Violet
Dethi

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Đề cương ôn thi TN THPT Ngữ văn 12

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: https://tuyensinhso.vn/tin-moi/tai-lieu-tong-hop-ly-thuyet-va-bai-tap-on-thi-ngu-van-tot-nghiep-thpt-2025-c402667.html
Người gửi: Bùi Thị Phương Thảo
Ngày gửi: 14h:14' 24-02-2026
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Tài liệu ôn tập văn 12
CHUYÊN ĐỀ ĐỌC HIỂU TRUYỆN VÀ TÌM HIỂU KIỂU BÀI VĂN LIÊN QUAN ĐẾN
TRUYỆN.
I.Lý thuyết về truyện
1. Khái niệm: Truyện là thể loại văn học có phương thức trình bày một chuỗi sự việc, từ sự việc
này đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý nghĩa
2. Phân loại
Truyện có các tiểu loại như:
+ Truyện dân gian (thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, ngụ ngôn, sử thi, truyện thơ,…)
+ Truyện truyền kì, truyện thơ Nôm
+ Truyện ngắn hiện đại/ hậu hiện đại, tiểu thuyết
+ ………………………………………………….
3. Đặc điểm của truyện là tính hư cấu, tưởng tượng thể hiện qua những yếu tố cụ thể sau
- Cốt truyện: gồm các sự kiện chính được sắp xếp theo một trật tự nhất định; có mở đầu, diễn
biến và kết thúc
- Sự kiện: Là những sự việc có tính chất bước ngoặt, tạo ra thay đổi nào đó đối với nhân vật.
- Chi tiết: Chi tiết là những sự việc nhỏ trong văn bản nhưng có sức chứa lớn về cảm xúc và tư
tưởng
- Tình huống truyện: Tình huống truyện là sự kiện, là hoàn cảnh, tình thế đặc biệt của câu
chuyện. Đó là tình huống chứa đựng những mâu thuẫn, những điều “bất thường” éo le, nghịch lý
trong cuộc sống thường ngày của nhân vật
- Nhân vật : Là hình tượng con người hoặc đối tượng được mô tả trong tác phẩm văn học. Nhân
vật được thể hiện qua các chi tiết miêu tả chân dung, ngoại hình, hành động, tâm trạng.
- Bối cảnh: Không gian, thời gian
- Điểm nhìn: Điểm nhìn là vị trí, chỗ đứng để xem xét, miêu tả, bình giá sự vật, hiện tượng trong
tác phẩm.
+ Phân loại:
. Điểm nhìn của người kể chuyện và điểm nhìn của nhân vật được kể
. Điểm nhìn bên ngoài và bên trong, điểm nhìn không gian (xa, gần), điểm nhìn di động (từ đối
tượng này sang đối tượng khác), điểm nhìn thời gian (quá khứ, hiện tại, tương lai), điểm
nhìn luân phiên (trong, ngoài).
. Điểm nhìn mang tính tâm lí, tư tưởng, gắn liền với vai kể của người kể chuyện hoặc hoàn cảnh,
trải nghiệm của nhân vật

