận
Thông Vận
biết
hiểu
dụng
Theo như ma trận ở trên
chuyện, sự kiện, nhân vật và mối quan hệ
của chúng trong tính chỉnh thể của tác
phẩm; đánh giá được vai trò của những chi
tiết quan trọng trong việc thể hiện nội dung
văn vản.
- Phân tích và đánh giá được chủ đề, tư
tưởng, thông điệp mà văn bản muốn gửi đến
người đọc thông qua hình thức nghệ thuật
của văn bản; phân tích được sự phù hợp
giữa chủ đề, tư tưởng và cảm hứng chủ đạo
trong văn bản
- Phân tích, đánh giá được giá trị nhận thức,
giáo dục và thẩm mĩ của tác phẩm; phát
hiện được các giá trị văn hoá, triết lí nhân
sinh từ văn bản.
- Nhận biết được một số đặc điểm cơ bản
của phong cách cổ điển, hiện thực, lãng mạn
qua các tác phẩm văn học tiêu biểu đã học.
- Phân tích và đánh giá được sự phù hợp của
người kể chuyện, điểm nhìn trong việc thể
hiện chủ đề của văn bản.
- Phân tích được một số yếu tố của truyện
ngắn hiện đại như: không gian, thời gian,
câu chuyện, nhận vật, người kể chuyện ngôi
thứ 3 (người kể chuyện toàn tri) và người kể
chuyện ngôi thứ nhất (người kể chuyện hạn
tri), sự thay đổi điểm nhìn, sự kết nối giữa
lời người kể chuyện, lời nhân vật…
Vận dung:
- Phân tích và đánh giá được y nghĩa hay tác
đọng của tác phẩm văn học đối vơi người đọc
và tiến bọ xã họi.
- Vạn dụng được kinh nghiẹm đọc, trải
nghiẹm về cuọc sống và kiến thức văn học để
đánh giá, phê bình văn bản văn học, thể hiẹn
được cảm xúc, suy nghĩ của cá nhân về văn
bản văn học.
- Biết đạt tác phẩm trong bối cảnh sáng tác và
bối cảnh hiẹn tại để co đánh giá phù hợp.
- So sánh được hai văn bản văn học viết cùng
đề tài ở các giai đoạn khác nhau; liên tưởng,
mở rọng vấn đề để hiểu sâu hơn văn bản
được đọc.
Thơ trữ
tình
Nhận biêt:
- Nhạn biết được các chi tiết, đề tài, nhân vạt
trữ tình, nhan đề, lời đề từ và mối quan hẹ của
chúng trong tính chỉnh thể của tác phẩm.
- Nhạn biết được mọt số yếu tố trong thơ như:
thể thơ, từ ngữ, hình ảnh, biẹn pháp tu từ, vân,
nhịp, đối,...
- Nhạn biết được mọt số yếu tố của thơ trữ tình
hiẹn đại như: ngôn ngữ, hình tượng, biểu
tượng, yếu tố tượng trưng, siêu thực trong
thơ,...
- Nhạn biết được chủ thể trữ tình.
- Nhạn biết được tình cảm, cảm xúc của người
viết thể hiẹn qua văn bản.
Thông hiểu:
- Phân tích được các chi tiết, đề tài, nhân vạt
trữ tình, nhan đề, lời đề từ và mối quan hẹ của
chúng trong tính chỉnh thể của tác phẩm.
- Phân tích và đánh giá được chủ đề, tư tưởng,
thông điẹp mà văn bản muốn gửi đến người
đọc thông qua hình thức nghẹ thuạt của văn
bản; phân tích sự phù hợp giữa chủ đề, tư
tưởng và cảm hứng chủ đạo trong văn bản.
- Phân tích và đánh giá được giá trị nhạn
thức, giáo dục và thẩm mĩ của tác phẩm; phát
hiẹn được các giá trị văn hoá, triết lí nhân
sinh từ văn bản.
