Đề thi chọn HSG

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Thông
Ngày gửi: 15h:40' 22-01-2024
Dung lượng: 492.6 KB
Số lượt tải: 13
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Thông
Ngày gửi: 15h:40' 22-01-2024
Dung lượng: 492.6 KB
Số lượt tải: 13
Số lượt thích:
0 người
SỞ GD-ĐT BÌNH PHƯỚC
KỲ THI OLYMPIC LỚP 11 THPT
Năm học: 2022– 2023
Môn thi: NGỮ VĂN
Thời gian:150 phút (không kể thời gian giao đề)
Câu 1 (8,0 điểm):
NHỮNG VẾT ĐINH
Một cậu bé nọ có tính xấu là rất hay nổi nóng. Một hôm, cha cậu bé đưa cho
cậu một túi đinh rồi nói với cậu: “Mỗi khi con nổi nóng với ai đó thì hãy chạy
ra sau nhà và đóng một cái đinh lên chiếc hàng rào gỗ”. Ngày đầu tiên, cậu bé
đã đóng tất cả 37 cái đinh lên hàng rào. Nhưng sau vài tuần, cậu bé đã tập kiềm
chế dần cơn giận của mình và số lượng đinh cậu đóng lên hàng rào ngày một ít
đi. Cậu nhận thấy rằng kiềm chế cơn giận của mình dễ hơn là phải đi đóng một
cây đinh lên hàng rào. Đến một ngày, cậu bé đã không nổi giận một lần nào
trong suốt cả ngày. Cậu đến thưa với cha và ông bảo: “Tốt lắm, bây giờ nếu sau
mỗi ngày mà con không hề giận với ai dù chỉ một lần, con hãy nhổ cây đinh ra
khỏi hàng rào”. Ngày lại ngày trôi qua, rồi cũng đến một hôm cậu bé đã vui
mừng hãnh diện tìm cha mình báo rằng đã không còn một cây đinh nào trên
hàng rào nữa. Cha cậu liền đến bên hàng rào. Ở đó, ông nhỏ nhẹ nói với cậu:
“Con đã làm rất tốt, nhưng con hãy nhìn những lỗ đinh còn để lại trên hàng
rào. Hàng rào đã không giống như xưa nữa rồi...”
(Theo http://www.songdep.vn)
Anh/chị hãy trình bày suy nghĩ của mình sau khi đọc mẩu chuyện trên.
Câu 2 (12,0 điểm).
Nói về cái “Tôi” trong phong trào thơ 1930- 1945, có ý kiến cho rằng “ Cái tôi
trong thơ Xuân Diệu gắn liền với cái tôi cá nhân, còn cái tôi trong thơ Tố Hữu
lại gắn liền với cái Ta của ý thức cộng đồng”. Qua bài thơ Vội Vàng của Xuân
Diệu và Từ Ấy của Tố Hữu trong chương trình Ngữ Văn lớp 11, em hãy làm
sáng tỏ nhận định trên.
----------Hết----------
SỞ GD&ĐT BÌNH PHƯỚC
HƯỚNG DẪN CHẤM
ĐỀ THI OLYMPIC NĂM HỌC 2022-2023
MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 11
Câu 1: (8,0 điểm)
1. Yêu cầu về kĩ năng:
Biết làm một bài nghị luận xã hội về tư tưởng đạo lí được gửi gắm trong một
mẩu chuyện với các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận.
Diễn đạt tốt, ngôn ngữ chọn lọc, không mắc lỗi dùng từ, lỗi ngữ pháp và
chính tả; dẫn chứng sinh động.
2. Yêu cầu về kiến thức và cách cho điểm
- Có thể có nhiều cách trình bày nhưng bài viết cần đảm bảo những ý cơ bản
trong Hướng dẫn chấm.
Nội dung
* Giới thiệu về mẩu chuyện và nêu khái quát vấn đề cần nghị luận
* Dựa vào nội dung mẩu chuyện, rút ra những vấn đề cần suy ngẫm:
- Khi nóng giận, con người thường gây tổn thương cho người khác và để lại
dấu ấn không tốt lâu dài.
- Con người cần biết kiềm chế và có thể kiềm chế được những cơn nóng
giận của bản thân.
* Bình luận, chứng minh:
- Câu chuyện là bài học sâu sắc về cách ứng xử của con người trong cuộc
sống.
+ Khi nóng giận, con người sẽ không có đủ bình tĩnh, tỉnh táo để làm chủ lời
nói, hành động của mình. Những lời nói, hành động ấy sẽ giống như mũi
đinh nhọn đóng vào tâm hồn người khác khiến họ đau đớn, tổn thương. Ấn
tượng ấy không dễ gì mất đi.
+ Nóng giận là nhược điểm của không ít người trong cuộc sống. Nhiều
người vì nóng giận mà gây ra những hậu quả khôn lường với người khác và
bản thân (Lấy dẫn chứng).