1

Tài liệu ôn tập văn 12
- Giọng điệu: là thái độ, tình cảm, lập trường, tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng
được miêu tả thể hiện trong lời văn, quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm,
cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm…
- Lời văn trần thuật: là việc giới thiệu, khái quát hóa, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự
kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của một người trần thuật nhất định.
Trong văn bản tự sự có ngôn ngữ người kể chuyện (trần thuật), ngôn ngữ nhân vật; có lời đối
thoại, độc thoại nội tâm; người kể chuyện có thể kể bằng lời khách quan “bên ngoài”, hay kể
bằng “tiếng nói bên trong”, bằng lời nhập vai
+Lời người kể chuyện: là phần lời người kể dùng để thuật lại một sự việc cụ thể hay giới thiệu,
miêu tả khung cảnh, cách nhìn, thái độ, đánh giá đối với sự việc, nhân vật
Đặc điểm: Lời người kể chuyện gắn với ngôi kể, điểm nhìn, ý thức và giọng điệu của người kể
chuyện. Chức năng của nó là miêu tả, trần thuật, đưa ra những phán đoán, đánh giá đối với đối
tượng được miêu tả, trần thuật cũng như định hướng việc hình dung, theo dõi mạch kể của người
đọc.
+ Lời nhân vật: là lời nói của nhân vật trong các tác phẩm ,là ngôn ngữ độc thoại hay đối thoại
gắn với ý thức, quan điểm, giọng điệu của chính nhân vật
Đặc điểm : Lời nhân vật là phương tiện bộc lộ ý nghĩ, tâm trạng, cá tính của nhân vật trong tình
huống cụ thể, góp phần thể hiện phẩm chất, tính cách nhân vật. Lời nhân vật là ngôn ngữ độc
thoại hay đối thoại gắn với ý thức, quan điểm, giọng điệu của chính nhân vật.
-Ngôi kể: là vị trí giao tiếp mà người kể sử dụng khi kể chuyện.
Phân loại: có 2 ngôi kể chủ yếu là ngôi kể thứ nhất và thứ 3
. Ngôi kể thứ nhất: là người kể xưng “tôi” hoặc một hình thức tự xưng tương đương, kể về
những gì mình chứng kiến hoặc tham gia.
. Ngôi kể thứ nhất có thể là nhân vật chính, nhân vật phụ, người chứng kiến kể lại câu chuyện
được nghe từ người khác hay xuất hiện với vai trò tác giả lộ diện. Ngôi kể thứ nhất thường không
biết hết mọi chuyện.
. Ngôi kể thứ 3: là người kể chuyện ẩn danh, không trực tiếp xuất hiện trong tác phẩm như một
nhân vật, không tham gia vào mạch vận động của cốt truyện và chỉ được nhận biết qua lời kể
. Kể chuyện ngôi thứ 3 có khả năng nắm bắt tất cả những gì diễn ra trong câu chuyện.
-Các bút pháp nghệ thuật gắn với từng thể loại truyện: bút pháp tả thực, bút pháp tượng
trưng, bút pháp trào lộng- giễu nhại, bút pháp phúng dụ- huyền thoại,…
=> Từ các yếu tố hình thức trên trên để hiểu thông điệp, nội dung, tư tưởng của truyện
II. KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU TRUYỆN TRUYỀN KÌ, TRUYỆN NGẮN VÀ TIỂU THUYẾT
HIỆN ĐẠI
1. Cách đọc hiểu văn bản truyện truyền kì
- Tìm hiểu và vận dụng đặc điểm thể loại truyện truyền kì và việc đọc hiểu.
- Vận dụng các thông tin về tác phẩm, tác giả cần thiết cho việc đọc hiểu
2

Tài liệu ôn tập văn 12
- Đọc kĩ văn bản, nhận diện cốt truyện, đề tài, sự kiện, nhân vật và các yếu tố kì ảo
- Phân tích đề tài, cốt truyện, nhân vật, yếu tố kì ảo ... kết hợp với thông tin bên ngoài văn bản, từ
đó suy đoán ý nghĩa của văn bản truyện truyền kì.
- Liên hệ những vấn đề đặt ra trong truyện truyền kì với đời sống xã hội hiện tại để thấy giá trị
nội dung của tác phẩm và bài học cần rút ra cho bản thân.
2. Cách đọc hiểu văn bản truyện ngắn và tiểu thuyết hiện đại
- Tìm hiểu bối cảnh xã hội, hoàn cảnh sáng tác để có cơ sở cảm nhận các tầng/lớp nội dung và ý
nghĩa của truyện.
- Phân tích diễn biến của cốt truyện qua các phần mở đầu, vận động, kết thúc, với các tình tiết,
biến cố cụ thể. Làm rõ giá trị của các yếu tố đó trong việc phản ánh hiện thực cuộc sống và khắc
họa tính cách nhân vật. Cần chú ý đến nghệ thuật tự sự: người kể chuyện ở ngôi thứ nhất hay ngôi
thứ ba; điểm nhìn trần thuật; cách sắp xếp sự kiện; thủ pháp kể, miêu tả; giọng điệu lời văn, ...
- Phân tích các nhân vật trong dòng lưu chuyển của cốt truyện. Tập hợp thành hệ thống và làm rõ
ý nghĩa của các chi tiết miêu tả nhân vật về ngoại hình, hành động, nội tâm, ngôn ngữ. Tìm hiểu
mối quan hệ giữa nhân vật này với nhân vật khác, giữa nhân vật với hoàn cảnh xung quanh. Chú
ý đến nghệ thuật xây dựng nhân vật: sử dụng chi tiết, tạo tình huống để khám phá bản chất nhân
vật; cách miêu tả ngoại hình, hành động, nội tâm...
- Suy đoán về chủ đề, ý nghĩa tư tưởng của truyện. Có thể xác định giá trị của truyện ở các
phương diện: nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ.
- Từ văn bản, liên hệ với bản thân và cuộc sống xung quanh để thấy ý nghĩa của nó đối với cuộc
sống, con người.
III. BÀI TẬP ĐỌC HIỂU TRUYỆN VÀ VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN TRUYỆN
Đề số 1
Đọc văn bản sau:
MÒ SÂM PANH (NAM CAO)
Chú bếp Tư rất thận trọng về vấn đề giữ vệ sinh. Ông thường nói rằng: Khí hậu ở đây
chẳng được lành; những người chưa quen với thủy thổ miền nhiệt đới, đến đây mà chẳng biết giữ
thân, khó khỏi chết vì nguy hiểm ấy truyền nhiễm phần nhiều do nước bẩn. Bởi vậy nước ăn của
ông phải coi giữ như thế nào cho thật sạch. Cái bể nước của ông, ông coi quý gần bằng vợ ông.
Mà có lẽ còn quý hơn vợ ông nữa. Bởi vì vợ ông ông có thể để người khác bắt tay, chứ bể nước
mà đứa nào dám nhúng tay bẩn hay cái "sô" bẩn vào thì cứ liệu cái thần hồn với ông.