- Nhạn biết được mọt số đạc điểm cơ bản của
phong cách cổ điển, hiẹn thực và lãng mạn
qua các tác phẩm văn học tiêu biểu đã học.
- Phân tích và đánh giá được mọt số yếu tố
trong thơ như: thể thơ, từ ngữ, hình ảnh, biẹn
pháp tu từ, vân, nhịp, đối,...
- Phân tích được mọt số yếu tố của thơ trữ
tình hiẹn đại như: ngôn ngữ, hình tượng, biểu
tượng, yếu tố tượng trưng, siêu thực trong
thơ,...
- Phân tích được chủ thể trữ tình.
- Phân tích và đánh giá được tình cảm, cảm
xúc, cảm hứng chủ đạo của người viết thể
hiẹn qua văn bản.
Vận dung:
- Phân tích và đánh giá được y nghĩa hay tác
đọng của tác phẩm văn học đối vơi người đọc
và tiến bọ xã họi.
- Vạn dụng được kinh nghiẹm đọc, trải
nghiẹm về cuọc sống và kiến thức văn học để
2
Viêt
đánh giá, phê bình văn bản văn học, thể hiẹn
được cảm xúc, suy nghĩ của cá nhân về văn
bản văn học.
- So sánh được hai văn bản văn học viết cùng
đề tài ở các giai đoạn khác nhau; liên tưởng,
mở rọng vấn đề để hiểu sâu hơn văn bản được
đọc.
Biết đạt tác phẩm trong bối cảnh sáng tác và
bối cảnh hiẹn tại để co đánh giá phù hợp.
Viết văn
Nhận biêt:
bản nghị
- Giơi thiệu được đây đủ thông tin chính về
luận về một tên tác phẩm, tác giả, loại hình nghệ thuật,…
đoạn trích/ của đoạn trích/tác phẩm.
tác phẩm
- Đảm bảo cấu trúc, bố cục của một văn bản
truyện
nghị luận.
Thông hiểu:
- Trình bày được những nội dung khái quát
của tác phẩm truyện.
- Phân tích được những biểu hiện riêng của
loại hình nghệ thuật thể hiện trong tác phẩm.
- Nêu và nhận xét về nội dung, một số nét
nghệ thuật đặc sắc.
- Kết hợp được lí lẽ và dẫn chứng để tạo tính
chặt chẽ, logic của mỗi luận điểm.
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng
Việt.
Vận dung:
- Nêu được những bài học rút ra từ đoạn
trích/tác phẩm.
- Thể hiện được sự đồng tình / không đồng
tình vơi thông điệp của tác giả (thể hiện trong
đoạn trích/ tác phẩm).
- Sử dụng kết hợp các phương thức miêu tả,
biểu cảm, tự sự,…để tăng sức thuyết phục cho
bài viết.
- Vận dụng hiệu quả những kiến thức Tiếng
Việt lơp 11 để tăng tính thuyết phục, sức hấp
dẫn cho bài viết.
Viết văn
Nhận biêt:
bản nghị
- Giơi thiệu được đây đủ thông tin chính về
luận về một tên tác phẩm, tác giả, loại hình nghệ
tác phẩm
thuật,… của bài thơ.
thơ
- Đảm bảo cấu trúc, bố cục của một văn bản
nghị luận.
Thông hiểu:
- Trình bày được những nội dung khái quát
của tác phẩm thơ.
- Phân tích được những biểu hiện riêng của
1*
1*
1*
1 câu
TL
Tỉ lệ %
Tỉ lệ chung
loại hình nghệ thuật thể hiện trong tác
phẩm.
- Nêu và nhận xét về nội dung, một số nét
nghệ thuật đặc sắc.
- Kết hợp được lí lẽ và dẫn chứng để tạo
tính chặt chẽ, logic của mỗi luận điểm.
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng
Việt.
Vận dung:
- Nêu được những bài học rút ra từ đoạn
trích/tác phẩm.
