Violet
Dethi

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

ĐỀ KTRA GIỮA KÌ 1 SỐ 4

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Võ Thị Huyền Trang
Ngày gửi: 17h:57' 05-11-2024
Dung lượng: 462.9 KB
Số lượt tải: 70
Số lượt thích: 0 người
ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ 1 – ĐỀ SỐ 4
MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 9
Thời gian làm bài: 90 phút
BIÊN SOẠN: BAN CHUYÊN MÔN LOIGIAIHAY.COM
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:
(Tóm tắt phần đầu: Nguyễn Sinh người Thanh Trì, diện mạo đẹp đẽ, tư chất thông minh,
giọng hát ngọt ngào. Chàng sớm mồ cô cha, nhà nghèo nên học hành dang dở, chàng làm
nghề chèo đò. Vì say đắm giọng hát và vẻ ưa nhìn của chàng nên cô con gái một nhà giàu họ
Trần đã đem lòng yêu mến, sai người hầu đem khăn tay đến tặng, dặn chàng nhờ người mối
manh đến hỏi. Nguyễn sinh nhờ mẹ bảo người mối manh đến nhà nàng nhưng bố nàng chê
chàng nghèo nên không nhận lời, còn dùng lời lẽ không hay để mắng bà mối. Chàng phẫn chí
bỏ đi xa để lập nghiệp; cô gái biết chuyện âm thầm đau khổ chẳng thể giãi bày cùng ai, dần
sinh bệnh, hơn một năm sau thì nàng qua đời.)
Trước khi nhắm mắt, nàng dặn cha:
- Trong ngực con chắc có một vật lạ. Sau khi con nhắm mắt, xin cha cho hỏa
táng để xem vật đó là vật gì?
Ông làm theo lời con. Khi lửa thiêu đã lụi, ông thấy trong nắm xương tàn, sót lại một vật, to
bằng cái đấu, sắc đỏ như son, không phải ngọc cũng chẳng phải đá, nó trong như gương,
búa đập không vỡ. Nhìn kĩ thì thấy trong khối ấy có hình một con đò, trên đò một chàng trai
trẻ tuổi đang ngả đầu tựa mái chèo nằm hát. Nhớ lại việc nhân duyên trước kia của con, ông
chợt hiểu ra vì chàng lái đò mà con gái ông chết, hối thì không kịp nữa. Ông bèn đóng một
chiếc hộp con, cất khối đỏ ấy vào trong, đặt lên giường của con gái.
Nguyễn sinh bỏ nhà lên Cao Bằng làm khách của trấn tướng. Chàng vì hát hay nên được trấn
tướng yêu quý. Hơn một năm sau, chàng dần dần có của nả, rồi lại mấy năm nữa tích cóp lại
được hơn hai trăm lạng vàng. Chàng nghĩ: “Số vàng này đủ để chi dùng cho việc cưới xin”.
Xong, chàng sửa soạn hành trang trở về. Đến nhà, chàng hỏi thăm ngay cô gái nọ. Được
nghe tất cả đầu đuôi về nàng, chàng vô cùng đau đớn, vội sắm sửa lễ vật đến điếu nàng. Khi
chàng làm lễ xong, bố cô có mời chàng ở lại dùng cơm. Chàng xin ông cho xem vật đã được
cất giấu trong hộp con. Ông mở hộp lấy ra đưa chàng. Chàng nâng niu cầm lấy, lòng vô
cùng xúc động, hai dòng lệ trào ra nhỏ xuống khối đá đỏ. Bỗng khối đá tan ra thành nước,
giọt giọt đều biến thành máu tươi, chảy đầm đìa vào tay áo chàng. Chàng cảm kích mối tình
của nàng, thề không lấy ai nữa.

1

(Trích Chuyện tình ở Thanh Trì, Lan Trì kiến văn lục, Vũ Trinh, in trong cuốn Văn xuôi tự sự
Việt Nam thời trung đại, tập 1, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và tuyển soạn, NXB Giáo dục,
1997, tr 424-426)
Câu 1 (1.0 điểm). Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên. Đoạn trích được
kể theo ngôi thứ mấy?
Câu 2 (0.5 điểm). Theo đoạn trích, sau khi bố của cô gái không đồng ý mối duyên, chàng trai
có phản ứng như thế nào?
Câu 3 (1.0 điểm). Xác định và giải nghĩa từ Hán Việt trong câu sau:
“Trong ngực con chắc có một vật lạ. Sau khi con nhắm mắt, xin cha cho hỏa táng để xem vật
đó là vật gì?”
Câu 4 (0.5 điểm). Nêu chủ đề của văn bản.
Câu 5 (1.0 điểm). Từ câu chuyện tình ở Thanh Trì, em có suy nghĩ gì về khát vọng tình yêu
thời phong kiến?
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm):
Từ nội dung ngữ liệu ở phần Đọc – hiểu, hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận
của em về ý nghĩa của chi tiết: “Chàng nâng niu cầm lấy, lòng vô cùng xúc động, hai dòng lệ
trào ra nhỏ xuống khối đá đỏ. Bỗng khối đá tan ra thành nước, giọt giọt đều biến thành máu
tươi, chảy đầm đìa vào tay áo chàng.”
Câu 2 (4,0 điểm):
Viết bài văn nghị luận bàn về giải pháp phù hợp để giảm thiểu rác thải nhựa trong trường học
và các gia đình.