3

Tài liệu ôn tập văn 12
Ở nhà chủ, bếp Tư thích nhất cái bể nước ăn này. Nó to bằng cả một căn nhà rộng, nước
mưa ở trên các mái nhà theo hai cái ống máng mà trút xuống. Mặt bể bưng kín mít, trừ một máng
vuông, mỗi bể chừng
một thước, có nắp kín như nắp cống. Những ngày nghỉ vợ chồng ông chủ về Hà nội, thằng Tề con
bác bếp vẫn đậy nắp bể cho thật kín rồi trèo lên mặt bể, co một chân lên bắt chước Lã Bố đi bài
tẩu hoặc nhảy huỳnh huỵch để bắt chước Võ Tòng sát tẩu. Cái mặt bể toàn xi măng cốt sắt, bốn
mươi thằng Tề nhảy cũng không việc gì.
Tề là con một bác Tư. Mẹ nó chết mới xong tang. Bố nó tính hiền lành nên rất yêu con.
Chẳng như những bồi bếp khác, nay vợ này, mai vợ khác, hoặc nhân tình nhân ngãi với bọn cô
đầu, nhà thổ. Vợ chết quá ba năm rồi mà nghĩ đến lúc nào bác ta vẫn còn thương. Có khi đang
ngồi bác tự nhiên khóc hu hu. Hỏi bác thì bác bảo: cũng ngày này năm nọ, bác xin được phép
chủ về quê ra đón vợ ra ở đây luôn với bác, thế mà bây giờ vợ bác đã nỡ bỏ bác mà đi cho đành!
Chẳng ngày rằm, mùng một nào bác không thắp hương cúng vợ. Cúng xong bác rơm rớm nước
mắt, thở dài thở ngắn. Tề thấy thế cũng thương cha vô cùng.
Chỉ thương xuông cũng không thể gọi là thương. Cái lối thương để bụng vô ích lắm. Phải
tìm cách tỏ lòng thương ra ngoài mới được. Nghĩa là phải kính mến nghe lời, giúp đỡ. Thầy giáo
Tề bảo thế. Cũng vừa mới bảo lúc nãy thôi, khi giảng nghĩa bài luân lý. Bởi vậy, cắp sách về đến
nhà trông thấy bố, Tề nhớ lại. Và Tề có ý nhìn xem bố làm gì. Làm gì? Bác Tư đang vắt cái bụng
lên thành bể, hai chân đeo lủng lẳng ở bên ngoài, phần trên người đang buông thõng xuống ở
bên trong. Không có lý bác gội đầu bằng cách ấy. Tề im im đứng đợi... Bỗng hai cái chân tụt
xuống, bác bếp Tư rút đầu ra. Và bác giật mình đánh thót. Ấy là bác thoáng trông thấy có người
đứng cạnh mà không biết người ấy là Tề. Tề mỉm cười, khẽ hỏi.
Bác Tư ấp úng một lát rồi mới nói ra lời được.
- À! Mày... mày đấy à!
Bác nhe những cái răng đen lờ lờ ra cười khì khì. Bởi thật thà thì trống ngực bác ta còn
đập. Bác mới hơi định thần.
Tề hối hận vì đã làm cho cha hoảng sợ. Nó nhìn cha, ái ngại. Cha nó bảo :
- Mẹ nó! Tao đánh rơi chai " sâm banh " vào trong này rồi!
4