+ Nếu kiên trì, nỗ lực, tự rèn luyện, con người sẽ kiềm chế được những cơn
nóng giận.
+ Kiềm chế sự nóng giận sẽ khiến tâm hồn mình được thanh thản và mối
quan hệ của con người trở nên tốt đẹp hơn.
Điểm
0,5 điểm
0.75 điểm
0,75 điểm
1,0 điểm
1,0 điểm
1.0 điểm
1.0 điểm
* Rút ra bài học, phương hướng hành động:
2.0 điểm
+ Không ngừng rèn luyện để kiềm chế sự nóng nảy của bản thân
+ Xây dựng những thói quen tốt trong ứng xử, giao tiếp.
- Những bài làm có hướng đi khác nhưng phù hợp, thuyết phục vẫn chấp nhận
Câu 2 (12,0 điểm)
I.Yêu cầu về kĩ năng
Hiểu đề, biết cách làm bài văn nghị luận văn học. Biết phân tích dẫn chứng để
làm sáng tỏ vấn đề. Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ. Hành văn trôi chảy. Văn
viết có cảm xúc. Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả.
II.Yêu cầu về kiến thức
Thí sinh phải làm rõ cái “Tôi” trong phong trào thơ mới là gắn với cái “Tôi cá
nhân”, còn cái “Tôi” trong thơ ca cách mạnh là gắn liền với cái “Ta” ý thức
cộng đồng, qua đó làm rõ sự khác biệt giữa cái “Tôi” trong thơ mới và cái “Tôi”
trong thơ ca cách mạng, HS lấy hai bài Vội Vàng của Xuân Diệu và Từ Ấy của
Tố Hữu để làm sáng tỏ nhận định trên. Thí sinh có thể trình bày theo các cách
khác nhau nhưng cần đảm bảo được các ý sau:
1.Giải thích:
- Cái tôi trong thơ mới: là cái tôi gắn liền với ý thức cá nhân..
- Cái tôi trong thơ ca cách mạng không phải là cái tôi cá nhân mà thực chất là
cái Ta gắn liền với ý thức trách nhiệm với cộng đồng, với dân tộc.
- Bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu là tác phẩm tiêu biểu cho cái tôi cá nhân,
Bài thơ Từ Ấy của Tố Hữu là tác phẩm tiêu biểu cho cái Tôi gắn liền với ý thức
cộng đồng “ Ta”.
2. Làm sáng tỏ nhận định qua tác phẩm Vội Vàng của Xuân Diệu và
Tác Phẩm Từ Ấy của Tố Hữu:
2.1 Cái tôi trong thơ Xuân Diệu:
* Phân tích cái tôi trữ tình trong Vội vàng
* Khái quát về cái tôi trong thơ mới
- Cái tôi theo nghĩa xưa, tức là sự độc lập nhỏ lẻ bó buộc cá nhân
- Cái tôi trong văn học: văn học trung đại là nền văn học phi ngã, ở đó cái tôi
của tác giả bị triệt tiêu hoặc giấu đi thì văn học hiện đại mà tiêu biểu là sự xuất
hiện của phong trào thơ mới là nơi cái tôi của người nghệ sĩ được bộc lộ sắc nét
và rõ ràng nhất.
- Ở phong trào thơ mới, ý thức về cái tôi cá nhân trở nên hết sức mạnh mẽ, đó là
sự bung nở của mỗi hồn thơ, mỗi một cảm xúc riêng biệt.
- Thậm chí trong văn học hiện đại, mỗi người nghệ sĩ còn tự tạo cho mình một
cái tôi, một phong cách riêng biệt.
=> Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới, có một cái tôi, một
"chất" riêng vô cùng độc đáo.
* Phân tích cái tôi trữ tình trong Vội vàng
- Một cái tôi có ý thức cá nhân mạnh mẽ: ham sống, yêu đời, khát vọng
sống
+ Điệp từ “tôi muốn”
+ Hành động “tắt nắng”, “buộc gió”
=> Cái tôi Xuân Diệu tỏ ra khát kháo muốn được "tắt nắng", "buộc gió" để giữ
lại màu, lại sắc, lại hương cho cuộc đời.
- Một cái tôi tràn đầy cảm xúc mãnh liệt, đắm say trong vẻ đẹp đất trời
+ Hình ảnh "ong bướm", "tuần tháng mật", "đồng nội xanh rì", "yến anh".
+ Phép điệp "này đây".
+ So sánh "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần".
=> Vẻ đẹp khiến người ta đắm say như đang kết cặp đầy tình ái.
+ Cái tôi trữ tình không thể giấu cái cảm giác sung sướng khi thốt lên:
Tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.
- Một cái tôi mới mẻ về quan niệm thẩm mĩ, thời gian và tuổi trẻ.
+ Điệp từ "nghĩa là"
+ Từ đối: "tới - qua", "non - già", "rộng - chật"
+ Thời gian có sức mạnh khiến vạt vật thay đổi, khiến cái tôi có thể ngửi được
cả mùi tháng năm, nghe được nùi sống than thầm, cơn gió thì thào....