2

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT
THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN LOIGIAIHAY.COM
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên. Đoạn trích được kể theo ngôi thứ
mấy?
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức đã học về các phương thức biểu đạt
- Chú ý ngôn ngữ, lời người kể chuyện
Lời giải chi tiết:
- Phương thức biểu đạt chính: Tự sự
- Ngôi kể: Ngôi thứ ba.
Câu 2.
Theo đoạn trích, sau khi bố của cô gái không đồng ý mối duyên, chàng trai có phản ứng
như thế nào?
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích tóm tắt phần đầu
Lời giải chi tiết:
Theo đoạn trích, sau khi bố của cô gái không đồng ý mối duyên, chàng trai đã phẫn chí bỏ đi
xa để lập nghiệp
Câu 3.
Xác định và giải nghĩa từ Hán Việt trong câu sau:
“Trong ngực con chắc có một vật lạ. Sau khi con nhắm mắt, xin cha cho hỏa táng để xem
vật đó là vật gì?”
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức đã học về từ Hán Việt
Lời giải chi tiết:
- Từ Hán Việt: hỏa táng
- Giải nghĩa: Hỏa táng là hình thức mai táng người chết bằng cách thiêu xác để lấy tro cốt
đựng trong hũ, bình
Câu 4.
3

Nêu chủ đề của văn bản
Phương pháp:
Từ nội dung rút ra chủ đề văn bản
Lời giải chi tiết:
Chủ đề của văn bản: Qua câu chuyện tình yêu bi kịch của chàng trai và cô gái ở Thanh Trì,
tác giả Vũ Trinh muốn thể hiện khát vọng tình yêu tự do của lứa đôi thời phong kiến và phê
phán sự ngăn cản của gia đình đại diện cho sự phân biệt giàu nghèo trong xã hội xưa
Câu 5.
Từ câu chuyện tình ở Thanh Trì, em có suy nghĩ gì về khát vọng tình yêu thời phong kiến?
Phương pháp:
Dựa vào ngữ cảnh, bối cảnh thời phong kiến cùng với hiểu biết của em, nêu suy nghĩ
Lời giải chi tiết:
- Suy nghĩ về khát vọng tình yêu trong xã hội phong kiến:
+ Khát vọng tình yêu là khát vọng chính đáng của con người ở mọi thời. Những đôi lứa sống
trong xã hội phong kiến mong muốn tình yêu tự do, muốn vượt lên khỏi những ràng buộc của
lễ giáo phong kiến như “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, “môn đăng hộ đối”,...
+ Tình yêu của nhiều cặp đôi vấp phải những sự ngăn cản, cấm đoán đến từ gia đình, xã hội.
+ Dù cho bị ngăn cản, nhưng những đôi lứa vẫn dành tình yêu trọn vẹn cho nhau, cái chết
cũng không thể chia lìa tình yêu của họ.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
Từ nội dung ngữ liệu ở phần Đọc – hiểu, hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm
nhận của em về ý nghĩa của chi tiết: “Chàng nâng niu cầm lấy, lòng vô cùng xúc động, hai
dòng lệ trào ra nhỏ xuống khối đá đỏ. Bỗng khối đá tan ra thành nước, giọt giọt đều biến
thành máu tươi, chảy đầm đìa vào tay áo chàng.”
Phương pháp:
- Trình bày đúng hình thức một đoạn văn nghị luận văn học về một chi tiết trong truyện,
không tách dòng tùy tiện.
- Dung lượng khoảng 200 chữ.
- Dùng từ, đặt câu chính xác; lập luận logic thuyết phục; không mắc lỗi chính tả, diễn đạt....
Lời giải chi tiết:

4

- Bài làm của học sinh có thể triển khai bằng nhiều cách nhưng cơ bản cần đảm bảo những
nội dung sau:
*Mở đoạn: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích.
*Thân đoạn: Cảm nhận về ý nghĩa của chi tiết:
+ Chi tiết kì ảo, gây ấn tượng sâu sắc cho người đọc.
+ Chi tiết cho thấy nỗi đau đớn của chàng trai trước sự ra đi của cô gái. Giọt nước mắt của
chàng trai là giọt nước mắt của sự thấu hiểu, của yêu thương và đau xót vô hạn khi người
mình yêu vĩnh viễn ra đi.
+ Khối đỏ kia tan ra thành nước, giọt giọt đều biến thành máu tươi, chảy đầm đìa vào tay áo
chàng đem đến liên tưởng cho người đọc về sự hóa giải oan tình, để người ra đi được thanh
thản…
* Kết đoạn: Khẳng định lại ý nghĩa, giá trị của chi tiết.
Câu 2.
Viết bài văn nghị luận bàn về giải pháp phù hợp để giảm thiểu rác thải nhựa trong trường
học và các gia đình.
Phương pháp:
Đảm bảo cấu trúc bài văn Nghị luận về một vấn đề xã hội. Bố cục 3 phần rõ ràng, cân đối,
đảm bảo đúng chính tả ngữ pháp, dùng từ đặt câu.
Xác định đúng yêu cầu của đề: bàn về giải pháp phù hợp để giảm thiểu rác thải nhựa trong
trường học và các gia đình.
Lời giải chi tiết:
I. Mở bài:
- Giới thiệu vấn đề nghị luận.
- Nêu ý kiến khái quát về vấn đề.
II. Thân bài
1. Giải thích vấn đề:
- Rác thải nhựa là các sản phẩm làm từ nhựa không phân hủy hoặc phân hủy rất chậm trong
môi trường tự nhiên. Chúng bao gồm túi nilon, chai nhựa, hộp nhựa, ống hút nhựa, đồ dùng
một lần...
2. Phân tích vấn đề
* Thực trạng:

5

- Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, mỗi ngày Việt Nam thải ra khoảng
28.000 tấn rác thải nhựa, trong đó chỉ có khoảng 10% được tái chế. Phần lớn số còn lại bị
chôn lấp hoặc thải ra môi trường, gây ô nhiễm đất, nước, không khí và đại dương.
*Nguyên nhân:
- Ý thức người dân: Nhiều người vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tác hại của rác thải nhựa và
chưa có thói quen phân loại, xử lý rác đúng cách.
- Quản lý lỏng lẻo: Việc quản lý rác thải nhựa ở nhiều nơi còn lỏng lẻo, thiếu các biện pháp
chế tài đủ mạnh.
- Sản xuất và tiêu dùng tràn lan: Các sản phẩm nhựa được sản xuất và tiêu thụ với số lượng
lớn, trong khi các giải pháp thay thế còn hạn chế.
* Hậu quả:
- Môi trường: Rác thải nhựa gây ô nhiễm đất, nước, không khí, làm mất mỹ quan đô thị và
nông thôn, phá hủy hệ sinh thái, đe dọa sự đa dạng sinh học.
- Sức khỏe: Các chất độc hại trong nhựa có thể xâm nhập vào cơ thể con người qua đường hô
hấp, tiêu hóa, gây ra nhiều bệnh nguy hiểm như ung thư, dị tật bẩm sinh, rối loạn nội tiết...
- Kinh tế: Ô nhiễm rác thải nhựa gây thiệt hại lớn cho ngành du lịch, thủy sản và các ngành
kinh tế khác.
* Phản đối ý kiến trái chiều:
- Một số người cho rằng việc giảm thiểu rác thải nhựa là không cần thiết vì nhựa mang lại
nhiều tiện ích và việc thay thế nhựa bằng các vật liệu khác sẽ tốn kém hơn.
-> Lợi ích ngắn hạn của nhựa không thể bù đắp cho những tác hại lâu dài mà nó gây ra. Việc
đầu tư vào các giải pháp thay thế nhựa là cần thiết để bảo vệ môi trường và sức khỏe con
người, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững.
* Giải pháp:
- Nâng cao nhận thức về tác hại của rác thải nhựa:
+ Tổ chức các buổi sinh hoạt, hội thảo, cuộc thi về môi trường để phổ biến kiến thức về tác
hại của rác thải nhựa.
+ Sử dụng các phương tiện truyền thông như báo tường, trang web của trường, mạng xã hội
để chia sẻ thông tin.
- Thay đổi thói quen sử dụng đồ nhựa dùng một lần:
+ Hạn chế sử dụng túi nilon, ống hút nhựa, hộp xốp, chai nhựa dùng một lần.
+ Mang theo bình nước cá nhân, hộp cơm, túi vải khi đi học, đi làm, đi chợ.
+ Sử dụng các sản phẩm thay thế thân thiện với môi trường như túi giấy, ống hút tre, hộp
cơm inox.
6

- Tái sử dụng và tái chế đồ nhựa:
+ Sử dụng lại chai nhựa, lọ thủy tinh để đựng nước, thực phẩm.
+ Tái chế vỏ chai nhựa, giấy báo, lon kim loại thành các sản phẩm thủ công, đồ dùng học tập.
+ Tham gia các hoạt động thu gom và tái chế rác thải nhựa do trường học, địa phương tổ
chức.
- Trồng cây xanh:
+ Tham gia các hoạt động trồng cây xanh trong trường học, khu dân cư.
+ Chăm sóc cây xanh để chúng phát triển tốt, hấp thụ khí CO2 và thải ra O2, góp phần làm
sạch không khí và giảm hiệu ứng. *Liên hệ bản thân:
- Bản thân em đã từng tham gia nhiều hoạt động bảo vệ môi trường ở trường và luôn cố gắng
áp dụng các biện pháp giảm thiểu rác thải nhựa trong cuộc sống hàng ngày. Em tin rằng mỗi
hành động nhỏ của mình đều có ý nghĩa và góp phần làm cho môi trường sống trở nên xanh,
sạch, đẹp hơn.
III. Kết bài:
- Khẳng định lại vấn đề nghị luận -> Thông điệp
Loigiaihay.com

7
 
Gửi ý kiến