Tài liệu ôn tập văn 12
- Thì thầy thử thò tay vào mà quờ xem.
Có được chó người ta đấy! đầu ngón tay mới chỉ hơi nhúng nước.
- Thế làm sao được?
- Vậy mới rầy rà chứ! Lát nữa không có rượu uống thì bỏ cha!
Tề nghĩ ngợi rồi nói nhỏ:
- Hay để con lội vào?
Bác Tư lại nhe răng ra, khì khì:
- Có được chó!
- Được.
- Nhưng ghét mày nó ra, bẩn nước thì có mà vất đi.
- Không, thế này chứ lỵ! Con lấy xà phòng tắm rồi rửa chân thật sạch, rồi mới vào trong
bể.
Thằng oắt này ranh thật. Nó có tài biến báo. Bác Tư nhìn con, ra dáng phục. Nhưng bác
vẫn chưa nhất định. Răng bác vẫn nhe ra để cười một cái cười do dự. Đây là một kẻ nhút nhát
đang bị người ta xui làm liều nhưng Tề đã quyết. Nó chạy tọt vào nhà để cất sách vở và cởi quần,
cởi áo. Một lát sau, nó trần truồng chạy ra.
- Con tắm nhé !
- Nhưng mà thôi, con ạ. Nhỡ bà ấy biết.
Bà ấy là bà chủ. Tề nhìn lên gác, hỏi:
- Bà ấy thức hay ngủ?
- Ngủ, nhưng ngộ bà ấy dậy?...
- Không sợ! Thầy lên đóng cái cửa ở đầu cầu thang lại. Đóng lần ngoài, như vậy bà ấy có
dậy cũng không xuống được. Hễ bà ấy gọi thì con ra , chạy vào nhà, ta đóng cửa lại rồi thầy hãy
lên mở cửa cho bà ấy.
5

Tài liệu ôn tập văn 12
Sau mấy phút do dự nữa, bác Tư đành nghe con vậy. Cái mẹo của nó được đem ra thi
hành.
Tề tắm rửa xong rồi, bác Tư cẩn thận giội cho con thật sạch. Rồi bác nhấc nó lên , từ từ
thả vào trong bể. Thằng bé thấy cái trò ngộ nghĩnh, cười hi hí. Nó nghĩ đến cuộc bơi lặn trong
cái hồ kín như hang này.
- Khéo nhé! sâu lắm đấy !
- Được, con bơi giỏi lắm. Thầy cứ buông.
Tề rơi đánh thóm. Thì bỗng cửa ngoài lịch kịch rồi có tiếng giày tây cồm cộp đi vào.
- Chết rồi ông ấy về!
Bác Tư kêu lên, hoảng hồn. Bởi vì bác sơ ý, mới nghĩ đến việc ngăn bà chủ mà quên ông
chủ. Giờ này tan sở. Bác chưa kịp cài then cửa ngoài, bác giục Tề:
- Ra đi! Ra đi!
Nhưng sao kịp? Ông ấy đã tiến vào đến sân. Bác Tư đứng thẳng người lên. Bác hóa ra
tượng đá. Ông chủ nhận thấy, sinh ngờ vực. Ông nhìn vào mắt bác. Bác thấy chân tay bủn rủn ,
hơi thở gần bị tắc. Giấp luôn mấy tiếng bà chủ ở trên gác gọi :
- Tư! Tư!
- Bà đầm!
- La porte! La porte! (cái cửa! cái cửa!)
Và tay bà đập vào cái cửa kêu thình thịch. Bà vừa đập vừa nói một tràng những tiếng gì
choe choé. Bác Tư không nghe kịp nhưng cũng hiểu thế là bà bắt. Bác cuống quít. Nhất là mắt
ông chủ vẫn trừng trừng nhìn bá, nghiêm khắc và chế nhạo. Ông hất hàm.
Bác Tư cúi đầu bối rối. Ông đoán ngay là bác đang làm một việc gì vụng trộm. Ăn cắp đồ
chẳng hạn. Ông nhìn chung quanh bác. Không có đồ gì cả. Ông nhìn cái cửa buồng của bác.
Cánh cửa buồng hé mở. Ông mỉm cười. Bởi vì ông tưởng đã đoán được cái việc dấu giếm của
người bếp hiền lành ấy. Muốn cuộc gì ông cũng cuộc. Thế chết thế nào cũng có, một con gái
trong cái buồng nhỏ kia. Một cố gái đang luống cuống với những áo quần vắt trên thành giường.
6