+ Cái lo lắng, sợ hãi của cánh chim kia phải chăng chính là nỗi lo lắng, sợ hãi
của chính cái tôi trữ tình trước "độ phai tàn" của thời gian và tuổi trẻ.
- Một cái tôi với quan niệm nhân sinh mới mẻ
+ Điệp từ "ta muốn" được lặp lại nhiều lần.
+ Động từ mạnh theo cấp độ tăng tiến "ôm" - "riết" - "say" - "thâu".
-> Cái khao khát được thưởng thức cảnh vật, để hưởng thụ cho hết mọi vẻ đẹp
hạnh phúc của trần gian từ đó chính là cách tận hưởng tuổi trẻ, hạnh phúc và
tình yêu của cái tôi trữ tình.
2.2. Cái Tôi gắn liền với ý thức cộng đồng, dân tộc trong thơ ca cách mạng
mà bài thơ Từ ấy là ví dụ điển hình:
* Cái tôi gắn liền vơi mọi người (Nhân dân, cộng đồng dân tộc), với trăm nơi (
Đất nước), với bao hồn khổ ( Những cảnh đời lầm than), mạnh khối đời...
* Cái tôi gắn liền với Vạn nhà ( nhân dân), vạn kiếp phôi pha ( những kiếp
người mòn mỏi đáng thương), vạn đầu em nhỏ, không áo cơm cù bất cù bơ ...
=> Cái tôi trong thơ tố Hữu gắn liền với ý thức cộng đồng, gắn liền với dân với
nước, với chủ nghĩa cộng sản.
"Từ ấy" là bài thơ rút trong tập thơ cùng tên sáng tác năm 1938, đánh dấu sự
trưởng thành của người thanh niên cách mạng. Từ ấy chính là tiếng reo vui của
người chiến sĩ say mê lí tưởng, yêu nước, yêu cuộc đời nguyện hiến dâng tuổi
xuân cho quê hương đất nước. Qua bài thơ Từ ấy, Tố Hữu đã cho người đọc
cảm nhận được niềm vui to lớn và niềm xúc động thiêng liêng của người thanh
niên yêu nước khi giác ngộ lí tưởng cách mạng.
* Tâm trạng vui sướng của nhân vật trữ tình khi bắt gặp lý tưởng cộng sản
- Thời điểm “Từ ấy”: là khi Tố Hữu được giác ngộ Cách Mạng, được dẫn dắt
vào con đường giải phóng dân tộc
- Hình ảnh ẩn dụ: “nắng hạ”, “mặt trời chân lý” => thể hiện niềm vui khi tìm
thấy lẽ sống cao đẹp cho cuộc đời trong buổi đầu đến với Cách Mạng
- Từ ngữ: “chói”, “bừng”, “rộn”, “rất đậm” => khẳng định lý tưởng cộng sản mở
ra cho thế giới tâm hồn một nhận thức mới khiến tâm hồn vui tươi phơi phới
=> Khổ thơ là tiếng reo vui đầy phấn trấn của tác giả khi được giác ngộ lý tưởng
cộng sản
* Lý tưởng cộng sản làm thay đổi nhận thức sâu sắc của nhân vật trữ tình
- Đại từ nhân xưng “tôi”: bộc lộ sâu sắc ý thức cá nhân
- Từ “buộc”, “trang trải”: thể hiện sự gắn kết, chia sẻ của nhà thơ với quần
chúng cần lao
- Các từ “Mọi người”, “trăm nơi”, “hồn khổ”: chỉ đối tượng là quần chúng lao
khổ trên mọi miền đất nước
- Hình ảnh ẩn dụ “khối đời”: khiến khái niệm về cuộc đời vốn trừu tượng trở nên
hữu hình
=> Khổ thơ là sự gắn kết của cái tôi cá nhân với cái ta cộng đồng. Khi cái tôi
hòa vào cái ta chung sẽ tạo nên một cuộc đời gắn bó, tạo nên một sức mạnh lớn
lao.