- Thể hiện được sự đồng tình / không đồng
tình vơi thông điệp của tác giả (thể hiện
trong đoạn trích/ tác phẩm).
- Sử dụng kết hợp các phương thức miêu tả,
biểu cảm, tự sự,…để tăng sức thuyết phục
cho bài viết.
- Vận dụng hiệu quả những kiến thức Tiếng
Việt lơp 11 để tăng tính thuyết phục, sức
hấp dẫn cho bài viết.
25%
70%
45%
30%
30%
III. HƯỚNG DẪN VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN MỘT TÁC PHẨM/ĐOẠN TRÍCH THƠ, TRUYỆN.
1. Tác phẩm truyện/ trích đoạn tác phẩm
* Mở bài: Giơi thiệu ngắn gọn về tác phẩm truyện/đoạn trích, nêu khía cạnh trong nghệ thuật của tác
phẩm/ đoạn trích mà bài viết sẽ tập trung làm rõ.
* Thân bài:
- Triển khai bài viết thành các luận điểm tương ứng căn cứ vào việc xác định các yếu tố làm nên tính
nghệ thuật của tác phẩm truyện/đoạn trích.
- Trình tự phân tích:
+ Miêu tả yếu tố đo.
+ Chỉ ra chức năng, vai trò của no.
+ Đánh giá hiệu quả của yếu tố nghệ thuật.
* Kêt bài: Khẳng định giá trị nghệ thuật của tác phẩm/đoạn trích.
2. Tác phẩm thơ/ trích đoạn thơ
* Mở bài: Giơi thiệu chung về bài thơ/trích đoạn thơ và xác định vấn đề sẽ được tập trung bàn luận
trong bài viết.
* Thân bài: Triển khai các y:
- Cảm giác chung mà cấu tứ cùng những hình ảnh và cách diễn tả khác lạ trong bài thơ/trích đoạn thơ
đã gợi cho người đọc.
- Sự khác biệt giữa bài thơ này so vơi các bài thơ khác trên phương diện xây dựng hệ thống hình ảnh
và tạo sự kết nối giữa các bộ phận cấu tạo trong bài thơ/trích đoạn thơ.
- Những khả năng hiểu khác nhau đối vơi một số yếu tố, hình ảnh trong bài thơ/đoạn thơ.
- Điều được làm sáng tỏ qua việc đọc thăm dò và thử nghiệm các cách đọc khác nhau đối vơi bài
thơ/trích đoạn thơ.
- Sự gợi mở về cách nhìn mơi đối vơi thế giơi và con người được đề xuất từ mạch ngâm văn bản bài
thơ/trích đoạn thơ.
* Kêt bài: Khẳng định lại sự độc đáo của bài thơ/trích đoạn thơ và y nghĩa của no đối vơi việc đem
lại cái nhìn, cách đọc mơi cho độc giả.
IV. ĐỀ MINH HỌA KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I – MÔN VĂN LỚP 11
SỞ GD&ĐT ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG THPT THÁI PHIÊN
ĐỀ MINH HỌA KIỂM TRA GIỮA KÌ I
MÔN: NGỮ VĂN 11 - NĂM HỌC: 2024 – 2025
Thời gian làm bài: 90 phút (Không kể thời gian phát đề)
Họ và tên học sinh:……………………...........…… Mã số học sinh:…………………
ĐỀ 01
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
(Lược dẫn: Vợ của nhân vật xưng “tôi” mua một con cho, nhưng no rất xấu xí nên chẳng ai dám
đến gân. Mấy người quen của nhân vật “tôi” định bụng sẽ giết thịt no để làm một châu nhậu, nhưng
rồi giặc đến, mọi người đều phải bỏ làng chạy giặc. Vì vương víu nên gia đình nhân vật “tôi” đành
phải bỏ con cho lại nhà cụ bếp Mom và nhờ cụ nuôi hộ. Trươc khi ra đi, vợ của nhân vật “tôi” đã xích
con cho vào gốc cây để no khỏi chạy theo).