Tài liệu ôn tập văn 12
Cái này không phải một tội. Khi vợ người ta chết đã ba năm và mấy tháng!... Nhưng thấy bác bếp
tỏ ra sợ hãi, ông muốn đùa một chút. Ông nói to lên bảo vợ :
- Đợi một tí. Tôi mở cho.
Bà vợ rú lên:
- Ồ! Vậy ra mình đấy ư?
- Ừ, tôi đây! Tôi lên giờ.
Và ông cố chắp nối mấy tiếng thật rõ rệt, cho người bếp hiểu :
- Moi oublier Innettes bureau. Lunette (ông vừa nhắc lại tiếng ấy vừa lấy ngón tay trỏ
chung quanh mắt để vẽ hình cái kính) biếc?
- Uẩy xừ!
- Va chercher (đi tìm).
- Uẩy xừ.
Tuy mồm "uẩy "mà bác Tư vẫn không nhúc nhích. Ông chủ tưởng người bếp của ông
không hiểu, ông lại nói, lại ra hiệu lại. Rồi lại nói:
- Biếc?
Thì có gì mà chả biết? Tiếng tây bác Tư đã thạo.Ông nói thế là muốn bảo: Ông để quên
cái kính ở sở và sai bác đi lấy về. Hiểu lắm, nhưng còn thằng Tề trong cái bể?... Ông chủ giục:
- A lê! Maoo!
Mồm nói, tay ông nắm vai bác mà đẩy ra phía cửa.
- Uẩy xừ!
Bác đậy vội cái nắp bể lại để ông khỏi thấy, rồi chạy đi. Ông nhìn theo mỉm cười. Ông
định cho bác chạy một tua bở hơi tai để ông có thì giờ chạy vào buồng bác. Ông sẽ nắm cổ người
con gái kéo ra. Ông sẽ đeo cái kính của ông vào mắt y, rồi bắt y lên giường ngồi chồm hổm như
một pho tượng khỏa thân bằng đá trắng. Để người bếp của ông lúc giở về trông thấy y mà cười.
Mà chịu rằng ông chủ của bác ma-lanh.
7

Tài liệu ôn tập văn 12
Nhưng ông cụt hứng ngay. Bởi vì buồng bác Tư trống rỗng. Không con gái. Không dấu vết
một cuộc ái ân vụng trộm. Ông văng tục một tiếng rồi chạy lên với vợ.
Một lúc lâu sau, bác bếp về, nét mặt băn khoăn: bởi vì bác không tìm thấy kính. Đó không
phải là lỗi bác. Nhưng rất có thể rằng ông chủ gắt. Tính ông nóng lắm. Chắc hẳn rằng ông sẽ
quát ầm nhà lên... Bác rón rén lên cầu thang gác. Ông chủ đang ngồi thụt hẳn người vào trong
một cái ghế bành to, đọc báo. Mắt ông có kính. Bác bếp ngạc nhiên rồi lại thêm lo sợ. Bây giờ thì
bác sợ bác đã hiểu nhầm lời ông sai đi tìm cái khác. Có lẽ ông sai bác đi tìm cái khác. Thế mới
bỏ đời bác chứ! Ai bảo bác hấp ta hấp tấp? Không chịu hỏi cho rõ rồi hãy đi!
Bác rụt rè một lúc rồi mới dám đánh liều lên tiếng :
- Me-xừ.
Ông ngẩng đầu lên, hất hàm. Bác đọc như cái máy :
- Loong-toong diếc đa-na-ba-luy-nét.
Loong-toong bảo không có luy-nét! Ấy là một khoé ranh của bác. Bác cũng nhanh trí khôn
lắm đấy. Loong-toong bảo không có luy-nét. Vậy thì luy-net là cái gì cũng được. Ông muốn gắt
thì gắt với thằng loong-toong! Nhưng luy-nét chính là cái kính. Bởi vì ông chủ trỏ tay lên kính
mắt hỏi:
- Xa? (ca)
Và ông nhún vai, mỉm cười. Thoát nạn! bác bếp Tư nhẹ lâng cả người. Một tảng đá lớn
tưởng đè lên người bác vừa trút đi. Bác chạy xuống cầu thang, bước hai bậc một. Y như một hòn
đá lăn trên sườn núi. Bác chạy thẳng lại cái bể. Nhìn trước nhìn sau một thoáng rồi bác mở nắp
ra, cúi đầu xuống. Tối om om. Một mảng nước loang loáng như nước mực. Bác gọi con:
- Tề! Tề ơi!
Im lặng. Một nỗi nghi vụt đến. Tim bác nhảy lên một cái. Tiếng khàn khàn, bác gọi :
- Tề ơi! Ra đây thầy kéo lên.

