Đề cương văn 12...

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: ST
Người gửi: Tống Xuân Huy
Ngày gửi: 19h:39' 12-03-2024
Dung lượng: 64.0 KB
Số lượt tải: 46
Nguồn: ST
Người gửi: Tống Xuân Huy
Ngày gửi: 19h:39' 12-03-2024
Dung lượng: 64.0 KB
Số lượt tải: 46
Số lượt thích:
0 người
CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA
-Nguyễn Minh Châu-
A. MỞ BÀI CHUNG
Lã Nguyên đã nói về yêu cầu của văn chương nghệ thuật và thiên chức của người nghệ sĩ
“Nhà văn chân chính có sứ mệnh khơi nguồn cho dòng sông văn học đổ ra đại dương nhân
bản mênh mông”. Nguyễn Minh Châu đã ý thức được sâu sắc thiên chức ấy của người cầm bút
trong công cuộc đổi mới văn học nên trở thành người mở đường tinh anh và tài hoa của văn
học Việt Nam sau năm 1975. Đứng trước sự thay đổi của thời đại, nhận thức được nhu cầu đổi
mới văn học, Nguyễn Minh Châu đã người tiên phong gieo những hạt giống đầu tiên trên con
đường đổi mới. Nếu như trong giai đoạn trước Nguyễn Minh Châu sáng tác theo cảm hứng sử
thi đậm nét, sau năm 1975 ông đã chuyển sang cảm hứng thế sự với những vấn đề về đạo đức
và triết lý nhân sinh. Tác phẩm của Nguyễn Minh Châu có sức hấp dẫn riêng biệt, nhà văn
khẳng định bản sắc cá nhân nghệ sĩ bằng nét phong cách kết hợp hài hòa chất triết lí cuộc đời
với chất trữ tình lãng mạn, hình tượng nhân vật được soi thấu trong quan hệ đa chiều, phức tạp
và đề cao, tôn vinh những giá trị cuộc sống. Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” là truyện
ngắn tiêu biểu cho sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975. Đây là một tác phẩm hay
đậm tính nhân văn, thể hiện một lối tư duy mới mẻ của nhà văn về cái đẹp, nghệ thuật và số
phận con người trong cuộc mưu sinh nhọc nhằn kiếm tìm hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách.
B. PHÂN TÍCH ĐOẠN VĂN
Đoạn số 1:
Từ chỗ chiếc xe tăng mà tôi đang đứng với chiếc máy ảnh, đi quá mươi bước sâu vào
phía trong có một chiếc xe rà phá mìn của công binh Mỹ, chiếc xe sơn màu vàng tươi và to lớn
gấp đôi một chiếc xe tăng. Hai người đi qua trước mặt tôi. Họ đi đến bên chiếc xe rà phá mìn.
Người đàn bà đứng lại, ngước mắt nhìn ra ngoài mặt phá nước chỗ chiếc thuyền đậu một
thoáng, rồi đưa một cánh tay lên có lẽ định gãi hay sửa lại mái tóc nhưng rồi lại buông thõng
xuống, đưa cặp mắt nhìn xuống chân.
Lão đàn ông lập tức trở lên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt
lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ như những điều phải nói với nhau họ đã nói hết, chẳng nói
chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào
lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát
quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ.
Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”.
Người đàn bà với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục không hề kêu một tiếng, không chống
trả, cũng không tìm cách trốn chạy.
Tất cả mọi việc xẩy đến khiến tôi kinh ngạc đến mức, trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há
mồm ra mà nhìn. Thế rồi chẳng biết từ bao giờ, tôi đã vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào
tới.
Bóng một đứa con nít lao qua trước mặt tôi. Tôi vừa kịp nhận ra thằng Phác – thằng bé
trên rừng xuống vừa nằm ngủ với tôi từ lúc nửa đêm. Thằng bé cứ chạy một mạch, sự giận dữ
căng thẳng làm nó khi chạy qua không nhìn thấy tôi. Như một viên đạn trên đường lao tới đích
đã nhắm, mặc cho tôi gọi nó vẫn không hề ngoảnh lại, nó chạy tiếp một quãng ngắn giữa
những chiếc xe tăng rồi lập tức nhảy xổ vào cái lão đàn ông.
Cũng y hệt người đàn bà, thằng bé của tôi cũng như một người câm, và đến lúc này tôi
biết là nó khỏe đến thế!
Khi tôi chạy đến nơi thì chiếc thắt lưng da đã nằm trong tay thằng bé, không biết làm thế
nào nó đã giằng được chiếc thắt lưng, liền dướn thẳng người vung chiếc khóa sắt quật vào giữa
khuôn ngực trần vạm vỡ cháy nắng có những đám lông đen như hắc ín, loăn xoăn từ rốn mọc
ngược lên. Lão đàn ông định giằng lại chiếc thắt lưng nhưng chẳng được nữa, liền dang thẳng
cánh cho thằng bé hai cái tát khiến thằng nhỏ lảo đảo ngã dúi xuống cát.
(Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu, SGK Ngữ văn 12, NXBGD 2008, tr 72-73)
Phân tích phát hiện của nghệ sĩ Phùng được thể hiện ở đoạn trích trên. Từ đó, nhận
xét tình huống nhận thức trong tác phẩm.
I. MỞ BÀI
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Tk mở bài chung
- Nêu vấn đề cần nghị luận: Đoạn trích “Từ chỗ chiếc xe tăng mà tôi đang đứng…lảo đảo ngã
dúi xuống cát” thuộc phần đầu của truyện đã diễn tả phát hiện của nghệ sĩ Phùng, từ đó góp
phần thể hiện một tình huống truyện có tính nhận thức.
II. THÂN BÀI
1. Khái quát
- Khái niệm tình huống truyện: Đối với truyện ngắn, tình huống giữ vai trò là hạt nhân
của cấu trúc thể loại, nó chính là cái hoàn cảnh riêng được tạo nên bởi một sự kiện đặc biệt
khiến cho tại đó, cuộc sống hiện lên đậm đặc nhất và ý đồ tư tưởng của tác giả cũng được bộc
lộ sắc nét nhất. Bên cạnh đó, từ tình huống truyện, các sự kiện, biến cố của cốt truyện được
phát triển, tính cách nhân vật được bộc lộ. Nói cách khác thì tình huống truyện như một thứ
nước rửa ảnh làm nổi hình, nổi sắc nhân vật. Việc giải quyết những mâu thuẫn, xung đột
trong tình huống truyện sẽ bộc lộ rõ tư tưởng chủ đề của tác phẩm và dụng ý nghệ thuật của tác
giả. Việc sáng tạo nên các tình huống độc đáo biểu hiện khả năng quan sát, khám phá bản chất
cuộc sống, bản chất con người của nhà văn. Nhà văn Nguyễn Minh Châu quan niệm “Tình
huống truyện giữ vai trò là hạt nhân của cấu trúc thể loại, là một lát cắt của hiện thực cuộc
sống, nhưng chỉ qua một lát cắt ấy thấy được cả vòng đời thảo mộc trăm năm”. Với quan
niệm như vậy nên trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đã tạo ra tình
huống truyện hết sức độc đáo.
- Tính huống truyện ở đoạn trước:
Để có thể xuất bản một bộ lịch nghệ thuật về thuyền và biển, vị trưởng phòng khó tính đề nghị
nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đi thực tế chụp bổ sung một bức ảnh với cảnh biển
buổi sáng có sương mù. Chấp nhận yêu cầu của trưởng phòng, Phùng quyết định đến vùng
biển từng là chiến trường cũ nơi anh từng chiến đấu, ở đó anh có người bạn chiến đấu là Đẩu,
hiện là chánh án toà án huyện. Với tâm thế của một người nghệ sĩ chân chính khao khát cái đẹp,
Phùng đã mai phục ở bãi biển này suốt gần một tuần mà chưa chụp được bức ảnh nào ưng ý.
Sau khi suy nghĩ, tìm kiếm, Phùng quyết định sẽ thu vào tờ lịch tháng bảy của bộ lịch năm sau
cảnh thuyền thu lưới vào lúc bình minh. Và buổi sáng hôm ấy, bất ngờ anh lại gặp được một
cảnh “đắt” trời cho, cảnh mà theo Phùng suốt đời cầm máy anh chưa gặp được một lần. Cảnh
đẹp như “một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ”, một “vẻ đẹp thực đơn giản và
toàn bích”, mà đứng trước cảnh tượng ấy người nghệ sĩ thấy trái tim mình thắt lại, bối rối.
Thậm chí, trong giây phút hạnh phúc đến tuyệt đỉnh, Phùng tưởng như đã “khám phá ra chân
lý của sự toàn thiện, khám phá ra khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Đó là niềm hạnh
phúc của người nghệ sĩ khi bắt gặp cái đẹp, nhận ra vai trò thực sự của nghệ thuật. Phùng đã
bấm máy liên tục để thu hết vẻ đẹp tuyệt đỉnh của cảnh vật vào ống kính của mình.
2. Phát hiện của Phùng trong đoạn trích: Bức tranh hiện thực đời sống nghiệt ngã
Trong đoạn trích, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã tiếp tục thể hiện những khám phá, phát
hiện về nghệ thuật và đời sống, khiến tình huống truyện được phát triển. Éo le thay khi con
thuyền ngư phủ đẹp như một giấc mơ trong bức tranh nghệ thuật đẹp một cách toàn bích ấy tiến
vào bờ thì bước xuống từ đó không phải là những con người đẹp và toàn thiện như cổ tích mà là
một người đàn bà xấu xí, một người đàn ông độc ác và một màn bạo lực gia đình khiến cho
không chỉ Phùng mà người đọc cũng sửng sốt và đau đớn.