“Ắng!… Ắng! Ắng!…” Tiếng con chó lồng lộn, cuống quít đằng sau bước chân tôi. Nó như gọi
tôi, nó như kêu cứu, như than khóc, oán trách…
Ra khỏi ngõ tôi thoảng nghe tiếng chị vợ cả nói với chồng:
– Vợ chồng nhà ấy họ đi đấy à? Này, họ bỏ lại con chó cậu ạ.
Và tiếng anh chồng dấm dẳn:
– Đến người cũng chả chắc giữ được nữa là con chó!…
Tôi xóc lại cái quai ba lô, bước theo hút cái bóng nhà tôi đang đi xăm xắm xuống đồi.
[…]
Tiếng con chó từ trong nhà cụ bếp Móm đưa ra vẫn nghe rõ mồn một “Ắng!… Ắng! Ắng!…”.
Tiếng con chó da diết, nhọn hoắt xói vào ruột gan tôi. “Thôi để chuyến này về tao nuôi. Tao sẽ nuôi
mày, tao không bỏ mày đâu…”.
Tôi nhủ thầm với tôi một lần nữa như vậy.
(Lược một đoạn: sau khi giặc rút, gia đình nhân vật “tôi” về lại làng, nhưng nhân vật “tôi” đã
quên bẵng con cho).
Một hôm tôi chợt thấy cặp kính trắng lấp loáng của Đặng “cồn” từ đầu ngõ đi vào, bấy giờ tôi
mới giật mình, sực nhớ đến con chó. Tôi quay lại hỏi nhà tôi:
– À, mình này! Con chó nhà ta đâu nhỉ? Mình chưa vào trong cụ bếp dắt nó về à?
Nhà tôi đứng ngẩn ra một lúc. Có lẽ nhà tôi cũng không ngờ rằng tôi đã về bằng ấy ngày giời rồi
vẫn không nói chuyện con chó ấy với tôi.
– Nó chết rồi!… – Nhà tôi nói khe khẽ.
– Chết rồi? Làm sao mà chết được?…
Tôi trố mắt lên hỏi lại. Nhà tôi cúi mặt xuống, thở dài:
– Nó chết thương lắm cơ mình ạ. Không phải nó chết trong cụ bếp Móm đâu. Nó về nhà ta nó
chết đấy.
Nhà tôi ngừng lại, cắn môi chớp chớp hai mắt nhìn ra ngoài sân. Lát sau, nhà tôi đứng dậy mời
Đặng vào trong nhà, rót nước mời anh rồi mới tiếp tục câu chuyện.
Chao ôi! Con chó xấu xí ấy của tôi! Con chó từ lúc mua, đến lúc chết không được một lần vuốt
ve! Nó đã chết một cách thảm thương và trung hậu quá. Từ hôm vợ chồng tôi gửi lại nó cho ông cụ
bếp Móm, con chó không chịu ăn uống gì. Nó chỉ kêu. Nó kêu suốt ngày, suốt đêm. Một đêm, ông cụ
bếp không thấy con chó kêu nữa, thì ra nó đã xổng xích đi đâu mất rồi.
Hôm nghe tin giặc rút, ở trong khe đồn Khau Vắt dọn về, nhà tôi tạt vào nhà cụ bếp Móm định
đem con chó về nhân thể, nhưng vào đến nơi thì nó không còn đấy nữa. Lúc ấy nhà tôi cũng yên trí là
con chó mất rồi. Chắc chắn nó sẽ lạc vào một trại ấp nào đấy và người ta làm thịt nó.
Nhưng khi nhà tôi về đến nhà, bà con xóm giềng vừa chạy sang láo nháo thăm hỏi thì, ở ngoài
vườn sau, có mấy tiếng chó hú lên thảm thương và ghê rợn.