* Lý tưởng cộng sản giúp nhà thơ vượt qua những tình cảm ích kỉ, hẹp hòi để có
được tình hữu ái giai cấp với quần chúng lao khổ
- Kết cấu định nghĩa “tôi…là” được sử dụng xuyên suốt khổ thơ tạo nhịp điệu
khỏe khoắn, nhấn mạnh ý thức vững vàng của nhà thơ khi gắn kết với cộng đồng
- Điệp từ “của” kết hợp với hệ thống từ xưng hô chỉ quan hệ máu mủ “anh”,
“em”, “con”: tình cảm của nhà thơ với quần chúng nhân dân gần gũi, khăng khít
như anh em ruột thịt
- Điệp từ “vạn” kết hợp với các hình ảnh “vạn nhà”, “vạn kiếp phôi pha”, “vạn
đầu em nhỏ”: thể hiện những số phận cơ cực, vất cả, nhỏ bé trong xã hội. Từ đó
nói lên tình nhân ái bao la, mang tính giai cấp
=> Tố Hữu tự nguyện chọn một chỗ đứng trong lòng dân tộc, coi mình là một
thành viên ruột thịt trong gia đình quần chúng cần lao => thể hiện tinh thần dân
tộc, tính nhân đạo sâu sắc
* Nội dung, nghệ thuật của bài thơ
- Giá trị nghệ thuật:
+ Sử dụng những hình ảnh ẩn dụ, so sánh đặc sắc
+ Nhịp điệu thơ dồn dập, da diết
+ Diễn tả tâm trạng vui sướng, say mê của nhà thơ khi đón nhận lý tưởng cộng
sản
- Giá trị nội dung:
+ “Từ ấy” là bản tuyên ngôn về nhận thức và quan điểm sáng tác của Tố Hữu
+ Tuyên ngôn về nhận thức: nhà thơ nguyện đi theo ánh sáng của Đảng, gắn bó
với quần chúng lao khổ
+ Tuyên ngôn về nghệ thuật: sáng tạo văn học không mơ mộng, viển vông,
người nghệ sĩ phải đứng trong hàng ngũ, gần gũi với quần chúng nhân dân.
+ Từ đây, Tố Hữu chính thức định hình phong cách của một ngòi bút trữ tình
chính trị.
3. Đánh giá:
- Cái tôi trữ tình trong Vội vàng dễ khiến chúng ta liên tưởng đến cái tôi
nói chung trong thơ mới. Luôn yêu cuộc đời đến cháy bỏng, thiết tha nhưng vẫn
buồn bã, suy tư và đầy bế tắc.
- Cái tôi trữ tình trong bài thơ Từ Ấy đã hòa nhập với cái "ta" chung của
cộng đồng, của dân tộc, lời thơ của Tố Hữu chính là đại diện cho tình cảm của
cả một thế hệ cán bộ chiến sĩ từng gắn bó với nhân dân, gần dân, hiểu dân là
máu mủ ruột rà của nhân dân..đó là cái tôi vui tươi phấn khởi của người thi sĩ đã
tìm thấy lý tưởng của đời mình.
III. Biểu điểm:
- Điểm 10-12,0: Đáp ứng được yêu cầu nêu trên, văn viết sâu sắc, diễn đạt trong
sáng. Bài viết thể hiện sự sáng tạo, cảm thụ riêng.
- Điểm 7-9: Cơ bản đáp ứng được yêu cầu trên, văn viết chưa thật sâu sắc nhưng
diễn đạt trong sáng. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ.
- Điểm 4-6: Cơ bản hiểu yêu cầu của đề. Bố cục bài viết rõ ràng. Chọn và phân
tích được dẫn chứng song ý chưa sâu sắc. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ.
- Điểm 1-3: Chưa hiểu rõ yêu cầu của đề. Diễn đạt lúng túng, trình bày cẩu thả.
- Điểm 0: Sai lạc cả nội dung và phương pháp.
* Lưu ý:
- Giám khảo nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng
quát bài làm của thí sinh. Cần khuyến khích những bài viết có chất văn, có
những suy nghĩ sáng tạo.
- Việc chi tiết hóa điểm số của các câu, các ý phải đảm bảo không sai
lệch với tổng điểm của câu và được thống nhất trong hội đồng chấm. Điểm lẻ
được làm tròn đến 0,5 điểm sau khi đã chấm xong và cộng tổng điểm toàn bài.
----------Hết----------
SỞ GD&ĐT BÌNH PHƯỚC
MA TRẬN
ĐỀ THI OLYMPIC NĂM HỌC 2022-2023
MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 11
Thời gian :150 phút (không kể giao đề)
Mức độ
Chủ
đề
Nhận biết
Kiểu bài
1. Làm
Nghị luận
văn: nghị
luận xã hội về một vấn
đề xã hội
bàn về lối
sống.
Số câu
0,5 điểm
Số điểm
Nhận biết
2. Làm
Thông hiểu Vận dụng
thấp
Vận dụng
cao
Các khái
niệm liên
quan đến
vấn đề nghị
luận.
Vận dụng
rút ra bài
học cho
cuộc sống
và bản thân
1,5 điểm
Hiểu vấn
Huy động
kiến thức
về đời sống
xã hội làm
rõ vấn đề.
4.0 điểm
Vận dụng
2,0 điểm
Có những
Cộng
1 câu
8,0 điểm
văn: nghị
luận văn
học
Số Câu:
Số điểm:
được kiểu
bài phân
tích ,so
sánh vấn đề
văn học
đề nghị
luận. Các
khái niệm
liên quan
đến vấn đề
nghị luận.
Hiểu về tác
giả, tác
phẩm.
1,0 điểm
1,0 điểm
2,0 điểm
2,5 điểm
kiến thức,
kĩ năng để
làm bài
nghị luận
liên tưởng
thú vị, sự lí
giải thấu
đáo, văn
viết có cảm
xúc.