Bạo lực gia đình lại diễn ra ngay sau chiếc xe rà phá mìn của Mĩ trên bãi cát, và gã đàn
ông đánh vợ bằng chiếc thắt lưng da của lính Ngụy. Phải chăng cái ác mà Mĩ Ngụy gieo xuống
đất nước ta còn không khủng khiếp bằng cuộc chiến giữa cái thiện với cái ác trong cuộc sống
hòa bình. Hay đó là hậu quả của cuộc chiến tranh vẫn hiện hữu ngay cả khi hòa bình lập lại.
Tưởng rằng cuộc chiến đấu giành độc lập tự do ta đã giải quyết được trọn vẹn, mang lại niềm
vui cho mọi người. Nhưng sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng còn biết bao vấn đề đặt ra:
Đói kém, bệnh tật, bạo lực gia đình … Dấu tích của chiến tranh để lại không chỉ là mấy cái xe
hỏng mà hơn nữa là cuộc sống đói nghèo, lạc hậu của những người như hai con người bất hạnh
kia. Người đàn bà từ dáng vẻ đến hành động đều thể hiện sự bất lực, buông xuôi và cam chịu
thể hiện qua cánh tay buông thõng, đôi mắt nhìn xuống dưới chân khi “đưa một cánh tay lên có
lẽ định gãi hay sửa lại mái tóc nhưng rồi lại buông thõng xuống, đưa cặp mắt nhìn xuống
chân”.
Tiếp đó, Phùng lần lượt chứng kiến những cảnh tượng vô cùng đau lòng. Lão đàn ông hàng chài
ra sức đánh người vợ khốn khổ một cách tàn bạo. Với môt vẻ “hùng hổ, mặt đỏ gay”, lão đàn
ông dùng chiếc thắt lưng lính ngụy ngày xưa để đánh vợ “chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn
giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà”. Trong
cơn giận dữ như lửa cháy, lão vừa nghiến răng ken két vừa dùng hết sức lực để dùng chiếc thắt
lưng quất tới tấp vào người đàn bà. Không chỉ đánh vợ tàn độc mà lão đàn ông còn ra sức chửi
rủa. Mỗi nhát quất xuống là một câu nguyền rủa đầy nghiệt ngã dành cho vợ con: “Mày chết đi
cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho
ông nhờ!”. Nhưng kì lạ là trước trận đòn như với kẻ thù của người đàn ông, người đàn bà
chỉ im lặng, nhẫn nhục chịu đựng, không chống trả cũng không chạy trốn.
Phùng chưa hiểu nổi những gì đang xảy ra trước mắt, sau vài phút đứng há mồm ra mà
nhìn, anh chỉ kịp vứt máy ảnh định chạy đến can thiệp, Nhưng cũng chưa kịp làm gì để giúp đỡ
người đàn bà thì lại chứng kiến màn bạo lực gia đình đau lòng hơn. Thằng Phác, là con trai của
lão đàn ông và người đàn bà chạy tới như một mũi tên và giật chiếc thắt lưng từ tay cha nó,
vung chiếc khóa sắt quật vào giữa khuôn ngực trần của cha để che chở cho người mẹ đáng
thương. Lão đàn ông từ chỗ đánh vợ thì giờ chuyển sang đánh con “Lão đàn ông định giằng lại
chiếc thắt lưng nhưng chẳng được nữa, liền dang thẳng cánh cho thằng bé hai cái tát khiến
thằng nhỏ lảo đảo ngã dúi xuống cát”.
Có thể nhận thấy trong đoạn văn là một tấn bi kịch gia đình đầy đau đớn. Trong gia đình
ấy có một người chồng độc ác, đánh vợ một cách tàn độc, nguyền rủa vợ con bằng những lời lẽ
nặng nề, nghiệt ngã nhất; có một người vợ chỉ biết cam chịu trước những trận đòn vô cớ của
người chồng; có một đứa con vì thương mẹ nên căm ghét và đánh lại cả bố. Nghệ sĩ Phùng là
người chứng kiến câu chuyện gia đình ấy và từ đây trong anh có thêm những phát hiện, nhận
thức về hiện thực đời sống. Chỉ có điều, phát hiện lần này của anh đầy bất ngờ và trớ trêu như
trò đùa quái ác của cuộc sống mà trong đó, cuộc đời thực hiện lên thật trần trụi, đau đớn biết
bao. Hóa ra, cuộc sống không chỉ tồn tại cái đẹp mà còn có bao nhiêu điều nghịch lí, đau lòng.
Nếu như trước đó, cảnh tượng hiện ra trước mắt anh là bức tranh nghệ thuật đầy lãng mạn,
đẹp tuyệt đỉnh thì màn bạo lực gia đình liên hoàn mà anh vừa chứng kiến chính là bức tranh
hiện thực đời sống đầy nghiệt ngã. Tất cả những sự việc ấy diễn ra khiến cảm giác, cảm xúc
trong Phùng hoàn toàn thay đổi. Không còn thấy hạnh phúc tràn ngập tâm hồn nữa mà thay vào
đó là ngạc nhiên, đau đớn. Đằng sau bức tranh nghệ thuật đẹp, lãng mạn mà anh tưởng là toàn
thiện, toàn mĩ kia hóa ra lại ẩn chứa một hiện thực đời sống đầy nghiệt ngã, đáng sợ. Và đó là
chính là tính hai mặt của hiện thực đời sống.
3. Ý nghĩa của phát hiện (Nhận xét về tình huống nhận thức trong tác phẩm)
Những khám phá, phát hiện của nghệ sĩ Phùng trong đoạn trích và tác phẩm đã bộc lộ
một tình huống truyện vô cũng độc đáo, có tính nhận thức về đời sống và nghệ thuật. Thông
điệp nhận thức được thể hiện sâu sắc khi giúp người đọc nhận ra:
Cuộc sống hóa ra vốn chứa đầy những nghịch lí giữa trong và ngoài, phải và trái, xa và
gần… nhiều khi trong cùng một sự vật, một sự việc, một con người cũng chứa đầy những mâu
thuẫn, đối lập. Bởi vậy con người không được nhìn cuộc đời bằng cái nhìn đơn giản, một chiều
mà cần có cái nhìn đa diện, nhiều chiều để khám phá ra bản chất thật của đời sống.
Những khám phá, phát hiện ấy còn giúp ta nhận thức được mối quan hệ giữa hiện thực đời sống
và nghệ thuật. Con thuyền nghệ thuật thì lãng mạn, lung linh huyền ảo nhưng ở rất xa, còn cuộc
đời đôi khi rất nghiệt ngã lại ở rất gần. Người nghệ sĩ chân chính không chỉ phải có cái nhìn đa
diện nhiều chiều để phát hiện ra bản chất thật của đời sống mà còn phải đừng vì nghệ thuật mà
quên cuộc đời. Bởi nghệ thuật chân chính là cuộc đời
và vì cuộc đời. Người nghệ sĩ biết rung động trước cái đẹp trước hết phải là người biết vui
buồn, yêu ghét trước cuộc đời.
Vậy là Phùng đã nhận ra một điều mà có lẽ từ đó sẽ thay đổi cái nhìn của anh về lao động
nghệ thuật và khẳng định quan niệm nghệ thuật vị nhân sinh. Nghệ thuật trước hết phải gắn liền
với cuộc sống, phải phản ánh chân thật cuộc sống. Nghệ thuật đích thực không thể xa rời cuộc
đời, dù cuộc đời đó có đau đớn, trần trụi bao nhiêu. Vì nghệ thuật sẽ không là gì nếu nó không
phục vụ cho cuộc sống và làm cho nó tốt hơn lên. Nghệ thuật chỉ có thể sống được và xanh
tươi khi nó thực sự bám rễ vào cuộc đời. Nói như Biêlinxki thì văn học “trước hết là cuộc
đời, sau đó mới là nghệ thuật”. Chi tiết Phùng vứt bỏ chiếc máy ảnh mà lao vào giúp đỡ người
đàn bà đã khẳng định rõ thêm điều này.
3. Đánh giá
Trong “Chiếc thuyền ngoài xa” nhà văn Nguyễn Minh Châu đã tạo nên một tình huống
truyện khá độc đáo. Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện đặc sắc kết hợp với cốt truyện hấp
dẫn, nghệ thuật khắc họa nhân vật sắc sảo, ... Điểm nhìn linh hoạt bởi truyện được kể ở ngôi thứ
nhất xưng "tôi", và người kể chuyện chứng kiến lại toàn bộ câu chuyện từ đầu đến cuối, ít có sự
tham gia của các nhân vật khác. Người kể chuyện mang đặc điểm của người nghệ sĩ đang đi tìm
cái đẹp theo một chủ đề: sự hài hòa trong yên tĩnh của con người và thiên nhiên khiến người
đọc nhận ra nhiều điều về cuộc sống và mối quan hệ giữa cuộc sống và nghệ thuật. Bức tranh
người nghệ sĩ chụp được tưởng là bức tranh tĩnh vật thì nó lại rất động với trạng thái phức tạp,
nhức nhối của nó. Tình huống truyện giúp ta hiểu rõ hơn về các nhân vật, làm cho câu chuyện
thêm hấp dẫn và chứa đựng giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc:
+ Giá trị hiện thực: Sau khi đất nước hòa bình thống nhất, cuộc sống đã tốt đẹp hơn rất
nhiều nhưng đâu đó vẫn còn những khoảng tối hoặc tranh sáng tranh tối. Cuộc sống đói nghèo
lạc hậu tăm tối là nguyên nhân dẫn tới nạn bạo hành gia đình. Cuộc chiến đấu bảo vệ quyền
sống của cả dân tộc trải qua bao hy sinh gian khổ nhưng cuộc đấu tranh bảo vệ quyền sống của
từng con người còn đầy cam go, lâu dài, cần có sự quan tâm của các cấp chính quyền và cộng
đồng.