Từ sau bụi dứa rậm rạp, con chó khốn khổ ấy lảo đảo đi ra. Người nó run lên bần bật. Nó gầy
quá, chỉ còn một dúm xương da xộc xệch, rụng hết lông. Nó đói quá, đi không vững nữa. Nó đi ngã
dụi bên này, dụi bên kia. Rồi nó không còn đủ sức mà đi nữa. Nó nằm bệt trên đất, rúm người lại, lết
lết về phía nhà tôi. Lúc ấy cả người nó chỉ còn có cái đuôi là còn ngó ngoáy được để mừng chủ và
cái lưỡi liếm liếm vào tay chủ. Khốn nạn con chó! Được gặp chủ nó mừng quá. Từ trong hai con mắt
đờ đẫn của nó mấy giọt nước chảy ra. Lát sau thì nó không liếm được nữa, cái đuôi ngoáy yếu dần,
yếu dần rồi im hẳn. Nó chết.
Tôi tối sầm mặt lại, vừa thương xót con chó, vừa thấy xấu hổ. Quả thật tôi chỉ là một thằng tồi.
Một thằng ích kỷ. Tôi chỉ nghĩ đến mình và vợ con mình. Đến như con chó mình nuôi, mình đối xử với
nó có được như cái tình nghĩa của nó đối xử với mình đâu?
[…]
(Trích Con chó xấu xí, Kim Lân, Tuyển tập Kim Lân, NXB Văn học)
Trả lời câu hỏi:
Câu 1. Ngôi kể nào được sử dụng trong đoạn trích? (0,75 điểm)
Câu 2. Trích đoạn tác phẩm trên chủ yếu được kể từ điểm nhìn của nhân vật nào? (0,75 điểm)
Câu 3. Hình tượng “con cho xấu xí” là biểu tượng cho điều gì? (1,0 điểm)
Câu 4. Câu hỏi tu từ được sử dụng trong đoạn trích: Tôi tối sầm mặt lại, vừa thương xót con chó,
vừa thấy xấu hổ. Quả thật tôi chỉ là một thằng tồi. Một thằng ích kỷ. Tôi chỉ nghĩ đến mình và vợ
con mình. Đến như con chó mình nuôi, mình đối xử với nó có được như cái tình nghĩa của nó đối
xử với mình đâu co tác dụng gì? (1,0 điểm)
Câu 5. Theo anh/chị, truyẹn ngắn Con chó xấu xí của Kim Lân được viết theo phong cách sáng
tác nào? Dựa vào đâu để anh/chị khẳng định như vậy? (1,0 điểm)
Câu 6. Anh/chị rút ra được bài học gì cho bản thân sau khi đọc đoạn trích trên? (Trình bày từ 5 –
7 câu) (1,5 điểm)
II. VIẾT (4.0 điểm)
Viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích những đặc điểm trong cách kể của
Kim Lân ở trích đoạn tác phẩm Con chó xấu xí được dẫn ở phân Đọc hiểu.
ĐỀ 02
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
Tôi không thích khi cưỡi xe vào tận thềm nhà lại phải rạp mình dưới giàn bầu ấy. Chị và
mẹ tôi lại ngại tóc rối. Cha tôi khó chịu khi phải dắt quan khách len lỏi bên mấy trái bầu để vào căn
nhà sang trọng […]. Bữa canh đầu tiên cả nhà háo hức, nuốt tuồn tuột từng miếng bầu trong veo,
ngọt lịm […]. Một lần, hai lần rồi ba lần, chúng tôi ngán tận cổ. Mà, chết thật, nội tôi cứ trồng mãi,
trồng mãi, giàn bầu ngày càng rộng ra choán hết khoảng sân kiểng của cha xanh rầm rì […]. Chị
Lan nhăn nhó:
- Nội ơi, trồng chi nhiều vậy?
Bà nội cười, buồn buồn.
- Nội làm lặt vặt quen rồi. Trồng trọt để đỡ nhớ quê.