8,0 điểm
2,0 điểm
11,5 điểm
4,0 điểm
1 câu
12 điểm
2 câu
20,0 điểm
KỲ THI OLYMPIC LỚP 11 THPT
Năm học: 2022– 2023
Môn thi: NGỮ VĂN
Thời gian:150 phút (không kể thời gian giao đề)
Câu 1 (8,0 điểm):
NHỮNG VẾT ĐINH
Một cậu bé nọ có tính xấu là rất hay nổi nóng. Một hôm, cha cậu bé đưa cho
cậu một túi đinh rồi nói với cậu: “Mỗi khi con nổi nóng với ai đó thì hãy chạy
ra sau nhà và đóng một cái đinh lên chiếc hàng rào gỗ”. Ngày đầu tiên, cậu bé
đã đóng tất cả 37 cái đinh lên hàng rào. Nhưng sau vài tuần, cậu bé đã tập kiềm
chế dần cơn giận của mình và số lượng đinh cậu đóng lên hàng rào ngày một ít
đi. Cậu nhận thấy rằng kiềm chế cơn giận của mình dễ hơn là phải đi đóng một
cây đinh lên hàng rào. Đến một ngày, cậu bé đã không nổi giận một lần nào
trong suốt cả ngày. Cậu đến thưa với cha và ông bảo: “Tốt lắm, bây giờ nếu sau
mỗi ngày mà con không hề giận với ai dù chỉ một lần, con hãy nhổ cây đinh ra
khỏi hàng rào”. Ngày lại ngày trôi qua, rồi cũng đến một hôm cậu bé đã vui
mừng hãnh diện tìm cha mình báo rằng đã không còn một cây đinh nào trên
hàng rào nữa. Cha cậu liền đến bên hàng rào. Ở đó, ông nhỏ nhẹ nói với cậu:
“Con đã làm rất tốt, nhưng con hãy nhìn những lỗ đinh còn để lại trên hàng
rào. Hàng rào đã không giống như xưa nữa rồi...”
(Theo http://www.songdep.vn)
Anh/chị hãy trình bày suy nghĩ của mình sau khi đọc mẩu chuyện trên.
Câu 2 (12,0 điểm).
Nói về cái “Tôi” trong phong trào thơ 1930- 1945, có ý kiến cho rằng “ Cái tôi
trong thơ Xuân Diệu gắn liền với cái tôi cá nhân, còn cái tôi trong thơ Tố Hữu
lại gắn liền với cái Ta của ý thức cộng đồng”. Qua bài thơ Vội Vàng của Xuân
Diệu và Từ Ấy của Tố Hữu trong chương trình Ngữ Văn lớp 11, em hãy làm
sáng tỏ nhận định trên.
----------Hết----------
SỞ GD&ĐT BÌNH PHƯỚC
HƯỚNG DẪN CHẤM
ĐỀ THI OLYMPIC NĂM HỌC 2022-2023
MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 11
Câu 1: (8,0 điểm)
1. Yêu cầu về kĩ năng:
Biết làm một bài nghị luận xã hội về tư tưởng đạo lí được gửi gắm trong một
mẩu chuyện với các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận.
Diễn đạt tốt, ngôn ngữ chọn lọc, không mắc lỗi dùng từ, lỗi ngữ pháp và
chính tả; dẫn chứng sinh động.
2. Yêu cầu về kiến thức và cách cho điểm
- Có thể có nhiều cách trình bày nhưng bài viết cần đảm bảo những ý cơ bản
trong Hướng dẫn chấm.
Nội dung
* Giới thiệu về mẩu chuyện và nêu khái quát vấn đề cần nghị luận
* Dựa vào nội dung mẩu chuyện, rút ra những vấn đề cần suy ngẫm:
- Khi nóng giận, con người thường gây tổn thương cho người khác và để lại
dấu ấn không tốt lâu dài.
- Con người cần biết kiềm chế và có thể kiềm chế được những cơn nóng
giận của bản thân.
* Bình luận, chứng minh:
- Câu chuyện là bài học sâu sắc về cách ứng xử của con người trong cuộc
sống.
+ Khi nóng giận, con người sẽ không có đủ bình tĩnh, tỉnh táo để làm chủ lời
nói, hành động của mình. Những lời nói, hành động ấy sẽ giống như mũi
đinh nhọn đóng vào tâm hồn người khác khiến họ đau đớn, tổn thương. Ấn
tượng ấy không dễ gì mất đi.
+ Nóng giận là nhược điểm của không ít người trong cuộc sống. Nhiều
người vì nóng giận mà gây ra những hậu quả khôn lường với người khác và
bản thân (Lấy dẫn chứng).
+ Nếu kiên trì, nỗ lực, tự rèn luyện, con người sẽ kiềm chế được những cơn
nóng giận.
+ Kiềm chế sự nóng giận sẽ khiến tâm hồn mình được thanh thản và mối
quan hệ của con người trở nên tốt đẹp hơn.