+ Giá trị nhân đạo: Sự chia sẻ cảm thông của tác giả với những số phận đau khổ tủi nhục
của những người lao động vô danh đông đảo trong xã hội. Lên án, đấu tranh với cái xấu, cái ác
vẫn còn tồn tại trong từng gia đình. Phát hiện, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người lao
động và hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Đoạn số 2
Phân tích số phận và vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người đàn bà hàng chài được nhà
văn Nguyễn Minh Châu thể hiện trong đoạn trích sau:
Người đàn bà hướng về phía Đẩu, tự nhiên chắp tay lại vái lia lịa:
- Con lạy quý toà...
- Sao, sao?
- Quý toà bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó...
Lúc bấy giờ tôi đang ngồi giấu mặt sau bức màn vải hoa ngăn chỗ làm việc bên ngoài và
phòng ngủ bên trong của Đẩu. Sau câu nói của người đàn bà, tôi cảm thấy gian phòng ngủ
lồng lộng gió biển của Đẩu tự nhiên bị hút hết không khí, trở nên ngột ngạt quá. Tôi vén lá màn
bước ra.
Người đàn bà nhận ra được tôi ngay. Mụ nhấp nhổm xoay mình trên chiếc ghế như bị kiến
đốt, và về sau tôi mới sực nghĩ ra, mụ nghĩ rằng toà án đã bố trí sẵn tôi ngồi phía sau để chuẩn
bị làm nhân chứng.
- Chị cứ ngồi nguyên đấy! – Đẩu nói với vẻ đầy hào hứng của một con người bảo vệ công
lí vừa có thêm người đến tiếp viện, anh chạy sang phòng bên xách một chiếc ghế cho tôi. Bấy
giờ dưới con mắt của người đàn bà hàng chài, vị chánh án không phải là Đẩu đã trở về ngồi
sau chiếc bàn lớn mà là tôi, với mấy vết thương đã lên da non nhưng vẫn để dấu vết trên mặt.
- Tuỳ bà! – Đẩu thay đổi cách xưng hô, khoác lên mình cái cung cách bề ngoài của một vị
chánh án - chủ trương nguyên tắc của chúng tôi là kêu gọi hoà thuận...
Đang ngồi cúi gục xuống, người đàn bà bỗng ngẩng lên nhìn thẳng vào chúng tôi, lần lượt
từng người một, với một vẻ ban đầu hơi ngơ ngác.
- Chị cám ơn các chú! - Người đàn bà đột nhiên thốt lên bằng một giọng khẩn thiết - Đây
là chị nói thành thực, chị cám ơn các chú. Lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu có phải là
người làm ăn... cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó
nhọc...
(Trích Chiếc thuyền ngoài xa, Ngữ văn 12, Tập hai,
NXB Giáo dục Việt Nam 2020, tr. 74)
I. MỞ BÀI
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Tk mở bài chung
- Nêu vấn đề cần nghị luận: Đoạn trích “Người đàn bà…khó nhọc” đã giúp người đọc hiểu
thêm về nhân vật người đàn bà, từ đó thấy được vẻ đẹp khuất lấp của nhân vậy và góp phần thể
hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.
II. THÂN BÀI
1. Khái quát
- Nhà văn Nguyễn Minh Châu quan niệm “Tình huống truyện giữ vai trò là hạt nhân
của cấu trúc thể loại, là một lát cắt của hiện thực cuộc sống, nhưng chỉ qua một lát cắt ấy
thấy được cả vòng đời thảo mộc trăm năm”. Với quan niệm như vậy nên trong truyện ngắn
Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đã tạo ra tình huống truyện hết sức độc đáo. Để
trong tình huống ấy, các nhân vật phải bộc lộ cách ứng xử, tính cách và phẩm chất.
Tình huống truyện trong “Chiếc thuyền ngoài xa” là để có thể xuất bản một bộ lịch nghệ
thuật về thuyền và biển, vị trưởng phòng khó tính đề nghị nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đi thực tế
chụp bổ sung một bức ảnh với cảnh biển buổi sáng có sương mù. Chấp nhận yêu cầu của
trưởng phòng, Phùng quyết định đến vùng biển từng là chiến trường cũ nơi anh từng chiến đấu,
ở đó anh có người bạn chiến đấu là Đẩu, hiện là chánh án toà án huyện. Sau gần một tuần mai
phục, buổi sáng hôm ấy, bất ngờ anh lại gặp được một cảnh “đắt” trời cho, cảnh mà theo Phùng
suốt đời cầm máy anh chưa gặp được một lần. Cảnh đẹp như “một bức tranh mực tàu của một
danh họa thời cổ”, một “vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích”, mà đứng trước cảnh tượng ấy
người nghệ sĩ thấy trái tim mình thắt lại, bối rối. Thậm chí, trong giây phút hạnh phúc đến tuyệt
đỉnh, Phùng tưởng như đã “khám phá ra chân lý của sự toàn thiện, khám phá ra khoảnh khắc
trong ngần của tâm hồn”. Đó là niềm hạnh phúc của người nghệ sĩ khi bắt gặp cái đẹp, nhận ra
vai trò thực sự của nghệ thuật. Phùng đã bấm máy liên tục để thu hết vẻ đẹp tuyệt đỉnh của cảnh
vật vào ống kính của mình. Nhưng éo le thay khi con thuyền ngư phủ đẹp như một giấc mơ
trong bức tranh nghệ thuật đẹp một cách toàn bích ấy tiến vào bờ thì bước xuống từ đó không
phải là những con người đẹp và toàn thiện như cổ tích mà là một người đàn bà xấu xí, một
người đàn ông độc ác và một màn bạo lực gia đình khiến cho không chỉ Phùng mà người đọc
cũng sửng sốt và đau đớn. Lão đàn ông hàng chài ra sức đánh người vợ khốn khổ một cách tàn
bạo. Trong cơn giận dữ như lửa cháy, lão vừa nghiến răng ken két vừa dùng hết sức lực để
dùng chiếc thắt lưng quất tới tấp vào người đàn bà. Không chỉ đánh vợ tàn độc mà lão đàn ông
còn ra sức chửi rủa. Mỗi nhát quất xuống là một câu nguyền rủa đầy nghiệt ngã dành cho vợ
con: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”. Nhưng kì lạ là trước
trận đòn như với kẻ thù của người đàn ông, người đàn bà chỉ im lặng, nhẫn nhục chịu đựng,
không chống trả cũng không chạy trốn. Phùng cũng chưa kịp làm gì để giúp đỡ người đàn bà
thì lại chứng kiến màn bạo lực gia đình đau lòng hơn. Thằng Phác là con trai của lão đàn ông
và người đàn bà vì thương mẹ nên căm ghét và lao vào đánh lại cả bố để rồi lão đàn ông tát cho
thằng bé hai cái khiến nó ngã dúi xuống cát rồi bỏ đi. Vì muốn giúp đỡ người đàn bà nên chánh
án Đẩu đã gọi chị đến tòa án và trong hoàn cảnh ấy vẻ đẹp của nhân vật người đàn bà được bộc
lộ rõ nét.
2. Số phận và vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người đàn bà hàng chài qua đoạn trích
2.1. Số phận:
Đọc đoạn trích cũng như đọc hết câu truyện người đọc vẫn không biết tên của người đàn
bà là gì, tác giả đã gọi một cách phiếm định: khi thì gọi là người đàn bà hàng chài, lúc lại gọi
mụ, khi thì gọi chị....như một sự xóa mờ tên tuổi nhằm tô đậm thêm số phận của chị. Chị là
người vô danh, là hình ảnh tiêu biểu cho cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ như bao người phụ nữ
khác không hiếm gặp trên những miền quê Việt Nam. Điều đó chỉ ra một thực tế rằng, người
đàn bà không phải là hiện tượng cá biệt và cũng không phải quá phổ biến nhưng ta có thể bắt
gặp đâu đó trong cuộc đời.
Trong suốt tác phẩm, người đọc có thể cảm nhận dường như mọi sự bất hạnh của cuộc đời
đều trút cả lên người đàn bà: xấu, nghèo khổ, lam lũ, ít học, lại phải thường xuyên chịu những
trận đòn roi của chồng vũ phu, tổn thương, đau xót cho các con phải nhìn cảnh bố đánh mẹ…
Số phận, cuộc đời của chị được tác giả tái hiện với đầy sự cảm thông, chia sẻ và càng hiện ra rõ
nét hơn khi chị đến toà án huyện.
Vì lạc hậu, ít học, nghèo khổ và hơn nữa có thể do bị bạo hành thường xuyên nên người
đàn bà xuất hiện ở tòa án trong dáng vẻ và hành động đầy tự ti, rụt rè đến tội nghiệp. Chị xưng
là con, gọi chánh án Đẩu là quý tòa, thậm chí còn có hành động chắp tay lại vái lia lịa. Khi
nhận ra Phùng là người đã chứng kiến câu chuyện, chị nhấp nhổm xoay mình trên chiếc ghế
như bị kiến đốt. Có lẽ, chị nghĩ rằng tòa sắp xếp Phùng đến đây làm nhân chứng.
2.2. Vẻ đẹp khuất lấp
Ai đó đã từng nói “Tác phẩm nghệ thuật chân chính bao giờ cũng là sự tôn vinh con
người qua những hình thức nghệ thuật độc đáo”. Phải chăng vì vậy mà ta có thể bắt gặp
nhiều nghệ sĩ có phong cách hoàn toàn khác nhau trên cùng một giao lộ của hành trình kiếm tìm
và khám phá vẻ đẹp tâm hồn con người. Nhà văn Nguyễn Minh Châu trong đoạn trích cũng như
trong tác phẩm đã khám phá, phát hiện ra vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người đàn bà. Vẻ
đẹp của chị không dễ nhận thấy vì bị ẩn mình trong bề ngoài thô kệch, xấu xí nhưng rất đáng
trân trọng và ngợi ca.