[…] Ba tôi nói “làm người đừng suy nghĩ hẹp hòi, đừng tưởng nơi mình sinh ra, nơi có mồ
mả ông cha là quê hương, khắp đất nước này chỗ nào cũng là quê cả”. Cha tôi nói đúng và ông rước
bà nội lên thành phố. […]. Ở nhà tôi, công việc nhàn đến mức bà thơ thẩn vào rồi lại thơ thẩn ra
[…]. Bà làm nhiều thứ bánh lắm, không kể hết được, nào là bánh ngọt, bánh ú....toàn là bánh nhà
quê. […]. Mùa này nhiều trái bầu khô, nội hái vào móc ruột ra, lấy cái vỏ mằn mì gọt. Lâu lâu nội
đưa lên nhìn, nheo nheo mắt. Tôi hỏi, nội gọt gì. Nội cười, đưa cho tôi mảnh vỏ dầy hình trái tim nhỏ
xíu.
- Mặt dây chuyền cho tụi nhỏ đeo.
Tôi không nén được xuỳ một tiếng.
- Thời này ai đeo mấy thứ này, nội làm chỉ mất công.
Trong đôi mắt đùng đục của bà, tôi thấy có một nỗi buồn sâu kín. Con chị bếp dưới quê lên,
bà gói dúi vào tay nó mấy mảnh bầu. Con nhỏ hớn hở, vui thiệt là vui. Cũng niềm vui ấy, con bé bán
vé số lỏn lẻn cười “Bà đẽo đẹp ghê ha”. Hôm sau tôi thấy nó xúng xính xỏ cọng chỉ vào, đeo tòn ten
trước cổ lạ lắm. Hình như tôi ngắm vàng ròng, cẩm thạch quen rồi. Tôi xin, bà móm mém cười “Bà
để dành cho bay cái đẹp nhất nè”.
Tôi gói trái tim xíu xíu kia bỏ vào ngăn tủ, chị Lan trông thấy giành “cho chị đi”. Tôi lắc
đầu. Chị giận bảo “chị cóc cần, ở chợ bán hàng khối”. Nhưng rồi chị quay về nài nỉ tôi. Lần đầu tiền,
tôi thấy món quà của nội dễ thương đến thế.
Giàn bầu vẫn trước ngõ. Cha tôi đã thôi khó chịu, hay bực dọc riết rồi chai đi, chẳng biết
bực là gì nữa. Nhưng khách đến nhà, ai cũng khen “anh ba có giàn bầu đẹp thiệt”. Họ săm soi, từng
mảng lá cuống hoa. Khách nước ngoài còn kề má bên trái bầu xanh lún phún lông tơ mà chụp hình
kỷ niệm. Mấy anh chị sinh viên đạp xe ngang dừng lại nhìn đau đáu qua rào rồi kháo nhau “Nhớ nhà
quá, tụi mày ơi” […]. Ông chủ tịch đến chơi nhà […]. Cha tôi sai chị bếp mang rượu thịt ra ông chủ
tịch khoát tay:
- Thôi, chú bảo chị ấy nấu canh bầu ăn.
[…] Hôm ấy cả nhà tôi ăn lại bát canh ngày xưa, nghe ngọt lìm lịm lưỡi. Chị bếp ngó nội,
khoái chí cười đầy hàm ý. Hình như nội tôi vui.
[…]Bà nội lẩn thơ lẩn thẩn rồi, mà hình như bà chỉ nhớ về quá khứ. Nội hay ra ngoài hiên,
chăm chăm nhìn giàn bầu đang run rẩy trong gió. Bà ngồi đấy lặng lẽ, thẫn thờ, như chờ một tiếng
vạc sành, một tiếng ếch kêu. Tay bà lạnh ngắt, tôi chạy vào phòng lấy lọ dầu thoa, vẫn thấy mảnh
bầu trái tim màu vàng trong ngăn kéo, cái màu vàng như của rạ, của lúa, như của mái nhà lá nhỏ lơ
phơ dưới nắng chiều. Giàn bầu vẫn trước ngõ, có kẻ đi qua kêu lên, “tôi nhớ nhà”. Cha tôi bảo: “có
thể bứt người ta ra khỏi quê hương nhưng không thể tách quê hương ra khỏi trái tim con người”. Và
cha tôi lại nói đúng.