Điểm
0,5 điểm
0.75 điểm
0,75 điểm
1,0 điểm
1,0 điểm
1.0 điểm
1.0 điểm
* Rút ra bài học, phương hướng hành động:
2.0 điểm
+ Không ngừng rèn luyện để kiềm chế sự nóng nảy của bản thân
+ Xây dựng những thói quen tốt trong ứng xử, giao tiếp.
- Những bài làm có hướng đi khác nhưng phù hợp, thuyết phục vẫn chấp nhận
Câu 2 (12,0 điểm)
I.Yêu cầu về kĩ năng
Hiểu đề, biết cách làm bài văn nghị luận văn học. Biết phân tích dẫn chứng để
làm sáng tỏ vấn đề. Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ. Hành văn trôi chảy. Văn
viết có cảm xúc. Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả.
II.Yêu cầu về kiến thức
Thí sinh phải làm rõ cái “Tôi” trong phong trào thơ mới là gắn với cái “Tôi cá
nhân”, còn cái “Tôi” trong thơ ca cách mạnh là gắn liền với cái “Ta” ý thức
cộng đồng, qua đó làm rõ sự khác biệt giữa cái “Tôi” trong thơ mới và cái “Tôi”
trong thơ ca cách mạng, HS lấy hai bài Vội Vàng của Xuân Diệu và Từ Ấy của
Tố Hữu để làm sáng tỏ nhận định trên. Thí sinh có thể trình bày theo các cách
khác nhau nhưng cần đảm bảo được các ý sau:
1.Giải thích:
- Cái tôi trong thơ mới: là cái tôi gắn liền với ý thức cá nhân..
- Cái tôi trong thơ ca cách mạng không phải là cái tôi cá nhân mà thực chất là
cái Ta gắn liền với ý thức trách nhiệm với cộng đồng, với dân tộc.
- Bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu là tác phẩm tiêu biểu cho cái tôi cá nhân,
Bài thơ Từ Ấy của Tố Hữu là tác phẩm tiêu biểu cho cái Tôi gắn liền với ý thức
cộng đồng “ Ta”.
2. Làm sáng tỏ nhận định qua tác phẩm Vội Vàng của Xuân Diệu và
Tác Phẩm Từ Ấy của Tố Hữu:
2.1 Cái tôi trong thơ Xuân Diệu:
* Phân tích cái tôi trữ tình trong Vội vàng
* Khái quát về cái tôi trong thơ mới
- Cái tôi theo nghĩa xưa, tức là sự độc lập nhỏ lẻ bó buộc cá nhân
- Cái tôi trong văn học: văn học trung đại là nền văn học phi ngã, ở đó cái tôi
của tác giả bị triệt tiêu hoặc giấu đi thì văn học hiện đại mà tiêu biểu là sự xuất
hiện của phong trào thơ mới là nơi cái tôi của người nghệ sĩ được bộc lộ sắc nét
và rõ ràng nhất.
- Ở phong trào thơ mới, ý thức về cái tôi cá nhân trở nên hết sức mạnh mẽ, đó là
sự bung nở của mỗi hồn thơ, mỗi một cảm xúc riêng biệt.
- Thậm chí trong văn học hiện đại, mỗi người nghệ sĩ còn tự tạo cho mình một
cái tôi, một phong cách riêng biệt.
=> Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới, có một cái tôi, một
"chất" riêng vô cùng độc đáo.
* Phân tích cái tôi trữ tình trong Vội vàng
- Một cái tôi có ý thức cá nhân mạnh mẽ: ham sống, yêu đời, khát vọng
sống
+ Điệp từ “tôi muốn”
+ Hành động “tắt nắng”, “buộc gió”
=> Cái tôi Xuân Diệu tỏ ra khát kháo muốn được "tắt nắng", "buộc gió" để giữ
lại màu, lại sắc, lại hương cho cuộc đời.
- Một cái tôi tràn đầy cảm xúc mãnh liệt, đắm say trong vẻ đẹp đất trời
+ Hình ảnh "ong bướm", "tuần tháng mật", "đồng nội xanh rì", "yến anh".
+ Phép điệp "này đây".
+ So sánh "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần".
=> Vẻ đẹp khiến người ta đắm say như đang kết cặp đầy tình ái.
+ Cái tôi trữ tình không thể giấu cái cảm giác sung sướng khi thốt lên:
Tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.
- Một cái tôi mới mẻ về quan niệm thẩm mĩ, thời gian và tuổi trẻ.
+ Điệp từ "nghĩa là"
+ Từ đối: "tới - qua", "non - già", "rộng - chật"
+ Thời gian có sức mạnh khiến vạt vật thay đổi, khiến cái tôi có thể ngửi được
cả mùi tháng năm, nghe được nùi sống than thầm, cơn gió thì thào....
+ Cái lo lắng, sợ hãi của cánh chim kia phải chăng chính là nỗi lo lắng, sợ hãi
của chính cái tôi trữ tình trước "độ phai tàn" của thời gian và tuổi trẻ.