Người đàn bà hàng chài có vẻ ngoài xấu xí, ít học, lam lũ và cuộc đời đầy bất hạnh ấy hóa
ra bên trong lại ẩn chứa nhiều phẩm chất tốt đẹp. Điều đó thể hiện rõ qua cách ứng xử của chị
trước bi kịch gia đình. Khi biết hoàn cảnh gia đình của người đàn bà, cách giải quyết của chánh
án Đẩu là cho gọi người đàn bà tới và khẳng định: “Chị không sống nổi với lão vũ phu ấy đâu”.
Phùng và Đẩu cho rằng người đàn bà chỉ có cách duy nhất là từ bỏ gã chồng tàn ác và chắc chắn
sẽ chấp nhận sự giúp đỡ của mình nhưng trái với điều họ mong đợi người đàn bà đã kiên quyết
từ chối. Người đàn bà thậm chí còn van lạy để đừng bắt chị bỏ chồng “Quý toà bắt tội con cũng
được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…”. Câu trả lời cũng như phản ứng cuả người
đàn bà làm cho căn phòng “lồng lộng gió biển tự nhiên bị hút hết không khí trở nên ngột ngạt”.
Hóa ra, cách giải quyết của Phùng và Đẩu tuy đứng về phía người đàn bà nhưng rất thiếu thực
tế. Họ chỉ nghĩ giúp đỡ người đàn bà mà chưa nghĩ đến việc những đứa trẻ rồi sẽ ra sao? Những
người làm ăn lam lũ khó nhọc ra khơi lao động cần phải có bàn tay của người đàn ông. Người
đàn ông là trụ cột trong nhà. Người đàn bà ấy và cả chục đứa trẻ vô tội ngây thơ kia sẽ sống ra
sao khi trên thuyền không còn bàn tay lao động chủ đạo của người đàn ông?...
- Vậy vì sao người đàn bà không chịu bỏ chồng. Đó là vì:
+ Thương con: Quyết định không bỏ chồng của người đàn bà chủ yếu là vì chị thương
con. Chị nhận thấy rằng, các con là cuộc sống, lẽ sống, là tất cả những gì chị có trong cuộc đời
của mình. Vì thương con nên chị cần có người đàn ông để chèo chống lúc sóng gió phong ba,
để cùng nuôi dạy đàn con trên dưới mười đứa. Chị đã nói rằng đàn bà hàng chài không sống
như trên đất được mà phải sống vì con, phải gánh lấy cái khổ để nuôi con khôn lớn. Lòng
thương con của chị khiến chị chấp nhận hi sinh bản thân, cam chịu những trận đòn vũ phu của
chồng, không kêu van, không trốn chạy. Thậm chí, chị coi việc mình bị đánh đập như một phần
đã rất quen thuộc của cuộc đời, là chuyện đương nhiên. Trong khổ đau, bất hạnh chị vẫn trân
trọng, nâng niu những hạnh phúc hiếm hoi và niềm hạnh phúc nhất của chị là khi được nhìn đàn
con ăn no. Tình mẫu tử của chị như một bản năng mãnh liệt ngàn đời của người phụ nữ được
bộc lộ một cách cảm động và sâu sắc nhất, vút lên trên cái nền của cuộc sống cơ cực, ngang trái,
đau đớn đầy xót xa của chị. Vì có những phụ nữ như chị nên nếu ai đó có ví công lao của người
mẹ như biển Thái Bình thì thiết nghĩ cũng thật dễ hiểu.
+ Thấu hiểu chồng và có tấm lòng bao dung, vị tha, nhân hậu: Bị chồng đánh tàn độc
với ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng nhưng người đàn bà không hề oán trách
chồng. Chị hiểu nguyên nhân sâu xa lão đàn ông trở nên vũ phu là do nghèo đói. Cuộc mưu
sinh của gia đình hơn chục người như dồn hết gánh nặng lên đôi vai của người đàn ông đã biến
người chồng hiền lành của chị trở thành ác độc. Chị thấu hiểu nỗi khổ của chồng nên vì thế mà
chị luôn bảo vệ chồng trước những đứa con và khi nói chuyện với Phùng và Đẩu “Lòng các
chú tốt, nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn... cho nên các chú đâu có hiểu được cái
việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc...”. Thấu hiểu chồng phải làm ăn lam lũ, khó nhọc
như vậy nên chị thậm chí còn nhận hết trách nhiệm, lỗi lầm về mình, sẵn sàng chấp bị bắt tội,
phạt tù để không phải bỏ chồng.
- Từng trải, sắc sảo, thấu hiểu lẽ đời và rất tinh tế: Bên trong vẻ ít học, lạc hậu của chị là
sự sắc sảo, từng trải, thấu hiểu lẽ đời và rất tinh tế. Trong đoạn trích, người phụ nữ đáng thương
đã khiến cho Phùng và Đẩu đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Chị không những không
bỏ chồng mà còn nói: "Đây là chị nói thành thực, chị cám ơn các chú. Lòng các chú tốt, nhưng
các chú đâu có phải là người làm ăn... cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các
người làm ăn lam lũ, khó nhọc...". Trong lời nói này ta thấy người đàn bà bỗng chốc trở nên
nhanh nhẹn và sắc sảo không ngờ. Chị nói về cuộc đời với những lí lẽ riêng của mình, chủ động
thay đổi cách xưng hô từ "con"- quý tòa" sang "chị - các chú". Dưới góc nhìn ngôn ngữ có thể
thấy người phụ nữ khốn khổ ấy đã khéo léo chuyển từ mối quan hệ thứ bậc (con - quý tòa)
trong đó người đàn bà ở vai dưới sang quan hệ thân sơ (chị - chú), người đàn bà trở thành vai
trên. Chị khen người ta trước "lòng các chú tốt" rồi mới phê bình người ta "các chú đâu có hiểu
được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc..." là cách hữu hiệu để buộc Phùng và Đẩu
phải tiếp nhận câu chuyện ở một vị thế khác, chỉ cho họ thấy được những khuyết điểm của
mình là sự thiếu từng trải, va vấp. chỉ biết nhìn cuộc đời qua một mớ lí thuyết, sách vở. Để từ
đó Đẩu và Phùng phải vỡ lẽ và “ngộ” ra bao điều về cuộc sống.
3. Đánh giá
3.1. Nghệ thuật
Bức chân dung của người đàn bà hàng chài trong đoạn trích được tác giả xây dựng bằng
nghệ thuật đậm nét sự sáng tạo. Nguyễn Minh Châu đã xây dựng được tình huống mà ở đó bộc
lộ mọi mối quan hệ, bộc lộ khả năng ứng xử, thử thách phẩm chất, tính cách, tạo ra những bước
ngoặt trong tư tưởng, tình cảm và cả trong cuộc đời nhân vật. Tình huống truyện mang ý nghĩa
khám phá, phát hiện đời sống. Ngôn ngữ người kể chuyện thể hiện qua nhân vật Phùng, sự hóa
thân của tác giả. Chọn người kể chuyện như thế đã tạo ra một điểm nhìn trần thuật sắc sảo, tăng
cường khả năng khám phá đời sống, lời kể trở nên khách quan, chân thật, giàu sức thuyết phục.
Ngôn ngữ nhân vật phù hợp với đặc điểm tính cách. Lời văn giản dị mà sâu sắc, đa nghĩa.
3.2. Ý nghĩa của đoạn văn và vài trò của nhân vật người đàn bà
Thông qua vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người đàn bà, đoạn văn cũng như tác phẩm tác
phẩm đã bộc lộ giá trị nhân đạo, nhân văn sâu sắc. Đó là ca ngợi vẻ đẹp của con người giữa
cuộc đời đầy sóng gió. Người đàn bà tiêu biểu cho biết bao nhiêu phụ nữ sống nghèo khổ, bất
hạnh và tiêu biểu cho những người phụ nữ Việt Nam có nhiều phẩm chất cao quý như tảo tần,
lam lũ, chịu thương chịu khó, thương chồng thương con, giàu đức hi sinh và lòng vị tha cao
thượng. Với nhân vật người đàn bà, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã tiếp tục cuộc hành trình đi
tìm hạt ngọc ẩn sâu trong tâm hồn con người Việt Nam. Từ đó khiến chúng ta rút ra rằng không
thể nhìn đời, nhìn người bằng một cái nhìn đơn giản, một chiều mà phải nhìn đời, nhìn người
bằng cái nhìn đa diện nhiều chiều để khám phá được cái đẹp về bản chất nhiều khi ẩn rất sâu
trong bề ngoài thô nhám.
Đoạn số 3
Đọc đoạn trích sau:
“Người đàn bà bổng chép miệng, con mắt như đang nhìn suốt cả đời mình:
- Giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rộng hơn, từ ngày cách mạng
về đã đỡ đói khổ chứ trước kia vào các vụ bắc, ông trời làm động biển suốt hang tháng, cả nhà
vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối…
- Lão ta trước hồi bảy nhăm có đi lính nguỵ không ? – Tôi bỗng hỏi một câu như lạc đề.
- Không chú à, cũng nghèo khổ, túng quẫn đi vì trốn lính – bỗng mụ đỏ mặt – nhưng cái
lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật.
- Vậy sao không lên bờ mà ở - Đẩu hỏi.
- Làm nhà trên đất ở một chỗ đâu có thể làm được cái nghề thuyền lưới vó ? Từ ngày cách
mạng về, cách mạng đã cấp đất cho nhưng chẳng ai ở, vì không bỏ nghề được !
- Ở trên thuyền có bao giờ lão ta đánh chị không ? – Tôi hỏi.
- Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống
rượu…Giá mà lão uống rượu… thì tôi còn đỡ khổ…Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được
với lão…đưa tôi lên bờ mà đánh…
- Không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được! – Đẩu và tôi cùng một lúc thốt lên.
- Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất
vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông…
- Phải, phải, bây giờ tôi đã hiểu, - bất ngờ Đẩu trút một tiếng thở dài đầy chua chát, - trên
thuyền phải có một người đàn ông…dù hắng man rợ, tàn bạo ?