(Trích Giàn bầu trước ngõ1, Nguyễn Ngọc Tư2, in trong Xa xóm mũi, NXB Kim Đồng, 2015, tr.13-15)
Chú thích:
(1) Giàn bầu trước ngõ là một trong những truyện ngắn đặc sắc của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư khi viết về những
điều gân gũi, thân thuộc trong cuộc sống. Truyện xoay quanh câu chuyện về nỗi nhơ, tình yêu quê hương của nhân
vật, qua đo gợi lên cho người đọc những đồng cảm sâu sắc.
(2) Nguyễn Ngọc Tư là nữ nhà văn trẻ của Hội nhà văn Việt Nam. Tác phẩm của chị khắc họa chân thực những
tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của tâng lơp lao động nghèo đồng bằng, của những con người chân chất hồn hậu.
Giọng văn của Nguyễn Ngọc Tư đậm chất Nam bộ, giọng kể mềm mại, ngôn ngữ đời thường gân gũi, giản dị mà
thấm đẫm cái tình của làng, của đất, của hồn quê Việt Nam.
Trả lời câu hỏi:
Câu 1. Đoạn trích trên viết về đề tài gì? (0,75 điểm)
Câu 2. Sau khi lên thành phố, bà cụ đã làm những gì để vơi bơt đi nỗi nhơ quê? (0,75 điểm)
Câu 3. Hình ảnh giàn bâu trong trích đoạn tác phẩm biểu tượng cho điều gì? (1,0 điểm)
Câu 4. Biện pháp liệt kê được sử dụng trong chi tiết: Bà làm nhiều thứ bánh lắm, không kể hết
được, nào là bánh ngọt, bánh ú....toàn là bánh nhà quê co tác dụng gì? (1,0 điểm)
Câu 5. Diễn biến cảm xúc của nhân vật tôi thế nào trươc mon quà là mảnh bâu hình trái tim của
bà nội? (1,0 điểm)
Câu 6. Từ nội dung đoạn trích, anh/chị co đồng tình vơi y kiến có thể bứt người ta ra khỏi quê
hương nhưng không thể tách quê hương ra khỏi trái tim con người không? Vì sao? (Trả lời bằng
5-7 câu). (1,5 điểm)
II. LÀM VĂN (4.0 điểm)
Viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích những đặc điểm trong cách kể
của Nguyễn Ngọc Tư ở trích đoạn tác phẩm Giàn bầu trước ngõ được dẫn ở phân Đọc hiểu.
ĐỀ 03
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
(…) An và Liên đã buồn ngủ ríu cả mắt. Tuy vậy hai chị em vẫn cố gượng để thức khuya chút
nữa, trước khi vào hàng đóng cửa đi ngủ. Mẹ vẫn dặn phải thức đến khi tàu xuống - Ðường sắt đi
ngang qua ngay trước mặt phố - để bán hàng, may ra còn có một vài người mua. Nhưng cũng như mọi
đêm, Liên không trông mong còn ai đến mua nữa. Với lại đêm họ chỉ mua bao diêm, hai gói thuốc là
cùng. Liên và em cố thức là vì cớ khác, vì muốn được nhìn chuyến tàu. Chín giờ có chuyến tàu ở Hà
Nội đi qua huyện. Đó là sự hoạt động cuối cùng của đêm khuya.
An đã nằm xuống gối đầu lên đùi chị, mí mắt sắp sửa rơi xuống, còn dặn với:
- Tàu đến chị đánh thức em dậy nhé.
- Ừ, em cứ ngủ đi.