- Một cái tôi với quan niệm nhân sinh mới mẻ
+ Điệp từ "ta muốn" được lặp lại nhiều lần.
+ Động từ mạnh theo cấp độ tăng tiến "ôm" - "riết" - "say" - "thâu".
-> Cái khao khát được thưởng thức cảnh vật, để hưởng thụ cho hết mọi vẻ đẹp
hạnh phúc của trần gian từ đó chính là cách tận hưởng tuổi trẻ, hạnh phúc và
tình yêu của cái tôi trữ tình.
2.2. Cái Tôi gắn liền với ý thức cộng đồng, dân tộc trong thơ ca cách mạng
mà bài thơ Từ ấy là ví dụ điển hình:
* Cái tôi gắn liền vơi mọi người (Nhân dân, cộng đồng dân tộc), với trăm nơi (
Đất nước), với bao hồn khổ ( Những cảnh đời lầm than), mạnh khối đời...
* Cái tôi gắn liền với Vạn nhà ( nhân dân), vạn kiếp phôi pha ( những kiếp
người mòn mỏi đáng thương), vạn đầu em nhỏ, không áo cơm cù bất cù bơ ...
=> Cái tôi trong thơ tố Hữu gắn liền với ý thức cộng đồng, gắn liền với dân với
nước, với chủ nghĩa cộng sản.
"Từ ấy" là bài thơ rút trong tập thơ cùng tên sáng tác năm 1938, đánh dấu sự
trưởng thành của người thanh niên cách mạng. Từ ấy chính là tiếng reo vui của
người chiến sĩ say mê lí tưởng, yêu nước, yêu cuộc đời nguyện hiến dâng tuổi
xuân cho quê hương đất nước. Qua bài thơ Từ ấy, Tố Hữu đã cho người đọc
cảm nhận được niềm vui to lớn và niềm xúc động thiêng liêng của người thanh
niên yêu nước khi giác ngộ lí tưởng cách mạng.
* Tâm trạng vui sướng của nhân vật trữ tình khi bắt gặp lý tưởng cộng sản
- Thời điểm “Từ ấy”: là khi Tố Hữu được giác ngộ Cách Mạng, được dẫn dắt
vào con đường giải phóng dân tộc
- Hình ảnh ẩn dụ: “nắng hạ”, “mặt trời chân lý” => thể hiện niềm vui khi tìm
thấy lẽ sống cao đẹp cho cuộc đời trong buổi đầu đến với Cách Mạng
- Từ ngữ: “chói”, “bừng”, “rộn”, “rất đậm” => khẳng định lý tưởng cộng sản mở
ra cho thế giới tâm hồn một nhận thức mới khiến tâm hồn vui tươi phơi phới
=> Khổ thơ là tiếng reo vui đầy phấn trấn của tác giả khi được giác ngộ lý tưởng
cộng sản
* Lý tưởng cộng sản làm thay đổi nhận thức sâu sắc của nhân vật trữ tình
- Đại từ nhân xưng “tôi”: bộc lộ sâu sắc ý thức cá nhân
- Từ “buộc”, “trang trải”: thể hiện sự gắn kết, chia sẻ của nhà thơ với quần
chúng cần lao
- Các từ “Mọi người”, “trăm nơi”, “hồn khổ”: chỉ đối tượng là quần chúng lao
khổ trên mọi miền đất nước
- Hình ảnh ẩn dụ “khối đời”: khiến khái niệm về cuộc đời vốn trừu tượng trở nên
hữu hình
=> Khổ thơ là sự gắn kết của cái tôi cá nhân với cái ta cộng đồng. Khi cái tôi
hòa vào cái ta chung sẽ tạo nên một cuộc đời gắn bó, tạo nên một sức mạnh lớn
lao.
* Lý tưởng cộng sản giúp nhà thơ vượt qua những tình cảm ích kỉ, hẹp hòi để có
được tình hữu ái giai cấp với quần chúng lao khổ
- Kết cấu định nghĩa “tôi…là” được sử dụng xuyên suốt khổ thơ tạo nhịp điệu
khỏe khoắn, nhấn mạnh ý thức vững vàng của nhà thơ khi gắn kết với cộng đồng
- Điệp từ “của” kết hợp với hệ thống từ xưng hô chỉ quan hệ máu mủ “anh”,
“em”, “con”: tình cảm của nhà thơ với quần chúng nhân dân gần gũi, khăng khít
như anh em ruột thịt
- Điệp từ “vạn” kết hợp với các hình ảnh “vạn nhà”, “vạn kiếp phôi pha”, “vạn
đầu em nhỏ”: thể hiện những số phận cơ cực, vất cả, nhỏ bé trong xã hội. Từ đó
nói lên tình nhân ái bao la, mang tính giai cấp
=> Tố Hữu tự nguyện chọn một chỗ đứng trong lòng dân tộc, coi mình là một
thành viên ruột thịt trong gia đình quần chúng cần lao => thể hiện tinh thần dân
tộc, tính nhân đạo sâu sắc
* Nội dung, nghệ thuật của bài thơ
- Giá trị nghệ thuật:
+ Sử dụng những hình ảnh ẩn dụ, so sánh đặc sắc
+ Nhịp điệu thơ dồn dập, da diết
+ Diễn tả tâm trạng vui sướng, say mê của nhà thơ khi đón nhận lý tưởng cộng
sản
- Giá trị nội dung:
+ “Từ ấy” là bản tuyên ngôn về nhận thức và quan điểm sáng tác của Tố Hữu
+ Tuyên ngôn về nhận thức: nhà thơ nguyện đi theo ánh sáng của Đảng, gắn bó
với quần chúng lao khổ
+ Tuyên ngôn về nghệ thuật: sáng tạo văn học không mơ mộng, viển vông,
người nghệ sĩ phải đứng trong hàng ngũ, gần gũi với quần chúng nhân dân.