- Phải – Người đàn bà đáp – Cũng có khi biển động song gió chứ chú ?
Lát lâu sau mụ lại mới nói tiếp:
- Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hang chài ở thuyền chúng tôi cần
phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp
con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là đ...
-Nguyễn Minh Châu-
A. MỞ BÀI CHUNG
Lã Nguyên đã nói về yêu cầu của văn chương nghệ thuật và thiên chức của người nghệ sĩ
“Nhà văn chân chính có sứ mệnh khơi nguồn cho dòng sông văn học đổ ra đại dương nhân
bản mênh mông”. Nguyễn Minh Châu đã ý thức được sâu sắc thiên chức ấy của người cầm bút
trong công cuộc đổi mới văn học nên trở thành người mở đường tinh anh và tài hoa của văn
học Việt Nam sau năm 1975. Đứng trước sự thay đổi của thời đại, nhận thức được nhu cầu đổi
mới văn học, Nguyễn Minh Châu đã người tiên phong gieo những hạt giống đầu tiên trên con
đường đổi mới. Nếu như trong giai đoạn trước Nguyễn Minh Châu sáng tác theo cảm hứng sử
thi đậm nét, sau năm 1975 ông đã chuyển sang cảm hứng thế sự với những vấn đề về đạo đức
và triết lý nhân sinh. Tác phẩm của Nguyễn Minh Châu có sức hấp dẫn riêng biệt, nhà văn
khẳng định bản sắc cá nhân nghệ sĩ bằng nét phong cách kết hợp hài hòa chất triết lí cuộc đời
với chất trữ tình lãng mạn, hình tượng nhân vật được soi thấu trong quan hệ đa chiều, phức tạp
và đề cao, tôn vinh những giá trị cuộc sống. Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” là truyện
ngắn tiêu biểu cho sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975. Đây là một tác phẩm hay
đậm tính nhân văn, thể hiện một lối tư duy mới mẻ của nhà văn về cái đẹp, nghệ thuật và số
phận con người trong cuộc mưu sinh nhọc nhằn kiếm tìm hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách.
B. PHÂN TÍCH ĐOẠN VĂN
Đoạn số 1:
Từ chỗ chiếc xe tăng mà tôi đang đứng với chiếc máy ảnh, đi quá mươi bước sâu vào
phía trong có một chiếc xe rà phá mìn của công binh Mỹ, chiếc xe sơn màu vàng tươi và to lớn
gấp đôi một chiếc xe tăng. Hai người đi qua trước mặt tôi. Họ đi đến bên chiếc xe rà phá mìn.
Người đàn bà đứng lại, ngước mắt nhìn ra ngoài mặt phá nước chỗ chiếc thuyền đậu một
thoáng, rồi đưa một cánh tay lên có lẽ định gãi hay sửa lại mái tóc nhưng rồi lại buông thõng
xuống, đưa cặp mắt nhìn xuống chân.
Lão đàn ông lập tức trở lên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt
lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ như những điều phải nói với nhau họ đã nói hết, chẳng nói
chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào
lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát
quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ.
Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”.
Người đàn bà với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục không hề kêu một tiếng, không chống
trả, cũng không tìm cách trốn chạy.
Tất cả mọi việc xẩy đến khiến tôi kinh ngạc đến mức, trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há
mồm ra mà nhìn. Thế rồi chẳng biết từ bao giờ, tôi đã vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào
tới.
Bóng một đứa con nít lao qua trước mặt tôi. Tôi vừa kịp nhận ra thằng Phác – thằng bé
trên rừng xuống vừa nằm ngủ với tôi từ lúc nửa đêm. Thằng bé cứ chạy một mạch, sự giận dữ
căng thẳng làm nó khi chạy qua không nhìn thấy tôi. Như một viên đạn trên đường lao tới đích
đã nhắm, mặc cho tôi gọi nó vẫn không hề ngoảnh lại, nó chạy tiếp một quãng ngắn giữa
những chiếc xe tăng rồi lập tức nhảy xổ vào cái lão đàn ông.
Cũng y hệt người đàn bà, thằng bé của tôi cũng như một người câm, và đến lúc này tôi
biết là nó khỏe đến thế!
Khi tôi chạy đến nơi thì chiếc thắt lưng da đã nằm trong tay thằng bé, không biết làm thế
nào nó đã giằng được chiếc thắt lưng, liền dướn thẳng người vung chiếc khóa sắt quật vào giữa
khuôn ngực trần vạm vỡ cháy nắng có những đám lông đen như hắc ín, loăn xoăn từ rốn mọc
ngược lên. Lão đàn ông định giằng lại chiếc thắt lưng nhưng chẳng được nữa, liền dang thẳng
cánh cho thằng bé hai cái tát khiến thằng nhỏ lảo đảo ngã dúi xuống cát.
(Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu, SGK Ngữ văn 12, NXBGD 2008, tr 72-73)
Phân tích phát hiện của nghệ sĩ Phùng được thể hiện ở đoạn trích trên. Từ đó, nhận
xét tình huống nhận thức trong tác phẩm.
I. MỞ BÀI
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Tk mở bài chung
- Nêu vấn đề cần nghị luận: Đoạn trích “Từ chỗ chiếc xe tăng mà tôi đang đứng…lảo đảo ngã
dúi xuống cát” thuộc phần đầu của truyện đã diễn tả phát hiện của nghệ sĩ Phùng, từ đó góp
phần thể hiện một tình huống truyện có tính nhận thức.
II. THÂN BÀI
1. Khái quát
- Khái niệm tình huống truyện: Đối với truyện ngắn, tình huống giữ vai trò là hạt nhân
của cấu trúc thể loại, nó chính là cái hoàn cảnh riêng được tạo nên bởi một sự kiện đặc biệt
khiến cho tại đó, cuộc sống hiện lên đậm đặc nhất và ý đồ tư tưởng của tác giả cũng được bộc
lộ sắc nét nhất. Bên cạnh đó, từ tình huống truyện, các sự kiện, biến cố của cốt truyện được
phát triển, tính cách nhân vật được bộc lộ. Nói cách khác thì tình huống truyện như một thứ
nước rửa ảnh làm nổi hình, nổi sắc nhân vật. Việc giải quyết những mâu thuẫn, xung đột
trong tình huống truyện sẽ bộc lộ rõ tư tưởng chủ đề của tác phẩm và dụng ý nghệ thuật của tác
giả. Việc sáng tạo nên các tình huống độc đáo biểu hiện khả năng quan sát, khám phá bản chất
cuộc sống, bản chất con người của nhà văn. Nhà văn Nguyễn Minh Châu quan niệm “Tình
huống truyện giữ vai trò là hạt nhân của cấu trúc thể loại, là một lát cắt của hiện thực cuộc
sống, nhưng chỉ qua một lát cắt ấy thấy được cả vòng đời thảo mộc trăm năm”. Với quan
niệm như vậy nên trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đã tạo ra tình
huống truyện hết sức độc đáo.
- Tính huống truyện ở đoạn trước:
Để có thể xuất bản một bộ lịch nghệ thuật về thuyền và biển, vị trưởng phòng khó tính đề nghị
nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đi thực tế chụp bổ sung một bức ảnh với cảnh biển
buổi sáng có sương mù. Chấp nhận yêu cầu của trưởng phòng, Phùng quyết định đến vùng
biển từng là chiến trường cũ nơi anh từng chiến đấu, ở đó anh có người bạn chiến đấu là Đẩu,
hiện là chánh án toà án huyện. Với tâm thế của một người nghệ sĩ chân chính khao khát cái đẹp,
Phùng đã mai phục ở bãi biển này suốt gần một tuần mà chưa chụp được bức ảnh nào ưng ý.
Sau khi suy nghĩ, tìm kiếm, Phùng quyết định sẽ thu vào tờ lịch tháng bảy của bộ lịch năm sau
cảnh thuyền thu lưới vào lúc bình minh. Và buổi sáng hôm ấy, bất ngờ anh lại gặp được một
cảnh “đắt” trời cho, cảnh mà theo Phùng suốt đời cầm máy anh chưa gặp được một lần. Cảnh
đẹp như “một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ”, một “vẻ đẹp thực đơn giản và
toàn bích”, mà đứng trước cảnh tượng ấy người nghệ sĩ thấy trái tim mình thắt lại, bối rối.
Thậm chí, trong giây phút hạnh phúc đến tuyệt đỉnh, Phùng tưởng như đã “khám phá ra chân
lý của sự toàn thiện, khám phá ra khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Đó là niềm hạnh
phúc của người nghệ sĩ khi bắt gặp cái đẹp, nhận ra vai trò thực sự của nghệ thuật. Phùng đã
bấm máy liên tục để thu hết vẻ đẹp tuyệt đỉnh của cảnh vật vào ống kính của mình.
2. Phát hiện của Phùng trong đoạn trích: Bức tranh hiện thực đời sống nghiệt ngã
Trong đoạn trích, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã tiếp tục thể hiện những khám phá, phát
hiện về nghệ thuật và đời sống, khiến tình huống truyện được phát triển. Éo le thay khi con
thuyền ngư phủ đẹp như một giấc mơ trong bức tranh nghệ thuật đẹp một cách toàn bích ấy tiến
vào bờ thì bước xuống từ đó không phải là những con người đẹp và toàn thiện như cổ tích mà là
một người đàn bà xấu xí, một người đàn ông độc ác và một màn bạo lực gia đình khiến cho
không chỉ Phùng mà người đọc cũng sửng sốt và đau đớn.
Bạo lực gia đình lại diễn ra ngay sau chiếc xe rà phá mìn của Mĩ trên bãi cát, và gã đàn
ông đánh vợ bằng chiếc thắt lưng da của lính Ngụy. Phải chăng cái ác mà Mĩ Ngụy gieo xuống
đất nước ta còn không khủng khiếp bằng cuộc chiến giữa cái thiện với cái ác trong cuộc sống
hòa bình. Hay đó là hậu quả của cuộc chiến tranh vẫn hiện hữu ngay cả khi hòa bình lập lại.