8

Tài liệu ôn tập văn 12
Chẳng có gì đáp lại. Những đốm sáng lăn tăn nhẩy nhót trong bóng tối. Ấy là bác bếp Tư
hoa mắt. Bởi vì đầu óc bác đã nặng trĩu, quay quay, choáng váng. Người thì bủn rủn. Bác nhoai
lưng vào trong bể, vừa mếu máo vừa rên rỉ:
- Con ơi! Tề con ơi...
Đầu ngón tay bác động phải một vật gì trơn nuồn nuột mà không còn động đậy. Bác toan
gào thật to. Nhưng có tiếng giầy tây cồm cộp trên thang gác. Ông chủ xuống! Bác Tư sực tỉnh.
Bác rút vội đầu ra khỏi bể. Bác đậy luôn nắp lại. Vừa kịp ông chủ không trông thấy. Bác cố thản
nhiên đi vào bếp, lau bát đãi để sắp sửa lên bày bàn. Nhưng nghĩ đến bàn ăn, bác lại sinh lo
lắng...
- Còn chai sâm banh!... Đào đâu ra một chai sâm-banh bây giờ?
Đêm hôm ấy, đợi vợ chồng ông chủ tắt đèn đi ngủ một lúc lâu, bác Tư mới rón rén ra sân.
Bác mở cái nắp bể thật êm. Bác quờ tay vào bể, loay hoay tìm cách vớt con ra.
Sáng hôm sau, bác vừa báo cho chủ biết con bác phải cảm chết đêm rồi.
Ông chủ giật mình:
- Vì dịch tả phải không?
- Bẩm ông không.
- Thế vì bệnh gì?
- Bẩm... bẩm...
Bác Tư ấp úng. Ông chủ lại càng sợ hãi:
- Đem chôn ngay đi! Bỏ vôi vào! Rồi lấy ca-re-lin rưới khắp nhà, hiểu không?
- Bẩm hiểu.
- Được rồi. Đi đi!
Ông xua bác Tư như xua đuổi một thằng hủi. Mũi ông chun lại. Ra khỏi cửa, bác Tư nhẹ
hẳn người. Bác lấy làm may. Nếu ông chủ xuống xem! Nếu ông chủ biết rằng thằng bé đã ngâm
mấy giờ đồng hồ trong bể nước!...
9