Liên khẽ quạt cho An, vuốt lại mái tóc tơ. Đầu em bé nặng dần trên người Liên; chị ngồi yên
không động đậy. Qua khe lá của cành bàng ngàn sao vẫn lấp lánh; một con đom đóm bám vào dưới
mặt lá, vùng sáng nhỏ xanh nhấp nháy rồi hoa bàng rụng xuống vai Liên khe khẽ, thỉnh thoảng từng
loạt một. Tâm hồn Liên yên tĩnh hẳn, có những cảm giác mơ hồ không hiểu.
Trống cầm canh[10] ở huyện đánh tung lên một tiếng ngắn, khô khan, không vang động ra xa,
rồi chìm ngay vào bóng tối. Người vắng mãi, trên hàng ghế chị Tí mới có hai ba bác phu ngồi uống
nước và hút thuốc lào. Nhưng một lát từ phố huyện đi ra, hai ba người cầm đèn lồng lung lay các bóng
dài: mấy người làm công ở hiệu khách đi đón bà chủ ở tỉnh về. Bác Siêu nghển cổ nhìn ra phía ga, lên
tiếng:
- Đèn ghi đã ra kia rồi.
Liên cũng trông thấy ngọn lửa xanh biếc, sát mặt đất, như ma trơi. Rồi tiếng còi xe lửa ở đâu vang lại,
trong đêm khuya kéo dài ra theo gió xa xôi. Liên đánh thức em:
- Dậy đi, An. Tàu đến rồi.
An nhỏm dậy, lấy tay dụi mắt cho tỉnh hẳn. Hai chị em nghe thấy tiếng dồn dập, tiếng xe rít
mạnh vào ghi. Một làn khói bừng sáng trắng lên đằng xa, tiếp đến tiếng hành khách ồn ào khe khẽ.
Mấy năm nay buôn bán kém nên người lên xuống ít, có khi hai chị em đợi chờ chẳng thấy ai. Trước kia,
ở sân ga, có mấy hàng cơm mở đón khách, đèn sáng cho đến nửa đêm. Nhưng bây giờ họ đóng cửa cả
rồi, cũng im lặng tối đen như ngoài phố.
Hai chị em chờ không lâu. Tiếng còi đã rít lên, và tàu rầm rộ đi tới. Liên dắt em đứng dậy để
nhìn đoàn xe vụt qua, các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường. Liên chỉ thoáng trông thấy
những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng. Rồi
chiếc tàu đi vào đêm tối, để lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt. Hai chị em còn nhìn theo
cái chấm đỏ của chiếc đèn xanh trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre.
- Tàu hôm nay không đông nhỉ, chị nhỉ.
Liên cầm tay em không đáp. Chuyến tàu đêm nay không đông như mọi khi, thưa vắng người và
hình khư kém sáng hơn. Nhưng họ ở Hà Nội về! Liên lặng theo mơ tưởng. Hà Nội xa xăm, Hà Nội
sáng rực vui vẻ và huyên náo. Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua. Một thế giới khác
hẳn đối với Liên, khác hẳn cái vầng sáng ngọn đèn của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu. Đêm tối vẫn
bao bọc chung quanh, đêm của đất quê, và ngoài kia, đồng ruộng mênh mang và yên lặng.
- Thôi đi ngủ đi chị.
Liên vỗ vai em ngồi xuống chỏng. An cũng ngồi xuống và ngả đầu vào vai Liên. Tiếng vang
động của xe hỏa đã nhỏ dần, và mất dần trong bóng tối, lắng tai cũng không nghe thấy nữa. Sao trên
trời vẫn lấp lánh. Cả phố huyện bây giờ mới thật là hết náo động, chỉ còn đêm khuya, tiếng trống cầm
canh và tiếng chó cắn. Từ phía ga, bóng đêm lồng với bóng người đi về; chị Tí đương sửa soạn đồ đạc
và bác Siêu đã gánh hàng đi vào trong làng, còn vợ chồng bác xẩm ngủ gục trên manh chiếu tự bao
giờ.
Liên quay lại nhìn em thấy An cũng đã ngủ say, tay nắm chặt tà áo c
 









Các ý kiến mới nhất