Tưởng rằng cuộc chiến đấu giành độc lập tự do ta đã giải quyết được trọn vẹn, mang lại niềm
vui cho mọi người. Nhưng sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng còn biết bao vấn đề đặt ra:
Đói kém, bệnh tật, bạo lực gia đình … Dấu tích của chiến tranh để lại không chỉ là mấy cái xe
hỏng mà hơn nữa là cuộc sống đói nghèo, lạc hậu của những người như hai con người bất hạnh
kia. Người đàn bà từ dáng vẻ đến hành động đều thể hiện sự bất lực, buông xuôi và cam chịu
thể hiện qua cánh tay buông thõng, đôi mắt nhìn xuống dưới chân khi “đưa một cánh tay lên có
lẽ định gãi hay sửa lại mái tóc nhưng rồi lại buông thõng xuống, đưa cặp mắt nhìn xuống
chân”.
Tiếp đó, Phùng lần lượt chứng kiến những cảnh tượng vô cùng đau lòng. Lão đàn ông hàng chài
ra sức đánh người vợ khốn khổ một cách tàn bạo. Với môt vẻ “hùng hổ, mặt đỏ gay”, lão đàn
ông dùng chiếc thắt lưng lính ngụy ngày xưa để đánh vợ “chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn
giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà”. Trong
cơn giận dữ như lửa cháy, lão vừa nghiến răng ken két vừa dùng hết sức lực để dùng chiếc thắt
lưng quất tới tấp vào người đàn bà. Không chỉ đánh vợ tàn độc mà lão đàn ông còn ra sức chửi
rủa. Mỗi nhát quất xuống là một câu nguyền rủa đầy nghiệt ngã dành cho vợ con: “Mày chết đi
cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho
ông nhờ!”. Nhưng kì lạ là trước trận đòn như với kẻ thù của người đàn ông, người đàn bà
chỉ im lặng, nhẫn nhục chịu đựng, không chống trả cũng không chạy trốn.
Phùng chưa hiểu nổi những gì đang xảy ra trước mắt, sau vài phút đứng há mồm ra mà
nhìn, anh chỉ kịp vứt máy ảnh định chạy đến can thiệp, Nhưng cũng chưa kịp làm gì để giúp đỡ
người đàn bà thì lại chứng kiến màn bạo lực gia đình đau lòng hơn. Thằng Phác, là con trai của
lão đàn ông và người đàn bà chạy tới như một mũi tên và giật chiếc thắt lưng từ tay cha nó,
vung chiếc khóa sắt quật vào giữa khuôn ngực trần của cha để che chở cho người mẹ đáng
thương. Lão đàn ông từ chỗ đánh vợ thì giờ chuyển sang đánh con “Lão đàn ông định giằng lại
chiếc thắt lưng nhưng chẳng được nữa, liền dang thẳng cánh cho thằng bé hai cái tát khiến
thằng nhỏ lảo đảo ngã dúi xuống cát”.
Có thể nhận thấy trong đoạn văn là một tấn bi kịch gia đình đầy đau đớn. Trong gia đình
ấy có một người chồng độc ác, đánh vợ một cách tàn độc, nguyền rủa vợ con bằng những lời lẽ
nặng nề, nghiệt ngã nhất; có một người vợ chỉ biết cam chịu trước những trận đòn vô cớ của
người chồng; có một đứa con vì thương mẹ nên căm ghét và đánh lại cả bố. Nghệ sĩ Phùng là
người chứng kiến câu chuyện gia đình ấy và từ đây trong anh có thêm những phát hiện, nhận
thức về hiện thực đời sống. Chỉ có điều, phát hiện lần này của anh đầy bất ngờ và trớ trêu như
trò đùa quái ác của cuộc sống mà trong đó, cuộc đời thực hiện lên thật trần trụi, đau đớn biết
bao. Hóa ra, cuộc sống không chỉ tồn tại cái đẹp mà còn có bao nhiêu điều nghịch lí, đau lòng.
Nếu như trước đó, cảnh tượng hiện ra trước mắt anh là bức tranh nghệ thuật đầy lãng mạn,
đẹp tuyệt đỉnh thì màn bạo lực gia đình liên hoàn mà anh vừa chứng kiến chính là bức tranh
hiện thực đời sống đầy nghiệt ngã. Tất cả những sự việc ấy diễn ra khiến cảm giác, cảm xúc
trong Phùng hoàn toàn thay đổi. Không còn thấy hạnh phúc tràn ngập tâm hồn nữa mà thay vào
đó là ngạc nhiên, đau đớn. Đằng sau bức tranh nghệ thuật đẹp, lãng mạn mà anh tưởng là toàn
thiện, toàn mĩ kia hóa ra lại ẩn chứa một hiện thực đời sống đầy nghiệt ngã, đáng sợ. Và đó là
chính là tính hai mặt của hiện thực đời sống.
3. Ý nghĩa của phát hiện (Nhận xét về tình huống nhận thức trong tác phẩm)
Những khám phá, phát hiện của nghệ sĩ Phùng trong đoạn trích và tác phẩm đã bộc lộ
một tình huống truyện vô cũng độc đáo, có tính nhận thức về đời sống và nghệ thuật. Thông
điệp nhận thức được thể hiện sâu sắc khi giúp người đọc nhận ra:
Cuộc sống hóa ra vốn chứa đầy những nghịch lí giữa trong và ngoài, phải và trái, xa và
gần… nhiều khi trong cùng một sự vật, một sự việc, một con người cũng chứa đầy những mâu
thuẫn, đối lập. Bởi vậy con người không được nhìn cuộc đời bằng cái nhìn đơn giản, một chiều
mà cần có cái nhìn đa diện, nhiều chiều để khám phá ra bản chất thật của đời sống.
Những khám phá, phát hiện ấy còn giúp ta nhận thức được mối quan hệ giữa hiện thực đời sống
và nghệ thuật. Con thuyền nghệ thuật thì lãng mạn, lung linh huyền ảo nhưng ở rất xa, còn cuộc
đời đôi khi rất nghiệt ngã lại ở rất gần. Người nghệ sĩ chân chính không chỉ phải có cái nhìn đa
diện nhiều chiều để phát hiện ra bản chất thật của đời sống mà còn phải đừng vì nghệ thuật mà
quên cuộc đời. Bởi nghệ thuật chân chính là cuộc đời
và vì cuộc đời. Người nghệ sĩ biết rung động trước cái đẹp trước hết phải là người biết vui
buồn, yêu ghét trước cuộc đời.
Vậy là Phùng đã nhận ra một điều mà có lẽ từ đó sẽ thay đổi cái nhìn của anh về lao động
nghệ thuật và khẳng định quan niệm nghệ thuật vị nhân sinh. Nghệ thuật trước hết phải gắn liền
với cuộc sống, phải phản ánh chân thật cuộc sống. Nghệ thuật đích thực không thể xa rời cuộc
đời, dù cuộc đời đó có đau đớn, trần trụi bao nhiêu. Vì nghệ thuật sẽ không là gì nếu nó không
phục vụ cho cuộc sống và làm cho nó tốt hơn lên. Nghệ thuật chỉ có thể sống được và xanh
tươi khi nó thực sự bám rễ vào cuộc đời. Nói như Biêlinxki thì văn học “trước hết là cuộc
đời, sau đó mới là nghệ thuật”. Chi tiết Phùng vứt bỏ chiếc máy ảnh mà lao vào giúp đỡ người
đàn bà đã khẳng định rõ thêm điều này.
3. Đánh giá
Trong “Chiếc thuyền ngoài xa” nhà văn Nguyễn Minh Châu đã tạo nên một tình huống
truyện khá độc đáo. Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện đặc sắc kết hợp với cốt truyện hấp
dẫn, nghệ thuật khắc họa nhân vật sắc sảo, ... Điểm nhìn linh hoạt bởi truyện được kể ở ngôi thứ
nhất xưng "tôi", và người kể chuyện chứng kiến lại toàn bộ câu chuyện từ đầu đến cuối, ít có sự
tham gia của các nhân vật khác. Người kể chuyện mang đặc điểm của người nghệ sĩ đang đi tìm
cái đẹp theo một chủ đề: sự hài hòa trong yên tĩnh của con người và thiên nhiên khiến người
đọc nhận ra nhiều điều về cuộc sống và mối quan hệ giữa cuộc sống và nghệ thuật. Bức tranh
người nghệ sĩ chụp được tưởng là bức tranh tĩnh vật thì nó lại rất động với trạng thái phức tạp,
nhức nhối của nó. Tình huống truyện giúp ta hiểu rõ hơn về các nhân vật, làm cho câu chuyện
thêm hấp dẫn và chứa đựng giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc:
+ Giá trị hiện thực: Sau khi đất nước hòa bình thống nhất, cuộc sống đã tốt đẹp hơn rất
nhiều nhưng đâu đó vẫn còn những khoảng tối hoặc tranh sáng tranh tối. Cuộc sống đói nghèo
lạc hậu tăm tối là nguyên nhân dẫn tới nạn bạo hành gia đình. Cuộc chiến đấu bảo vệ quyền
sống của cả dân tộc trải qua bao hy sinh gian khổ nhưng cuộc đấu tranh bảo vệ quyền sống của
từng con người còn đầy cam go, lâu dài, cần có sự quan tâm của các cấp chính quyền và cộng
đồng.
+ Giá trị nhân đạo: Sự chia sẻ cảm thông của tác giả với những số phận đau khổ tủi nhục
của những người lao động vô danh đông đảo trong xã hội. Lên án, đấu tranh với cái xấu, cái ác
vẫn còn tồn tại trong từng gia đình. Phát hiện, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người lao
động và hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Đoạn số 2
Phân tích số phận và vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người đàn bà hàng chài được nhà
văn Nguyễn Minh Châu thể hiện trong đoạn trích sau:
Người đàn bà hướng về phía Đẩu, tự nhiên chắp tay lại vái lia lịa:
- Con lạy quý toà...