Tài liệu ôn tập văn 12
(Tuyển tập truyện ngắn Nam Cao, NXB Văn học)
Câu 1. Đoạn trích được kể theo ngôi thứ mấy?
Câu 2. Người kể chuyện chủ yếu trần thuật theo điểm nhìn nào?
A. Điểm nhìn của tác giả
B. Điểm nhìn bác Tư
C. Điểm nhìn của gia đình ông chủ
D. Điểm nhìn của con bác Tư – thằng Tề
Câu 3. Tình huống dẫn đến cái kết đau buồn trong truyện là:
A. Thằng Tề trượt chân ngã té ghế
B. Thằng Tề lộn cổ vào bể nước
C. Thằng Tề bơi trong bể nước, bác Tư giấu con trong đó khi chủ nhà về và không dám để nhà
chủ phát hiện cho tới khi con ở đó quá lâu
D. Thằng Tề bơi trong bể nước, bác Tư làm việc cho nhà chủ và quên con
Câu 4. Câu văn “Chỉ thương xuông cũng không thể gọi là thương. Cái lối thương để bụng vô ích
lắm. Phải tìm cách tỏ lòng thương ra ngoài mới được” là lời của ai?
A. Nam Cao
B. Bác Tư
C. Thầy giáo của Tề
D. Tác giả kể chuyện
Câu 5. Đoạn đối thoại giữa bác Tư và ông chủ nhà cho thấy điều gì?
Sáng hôm sau, bác vừa báo cho chủ biết con bác phải cảm chết đêm rồi.
Ông chủ giật mình:
- Vì dịch tả phải không?
10

Tài liệu ôn tập văn 12
- Bẩm ông không.
- Thế vì bệnh gì?
- Bẩm... bẩm...
Bác Tư ấp úng. Ông chủ lại càng sợ hãi:
- Đem chôn ngay đi! Bỏ vôi vào! Rồi lấy ca-re-lin rưới khắp nhà, hiểu không?
- Bẩm hiểu.
- Được rồi. Đi đi!
A. Bác Tư rất lo lắng chủ nhà biết chuyện con trai đã chết trong bể nước
B. Chủ nhà là người lạnh lùng, chỉ quan tâm đến vấn đề bệnh tật và yêu cầu bác Tư phải phòng
tránh bệnh cho nhà chủ
C. Chủ nhà là người quan tâm tới vấn đề sức khỏe và yêu cầu bác Tư phải phòng tránh.
D. Bác Tư lo sợ mất việc nên nói dối về cái chết của con trai.
Câu 6. Trong truyện có xuất chi tiết phi lí, trái với lẽ thường, đó là chi tiết nào?
A. Bác Tư lo lắng nhà chủ phát hiện ra con trai mình ở nhà chủ hơn là việc con ở trong bể nước
B. Bác Tư lo lắng nhà chủ phát hiện ra con trai mình ở nhà chủ nên đã nói dối là con bị cảm
C. Bác Tư nói dối được nhà chủ dù con trai mất mạng mà vẫn cảm thấy nhẹ nhõm
D. Bác Tư cảm thấy nhẹ nhõm khi nói đối được nhà chủ về sự xuất hiện của con trai mình
Câu 7. Chủ đề chính của truyện ngắn trên là:
A. Nghịch lí trong cuộc đời con người
B. Số phận của những người nông dân trước Cách mạng Tháng 8
C. Số phận của những người làm thuê
D. Sự phân biệt giàu nghèo
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
11

Tài liệu ôn tập văn 12
Câu 8. Hoàn thành bảng sau để xác định điểm nhìn trong văn bản
Điểm nhìn

Nội dung thể hiện

Điểm nhìn bên ngoài
(Người kể chuyện đứng bên ngoài
quan sát)
Điểm nhìn bên trong
(Người kể chuyện đi vào thế giới nội
tâm của nhân vật để kể chuyện)
Câu 9. Lí do gì khiến bác Tư sợ hãi lo lắng nhà chủ phát hiện ra con trai mình ở trong bể nước
hơn cả việc sự sống và cái chết của con? Theo em, việc này có hợp lí không? Tại sao.
Câu 10. Bằng việc tìm hiểu về văn bản trên, đọc các văn bản cùng thời kì (Xã hội Việt Nam
trước Cách mạng Tháng 8), em hãy viết đoạn văn khoảng 10 câu nêu cảm nhận về về số phận của
những người nông dân trước Cách mạng tháng 8.
HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI
Phần Câu Nội dung