+ Từ đây, Tố Hữu chính thức định hình phong cách của một ngòi bút trữ tình
chính trị.
3. Đánh giá:
- Cái tôi trữ tình trong Vội vàng dễ khiến chúng ta liên tưởng đến cái tôi
nói chung trong thơ mới. Luôn yêu cuộc đời đến cháy bỏng, thiết tha nhưng vẫn
buồn bã, suy tư và đầy bế tắc.
- Cái tôi trữ tình trong bài thơ Từ Ấy đã hòa nhập với cái "ta" chung của
cộng đồng, của dân tộc, lời thơ của Tố Hữu chính là đại diện cho tình cảm của
cả một thế hệ cán bộ chiến sĩ từng gắn bó với nhân dân, gần dân, hiểu dân là
máu mủ ruột rà của nhân dân..đó là cái tôi vui tươi phấn khởi của người thi sĩ đã
tìm thấy lý tưởng của đời mình.
III. Biểu điểm:
- Điểm 10-12,0: Đáp ứng được yêu cầu nêu trên, văn viết sâu sắc, diễn đạt trong
sáng. Bài viết thể hiện sự sáng tạo, cảm thụ riêng.
- Điểm 7-9: Cơ bản đáp ứng được yêu cầu trên, văn viết chưa thật sâu sắc nhưng
diễn đạt trong sáng. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ.
- Điểm 4-6: Cơ bản hiểu yêu cầu của đề. Bố cục bài viết rõ ràng. Chọn và phân
tích được dẫn chứng song ý chưa sâu sắc. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ.
- Điểm 1-3: Chưa hiểu rõ yêu cầu của đề. Diễn đạt lúng túng, trình bày cẩu thả.
- Điểm 0: Sai lạc cả nội dung và phương pháp.
* Lưu ý:
- Giám khảo nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng
quát bài làm của thí sinh. Cần khuyến khích những bài viết có chất văn, có
những suy nghĩ sáng tạo.
- Việc chi tiết hóa điểm số của các câu, các ý phải đảm bảo không sai
lệch với tổng điểm của câu và được thống nhất trong hội đồng chấm. Điểm lẻ
được làm tròn đến 0,5 điểm sau khi đã chấm xong và cộng tổng điểm toàn bài.
----------Hết----------
SỞ GD&ĐT BÌNH PHƯỚC
MA TRẬN
ĐỀ THI OLYMPIC NĂM HỌC 2022-2023
MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 11
Thời gian :150 phút (không kể giao đề)
Mức độ
Chủ
đề
Nhận biết
Kiểu bài
1. Làm
Nghị luận
văn: nghị
luận xã hội về một vấn
đề xã hội
bàn về lối
sống.
Số câu
0,5 điểm
Số điểm
Nhận biết
2. Làm
Thông hiểu Vận dụng
thấp
Vận dụng
cao
Các khái
niệm liên
quan đến
vấn đề nghị
luận.
Vận dụng
rút ra bài
học cho
cuộc sống
và bản thân
1,5 điểm
Hiểu vấn
Huy động
kiến thức
về đời sống
xã hội làm
rõ vấn đề.
4.0 điểm
Vận dụng
2,0 điểm
Có những
Cộng
1 câu
8,0 điểm
văn: nghị
luận văn
học
Số Câu:
Số điểm:
được kiểu
bài phân
tích ,so
sánh vấn đề
văn học
đề nghị
luận. Các
khái niệm
liên quan
đến vấn đề
nghị luận.
Hiểu về tác
giả, tác
phẩm.
1,0 điểm
1,0 điểm
2,0 điểm
2,5 điểm
kiến thức,
kĩ năng để
làm bài
nghị luận
liên tưởng
thú vị, sự lí
giải thấu
đáo, văn
viết có cảm
xúc.
8,0 điểm
2,0 điểm
11,5 điểm
4,0 điểm
1 câu
12 điểm
2 câu
20,0 điểm
 









Các ý kiến mới nhất