- Sao, sao?
- Quý toà bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó...
Lúc bấy giờ tôi đang ngồi giấu mặt sau bức màn vải hoa ngăn chỗ làm việc bên ngoài và
phòng ngủ bên trong của Đẩu. Sau câu nói của người đàn bà, tôi cảm thấy gian phòng ngủ
lồng lộng gió biển của Đẩu tự nhiên bị hút hết không khí, trở nên ngột ngạt quá. Tôi vén lá màn
bước ra.
Người đàn bà nhận ra được tôi ngay. Mụ nhấp nhổm xoay mình trên chiếc ghế như bị kiến
đốt, và về sau tôi mới sực nghĩ ra, mụ nghĩ rằng toà án đã bố trí sẵn tôi ngồi phía sau để chuẩn
bị làm nhân chứng.
- Chị cứ ngồi nguyên đấy! – Đẩu nói với vẻ đầy hào hứng của một con người bảo vệ công
lí vừa có thêm người đến tiếp viện, anh chạy sang phòng bên xách một chiếc ghế cho tôi. Bấy
giờ dưới con mắt của người đàn bà hàng chài, vị chánh án không phải là Đẩu đã trở về ngồi
sau chiếc bàn lớn mà là tôi, với mấy vết thương đã lên da non nhưng vẫn để dấu vết trên mặt.
- Tuỳ bà! – Đẩu thay đổi cách xưng hô, khoác lên mình cái cung cách bề ngoài của một vị
chánh án - chủ trương nguyên tắc của chúng tôi là kêu gọi hoà thuận...
Đang ngồi cúi gục xuống, người đàn bà bỗng ngẩng lên nhìn thẳng vào chúng tôi, lần lượt
từng người một, với một vẻ ban đầu hơi ngơ ngác.
- Chị cám ơn các chú! - Người đàn bà đột nhiên thốt lên bằng một giọng khẩn thiết - Đây
là chị nói thành thực, chị cám ơn các chú. Lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu có phải là
người làm ăn... cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó
nhọc...
(Trích Chiếc thuyền ngoài xa, Ngữ văn 12, Tập hai,
NXB Giáo dục Việt Nam 2020, tr. 74)
I. MỞ BÀI
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Tk mở bài chung
- Nêu vấn đề cần nghị luận: Đoạn trích “Người đàn bà…khó nhọc” đã giúp người đọc hiểu
thêm về nhân vật người đàn bà, từ đó thấy được vẻ đẹp khuất lấp của nhân vậy và góp phần thể
hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.
II. THÂN BÀI
1. Khái quát
- Nhà văn Nguyễn Minh Châu quan niệm “Tình huống truyện giữ vai trò là hạt nhân
của cấu trúc thể loại, là một lát cắt của hiện thực cuộc sống, nhưng chỉ qua một lát cắt ấy
thấy được cả vòng đời thảo mộc trăm năm”. Với quan niệm như vậy nên trong truyện ngắn
Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đã tạo ra tình huống truyện hết sức độc đáo. Để
trong tình huống ấy, các nhân vật phải bộc lộ cách ứng xử, tính cách và phẩm chất.
Tình huống truyện trong “Chiếc thuyền ngoài xa” là để có thể xuất bản một bộ lịch nghệ
thuật về thuyền và biển, vị trưởng phòng khó tính đề nghị nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đi thực tế
chụp bổ sung một bức ảnh với cảnh biển buổi sáng có sương mù. Chấp nhận yêu cầu của
trưởng phòng, Phùng quyết định đến vùng biển từng là chiến trường cũ nơi anh từng chiến đấu,
ở đó anh có người bạn chiến đấu là Đẩu, hiện là chánh án toà án huyện. Sau gần một tuần mai
phục, buổi sáng hôm ấy, bất ngờ anh lại gặp được một cảnh “đắt” trời cho, cảnh mà theo Phùng
suốt đời cầm máy anh chưa gặp được một lần. Cảnh đẹp như “một bức tranh mực tàu của một
danh họa thời cổ”, một “vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích”, mà đứng trước cảnh tượng ấy
người nghệ sĩ thấy trái tim mình thắt lại, bối rối. Thậm chí, trong giây phút hạnh phúc đến tuyệt
đỉnh, Phùng tưởng như đã “khám phá ra chân lý của sự toàn thiện, khám phá ra khoảnh khắc
trong ngần của tâm hồn”. Đó là niềm hạnh phúc của người nghệ sĩ khi bắt gặp cái đẹp, nhận ra
vai trò thực sự của nghệ thuật. Phùng đã bấm máy liên tục để thu hết vẻ đẹp tuyệt đỉnh của cảnh
vật vào ống kính của mình. Nhưng éo le thay khi con thuyền ngư phủ đẹp như một giấc mơ
trong bức tranh nghệ thuật đẹp một cách toàn bích ấy tiến vào bờ thì bước xuống từ đó không
phải là những con người đẹp và toàn thiện như cổ tích mà là một người đàn bà xấu xí, một
người đàn ông độc ác và một màn bạo lực gia đình khiến cho không chỉ Phùng mà người đọc
cũng sửng sốt và đau đớn. Lão đàn ông hàng chài ra sức đánh người vợ khốn khổ một cách tàn
bạo. Trong cơn giận dữ như lửa cháy, lão vừa nghiến răng ken két vừa dùng hết sức lực để
dùng chiếc thắt lưng quất tới tấp vào người đàn bà. Không chỉ đánh vợ tàn độc mà lão đàn ông
còn ra sức chửi rủa. Mỗi nhát quất xuống là một câu nguyền rủa đầy nghiệt ngã dành cho vợ
con: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”. Nhưng kì lạ là trước
trận đòn như với kẻ thù của người đàn ông, người đàn bà chỉ im lặng, nhẫn nhục chịu đựng,
không chống trả cũng không chạy trốn. Phùng cũng chưa kịp làm gì để giúp đỡ người đàn bà
thì lại chứng kiến màn bạo lực gia đình đau lòng hơn. Thằng Phác là con trai của lão đàn ông
và người đàn bà vì thương mẹ nên căm ghét và lao vào đánh lại cả bố để rồi lão đàn ông tát cho
thằng bé hai cái khiến nó ngã dúi xuống cát rồi bỏ đi. Vì muốn giúp đỡ người đàn bà nên chánh
án Đẩu đã gọi chị đến tòa án và trong hoàn cảnh ấy vẻ đẹp của nhân vật người đàn bà được bộc
lộ rõ nét.
2. Số phận và vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người đàn bà hàng chài qua đoạn trích
2.1. Số phận:
Đọc đoạn trích cũng như đọc hết câu truyện người đọc vẫn không biết tên của người đàn
bà là gì, tác giả đã gọi một cách phiếm định: khi thì gọi là người đàn bà hàng chài, lúc lại gọi
mụ, khi thì gọi chị....như một sự xóa mờ tên tuổi nhằm tô đậm thêm số phận của chị. Chị là
người vô danh, là hình ảnh tiêu biểu cho cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ như bao người phụ nữ
khác không hiếm gặp trên những miền quê Việt Nam. Điều đó chỉ ra một thực tế rằng, người
đàn bà không phải là hiện tượng cá biệt và cũng không phải quá phổ biến nhưng ta có thể bắt
gặp đâu đó trong cuộc đời.
Trong suốt tác phẩm, người đọc có thể cảm nhận dường như mọi sự bất hạnh của cuộc đời
đều trút cả lên người đàn bà: xấu, nghèo khổ, lam lũ, ít học, lại phải thường xuyên chịu những
trận đòn roi của chồng vũ phu, tổn thương, đau xót cho các con phải nhìn cảnh bố đánh mẹ…
Số phận, cuộc đời của chị được tác giả tái hiện với đầy sự cảm thông, chia sẻ và càng hiện ra rõ
nét hơn khi chị đến toà án huyện.
Vì lạc hậu, ít học, nghèo khổ và hơn nữa có thể do bị bạo hành thường xuyên nên người
đàn bà xuất hiện ở tòa án trong dáng vẻ và hành động đầy tự ti, rụt rè đến tội nghiệp. Chị xưng
là con, gọi chánh án Đẩu là quý tòa, thậm chí còn có hành động chắp tay lại vái lia lịa. Khi
nhận ra Phùng là người đã chứng kiến câu chuyện, chị nhấp nhổm xoay mình trên chiếc ghế
như bị kiến đốt. Có lẽ, chị nghĩ rằng tòa sắp xếp Phùng đến đây làm nhân chứng.
2.2. Vẻ đẹp khuất lấp
Ai đó đã từng nói “Tác phẩm nghệ thuật chân chính bao giờ cũng là sự tôn vinh con
người qua những hình thức nghệ thuật độc đáo”. Phải chăng vì vậy mà ta có thể bắt gặp
nhiều nghệ sĩ có phong cách hoàn toàn khác nhau trên cùng một giao lộ của hành trình kiếm tìm
và khám phá vẻ đẹp tâm hồn con người. Nhà văn Nguyễn Minh Châu trong đoạn trích cũng như
trong tác phẩm đã khám phá, phát hiện ra vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người đàn bà. Vẻ
đẹp của chị không dễ nhận thấy vì bị ẩn mình trong bề ngoài thô kệch, xấu xí nhưng rất đáng
trân trọng và ngợi ca.
Người đàn bà hàng chài có vẻ ngoài xấu xí, ít học, lam lũ và cuộc đời đầy bất hạnh ấy hóa
ra bên trong lại ẩn chứa nhiều phẩm chất tốt đẹp. Điều đó thể hiện rõ qua cách ứng xử của chị
trước bi kịch gia đình. Khi biết hoàn cảnh gia đình của người đàn bà, cách giải quyết của chánh
án Đẩu là cho gọi người đàn bà tới và khẳng định: “Chị không sống nổi với lão vũ phu ấy đâu”.