Điểm

ĐỌC HIỂU

6.0

1

Ngôi thứ ba

0.5

2

Điểm nhìn của tác giả

0.5

3

Thằng Tề bơi trong bể nước, bác Tư giấu con trong đó khi chủ nhà về và 0.5

I

không dám để nhà chủ phát hiện cho tới khi con ở đó quá lâu .
4

Thầy giáo của Tề

0.5

5

B. Chủ nhà là người lạnh lùng, chỉ quan tâm đến vấn đề bệnh tật và yêu cầu 0.5
bác Tư phải phòng tránh bệnh cho nhà chủ

12

Tài liệu ôn tập văn 12
6

A. Bác Tư lo lắng nhà chủ phát hiện ra con trai mình ở nhà chủ hơn là việc 0.5
con ở trong bể nước

7
8

B. Số phận của những người nông dân trước Cách mạng Tháng 8
Điểm nhìn bên ngoài • Bác chạy xuống cầu thang, bước hai

0.5
0.5

bậc một. Y như một hòn đá lăn trên
sườn núi → Sự lo lắng của bác khi con
trai vẫn còn ở trong bể
Điểm nhìn bên trong • Một lúc lâu sau, bác bếp về, nét mặt
băn khoăn: bởi vì bác không tìm thấy
kính. Đó không phải là lỗi bác. Nhưng
rất có thể rằng ông chủ gắt. Tính ông
nóng lắm. Chắc hẳn rằng ông sẽ quát
ầm nhà lên... → Sự lo lắng của bác Tư
khi sợ ông chủ do bác không thấy
kính vì tính ông chủ rất nóng
• Và ông nhún vai, mỉm cười. Thoát
nạn! bác bếp Tư nhẹ lâng cả người.
Một tảng đá lớn tưởng đè lên người
bác vừa trút đi. → bác Tư nhẹ nhõm
khi không bị ông chủ phát hiện
9

HS chỉ ra được hai nguyên nhân

1.0

- Nguyên nhân trực tiếp: Nỗi lo lắng dùng nước bẩn của ông chủ người Tây
Khí hậu ở đây chẳng được lành; những người chưa quen với thủy thổ miền
nhiệt đới, đến đây mà chẳng biết giữ thân, khó khỏi chết vì nguy hiểm ấy
truyền nhiễm phần nhiều do nước bẩn. Bởi vậy nước ăn của ông phải coi giữ
như thế nào cho thật sạch. Cái bể nước của ông, ông coi quý gần bằng vợ ông.
Mà có lẽ còn quý hơn vợ ông nữa. Bởi vì vợ ông ông có thể để người khác bắt
tay, chứ bể nước mà đứa nào dám nhúng tay bẩn hay cái "sô" bẩn vào thì cứ
13

Tài liệu ôn tập văn 12
liệu cái thần hồn với ông.
- Nguyên nhân sâu xa: Số phận của những người ở tầng lớp dưới đáy xã hội,
đi làm thuê cho nhà chủ Tây, họ phải chịu đựng sự nóng nảy, lạnh lùng, xét
nét của chủ nhà, họ làm công nhưng luôn bị coi thường, khinh rẻ, nếu bị chủ
nhà nổi giận hay phật ý thì công việc cũng sẽ không còn, nơi mưu sinh kiếm
sống qua ngày cũng không còn.
10

HS chia sẻ góc nhìn của bản thân về số phận người nông dân trước CMT8:

1.0

- Nghèo khổ, bần cùng và không lối thoát.
- Đánh đổi cả mạng sống con cái hay chính bản thân vì ý nghĩ bị đè nén, phải
kiếm ăn qua ngày
Đề luyện 2
Đọc đoạn trích sau:
(Lược dẫn: Vợ của nhân vật xưng “tôi” mua một con chó, nhưng nó rất xấu xí nên chẳng ai
dám đến gần. Mấy người quen của nhân vật “tôi” định bụng sẽ giết thịt nó để làm một chầu nhậu,
nhưng rồi giặc đến, mọi người đều phải bỏ làng chạy giặc. Vì vướng víu nên gia đình, nhân vật
“tôi” đành phải bỏ con chó lại nhà cụ bếp Móm và nhờ cụ nuôi hộ. Trước khi ra đi, vợ của nhân
vật “tôi” đã xích con chó vào gốc cây để nó khỏi chạy theo).
“Ắng!… Ắng! Ắng!…” Tiếng con chó lồng lộn, cuống quít đằng sau bước chân tôi. Nó như gọi
tôi, nó như kêu cứu, như than khóc, oán trách…
Ra khỏi ngõ tôi thoảng nghe tiếng chị vợ cảnói với chồng:
– Vợ chồng nhà ấy họ đi đấy à? Này, họ bỏ lại con chó cậu ạ.
Và tiếng anh chồng dấm dẳn:
– Đến ng
 
Gửi ý kiến