Phùng và Đẩu cho rằng người đàn bà chỉ có cách duy nhất là từ bỏ gã chồng tàn ác và chắc chắn
sẽ chấp nhận sự giúp đỡ của mình nhưng trái với điều họ mong đợi người đàn bà đã kiên quyết
từ chối. Người đàn bà thậm chí còn van lạy để đừng bắt chị bỏ chồng “Quý toà bắt tội con cũng
được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…”. Câu trả lời cũng như phản ứng cuả người
đàn bà làm cho căn phòng “lồng lộng gió biển tự nhiên bị hút hết không khí trở nên ngột ngạt”.
Hóa ra, cách giải quyết của Phùng và Đẩu tuy đứng về phía người đàn bà nhưng rất thiếu thực
tế. Họ chỉ nghĩ giúp đỡ người đàn bà mà chưa nghĩ đến việc những đứa trẻ rồi sẽ ra sao? Những
người làm ăn lam lũ khó nhọc ra khơi lao động cần phải có bàn tay của người đàn ông. Người
đàn ông là trụ cột trong nhà. Người đàn bà ấy và cả chục đứa trẻ vô tội ngây thơ kia sẽ sống ra
sao khi trên thuyền không còn bàn tay lao động chủ đạo của người đàn ông?...
- Vậy vì sao người đàn bà không chịu bỏ chồng. Đó là vì:
+ Thương con: Quyết định không bỏ chồng của người đàn bà chủ yếu là vì chị thương
con. Chị nhận thấy rằng, các con là cuộc sống, lẽ sống, là tất cả những gì chị có trong cuộc đời
của mình. Vì thương con nên chị cần có người đàn ông để chèo chống lúc sóng gió phong ba,
để cùng nuôi dạy đàn con trên dưới mười đứa. Chị đã nói rằng đàn bà hàng chài không sống
như trên đất được mà phải sống vì con, phải gánh lấy cái khổ để nuôi con khôn lớn. Lòng
thương con của chị khiến chị chấp nhận hi sinh bản thân, cam chịu những trận đòn vũ phu của
chồng, không kêu van, không trốn chạy. Thậm chí, chị coi việc mình bị đánh đập như một phần
đã rất quen thuộc của cuộc đời, là chuyện đương nhiên. Trong khổ đau, bất hạnh chị vẫn trân
trọng, nâng niu những hạnh phúc hiếm hoi và niềm hạnh phúc nhất của chị là khi được nhìn đàn
con ăn no. Tình mẫu tử của chị như một bản năng mãnh liệt ngàn đời của người phụ nữ được
bộc lộ một cách cảm động và sâu sắc nhất, vút lên trên cái nền của cuộc sống cơ cực, ngang trái,
đau đớn đầy xót xa của chị. Vì có những phụ nữ như chị nên nếu ai đó có ví công lao của người
mẹ như biển Thái Bình thì thiết nghĩ cũng thật dễ hiểu.
+ Thấu hiểu chồng và có tấm lòng bao dung, vị tha, nhân hậu: Bị chồng đánh tàn độc
với ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng nhưng người đàn bà không hề oán trách
chồng. Chị hiểu nguyên nhân sâu xa lão đàn ông trở nên vũ phu là do nghèo đói. Cuộc mưu
sinh của gia đình hơn chục người như dồn hết gánh nặng lên đôi vai của người đàn ông đã biến
người chồng hiền lành của chị trở thành ác độc. Chị thấu hiểu nỗi khổ của chồng nên vì thế mà
chị luôn bảo vệ chồng trước những đứa con và khi nói chuyện với Phùng và Đẩu “Lòng các
chú tốt, nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn... cho nên các chú đâu có hiểu được cái
việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc...”. Thấu hiểu chồng phải làm ăn lam lũ, khó nhọc
như vậy nên chị thậm chí còn nhận hết trách nhiệm, lỗi lầm về mình, sẵn sàng chấp bị bắt tội,
phạt tù để không phải bỏ chồng.
- Từng trải, sắc sảo, thấu hiểu lẽ đời và rất tinh tế: Bên trong vẻ ít học, lạc hậu của chị là
sự sắc sảo, từng trải, thấu hiểu lẽ đời và rất tinh tế. Trong đoạn trích, người phụ nữ đáng thương
đã khiến cho Phùng và Đẩu đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Chị không những không
bỏ chồng mà còn nói: "Đây là chị nói thành thực, chị cám ơn các chú. Lòng các chú tốt, nhưng
các chú đâu có phải là người làm ăn... cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các
người làm ăn lam lũ, khó nhọc...". Trong lời nói này ta thấy người đàn bà bỗng chốc trở nên
nhanh nhẹn và sắc sảo không ngờ. Chị nói về cuộc đời với những lí lẽ riêng của mình, chủ động
thay đổi cách xưng hô từ "con"- quý tòa" sang "chị - các chú". Dưới góc nhìn ngôn ngữ có thể
thấy người phụ nữ khốn khổ ấy đã khéo léo chuyển từ mối quan hệ thứ bậc (con - quý tòa)
trong đó người đàn bà ở vai dưới sang quan hệ thân sơ (chị - chú), người đàn bà trở thành vai
trên. Chị khen người ta trước "lòng các chú tốt" rồi mới phê bình người ta "các chú đâu có hiểu
được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc..." là cách hữu hiệu để buộc Phùng và Đẩu
phải tiếp nhận câu chuyện ở một vị thế khác, chỉ cho họ thấy được những khuyết điểm của
mình là sự thiếu từng trải, va vấp. chỉ biết nhìn cuộc đời qua một mớ lí thuyết, sách vở. Để từ
đó Đẩu và Phùng phải vỡ lẽ và “ngộ” ra bao điều về cuộc sống.
3. Đánh giá
3.1. Nghệ thuật
Bức chân dung của người đàn bà hàng chài trong đoạn trích được tác giả xây dựng bằng
nghệ thuật đậm nét sự sáng tạo. Nguyễn Minh Châu đã xây dựng được tình huống mà ở đó bộc
lộ mọi mối quan hệ, bộc lộ khả năng ứng xử, thử thách phẩm chất, tính cách, tạo ra những bước
ngoặt trong tư tưởng, tình cảm và cả trong cuộc đời nhân vật. Tình huống truyện mang ý nghĩa
khám phá, phát hiện đời sống. Ngôn ngữ người kể chuyện thể hiện qua nhân vật Phùng, sự hóa
thân của tác giả. Chọn người kể chuyện như thế đã tạo ra một điểm nhìn trần thuật sắc sảo, tăng
cường khả năng khám phá đời sống, lời kể trở nên khách quan, chân thật, giàu sức thuyết phục.
Ngôn ngữ nhân vật phù hợp với đặc điểm tính cách. Lời văn giản dị mà sâu sắc, đa nghĩa.
3.2. Ý nghĩa của đoạn văn và vài trò của nhân vật người đàn bà
Thông qua vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người đàn bà, đoạn văn cũng như tác phẩm tác
phẩm đã bộc lộ giá trị nhân đạo, nhân văn sâu sắc. Đó là ca ngợi vẻ đẹp của con người giữa
cuộc đời đầy sóng gió. Người đàn bà tiêu biểu cho biết bao nhiêu phụ nữ sống nghèo khổ, bất
hạnh và tiêu biểu cho những người phụ nữ Việt Nam có nhiều phẩm chất cao quý như tảo tần,
lam lũ, chịu thương chịu khó, thương chồng thương con, giàu đức hi sinh và lòng vị tha cao
thượng. Với nhân vật người đàn bà, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã tiếp tục cuộc hành trình đi
tìm hạt ngọc ẩn sâu trong tâm hồn con người Việt Nam. Từ đó khiến chúng ta rút ra rằng không
thể nhìn đời, nhìn người bằng một cái nhìn đơn giản, một chiều mà phải nhìn đời, nhìn người
bằng cái nhìn đa diện nhiều chiều để khám phá được cái đẹp về bản chất nhiều khi ẩn rất sâu
trong bề ngoài thô nhám.
Đoạn số 3
Đọc đoạn trích sau:
“Người đàn bà bổng chép miệng, con mắt như đang nhìn suốt cả đời mình:
- Giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rộng hơn, từ ngày cách mạng
về đã đỡ đói khổ chứ trước kia vào các vụ bắc, ông trời làm động biển suốt hang tháng, cả nhà
vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối…
- Lão ta trước hồi bảy nhăm có đi lính nguỵ không ? – Tôi bỗng hỏi một câu như lạc đề.
- Không chú à, cũng nghèo khổ, túng quẫn đi vì trốn lính – bỗng mụ đỏ mặt – nhưng cái
lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật.
- Vậy sao không lên bờ mà ở - Đẩu hỏi.
- Làm nhà trên đất ở một chỗ đâu có thể làm được cái nghề thuyền lưới vó ? Từ ngày cách
mạng về, cách mạng đã cấp đất cho nhưng chẳng ai ở, vì không bỏ nghề được !
- Ở trên thuyền có bao giờ lão ta đánh chị không ? – Tôi hỏi.
- Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống
rượu…Giá mà lão uống rượu… thì tôi còn đỡ khổ…Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được
với lão…đưa tôi lên bờ mà đánh…
- Không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được! – Đẩu và tôi cùng một lúc thốt lên.
- Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất
vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông…
- Phải, phải, bây giờ tôi đã hiểu, - bất ngờ Đẩu trút một tiếng thở dài đầy chua chát, - trên
thuyền phải có một người đàn ông…dù hắng man rợ, tàn bạo ?
- Phải – Người đàn bà đáp – Cũng có khi biển động song gió chứ chú ?
Lát lâu sau mụ lại mới nói tiếp:
- Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hang chài ở thuyền chúng tôi cần
phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp
con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là đ...
 









Các ý kiến mới nhất