Đề thi chọn HSG

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Ban
Ngày gửi: 18h:55' 25-07-2023
Dung lượng: 26.8 KB
Số lượt tải: 164
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Ban
Ngày gửi: 18h:55' 25-07-2023
Dung lượng: 26.8 KB
Số lượt tải: 164
Số lượt thích:
0 người
ĐỀ THI OLYMPIC
MÔN: NGỮ VĂN LỚP 8
NĂM HỌC 2022 – 2023
(Thời gian làm bài 120 phút)
ĐỀ CHÍNH THỨC
Câu 1: (8.0 điểm)
Bài thuyết giảng
Tại ngôi làng nhỏ, vào ngày chủ nhật, có vị giáo sư thường đến nói chuyện
về cuộc sống. Hôm nay ông đến thăm nhà của cậu bé vốn không hề muốn chơi hay
kết bạn với ai. Cậu bé mời vị giáo sư vào nhà và lấy cho ông một chiếc ghế ngồi
bên bếp lửa cho ấm. Trong im lặng, hai người cùng ngồi nhìn những ngọn lửa
nhảy múa. Sau vài phút, vị giáo sư lấy cái kẹp, cẩn thận nhặt một mẩu than hồng
đang cháy sáng ra và đặt nó sang bên cạnh lò sưởi. Rồi ông lại ngồi xuống ghế,
vẫn im lặng. Cậu bé cũng im lặng quan sát mọi việc. Cục than đơn lẻ cháy nhỏ
dần rồi tắt hẳn.
Vị giáo sư nhìn đồng hồ và nhận ra đã đến giờ ông phải đi thăm nhà khác.
Ông chậm rãi đứng dậy, nhặt cục than lạnh đặt vào giữa bếp lửa. Ngay lập tức, nó
lại bắt đầu cháy, tỏa sáng với ánh sáng và hơi ấm của những cục than xung quanh
nó. Khi vị giáo sư đi ra cửa, cậu bé chủ nhà nắm tay ông nói:
- Cảm ơn bài thuyết giảng của bác!
(Phỏng theo Vặt vãnh và hoàn hảo, NXB Văn hóa Thông tin)
Bằng bài văn nghị luận ngắn khoảng 02 trang giấy thi, trình
bày suy nghĩ của em về thông điệp rút ra từ câu chuyện trên.
Câu 2: (12.0 điểm)
Nhà thơ Pháp Andre Chanien từng nói: “Nghệ thuật chỉ làm nên câu thơ,
trái tim mới làm nên thi sĩ.”
Qua học bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh, em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
- HẾT –
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI OLYMPIC
NĂM HỌC 2022 - 2023
MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 8
Câu
Hướng dẫn chấm
Câu 1
1. Kĩ năng
- Biết kết hợp các thao tác lập luận để làm một bài văn nghị
luận xã hội, chủ yếu là nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
- Ý kiến rõ ràng, thuyết phục.
- Bố cục chặt chẽ, lập luận thuyết phục, diễn đạt gãy gọn, mạch
lạc.
2. Yêu cầu kiến thức
Học sinh có thể trình bày theo những cách khác nhau nhưng
phải đảm bảo những ý cơ bản sau:
a. Giới thiệu vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm)
Sống tách biệt, khép kín thì cuộc sống trở nên vô nghĩa; khi hòa
mình với mọi người, cá nhân mới thực sự sống có ý nghĩa.
b. Giải thích, chứng minh (2,5 điểm)
- Giải thích
+ Khi đặt mẩu than hồng ra khỏi lò sưởi, nó cháy nhỏ dần rồi
tắt hẳn: con người bị tách ra khỏi môi trường tập thể, cộng
đồng, thế giới mà họ cần thuộc về, sự sống của họ sẽ lụi tàn, vô
nghĩa
(8.0
điểm)
+ Mẩu than lạnh khi được đặt lại vào giữa bếp lửa, ngay lập
tức bắt cháy, tỏa sáng: mỗi người khi được hòa mình vào tập
thể, được tiếp sức bởi tập thể sẽ có thêm điều kiện để phát huy
năng lực, sở trường, khẳng định tài năng, nhân cách.
→ Thông điệp rút ra: sống tách biệt, đơn độc, khép kín, cuộc
sống sẽ lụi tàn, vô nghĩa. Chỉ có hòa mình vào tập thể, cá nhân
mới tỏa sáng, cuộc sống khi đó mới thực sự có ý nghĩa.
- Chứng minh bằng lập luận và dẫn chứng cụ thể.
c. Bàn luận, mở rộng vấn đề (2,5 điểm)
- Hòa mình với mọi người, sẽ có được niềm vui; gắn bó với tập
thể sức mạnh của con người sẽ được nhân lên, khi đó tập thể
cũng thêm vững mạnh, phát triển.
- Thế giới luôn biến động không ngừng, luôn có những điều xảy
ra nằm ngoài khả năng giải quyết của một cá nhân, đất nước,
nếu không hợp sức, một cá nhân, một đất nước lẻ loi, đơn độc
hoàn toàn có thể bị nhấn chìm, đè bẹp. Bởi thế, hội nhập để
cùng phát triển là xu thế tất yếu của thời đại hiện nay.
- Cần phân biệt giữa lối sống hòa đồng với lối sống a dua theo
đám đông. Sự hòa đồng cho ta thêm sức mạnh, khẳng định
Điểm
0.5
0,5
0,5
0,5
0,5
1,0
0,75
0,75
0,5
Câu
Câu 2
(12.0
điểm)
Hướng dẫn chấm
Điểm
được bản thân; thói a dua chỉ khiến ta đánh mất chính mình.
- Phê phán những người sống khép kín, không hòa nhập với
cộng đồng, sống tách rời tập thể...
0,5
d. Bài học nhận thức và hành động (1,5 điểm)
- Cần có ý thức sống hòa đồng, vì cộng đồng, không nên sống
khép kín, tách biệt, cá nhân chủ nghĩa.
- Cần có hành động thiết thực, tích cực đóng góp sức mình để
xây dựng và phát triển cộng đồng, xã hội ngày càng tốt đẹp
hơn.
e. Khái quát vấn đề nghị luận (0,5 điểm)
Cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người biết sống hòa
mình vào tập thể, vì tập thể. Hãy đừng để cuộc sống tàn lụi
trong cô độc, lẻ loi.
Kỹ năng:
- Bài văn nghị luận có bố cục chặt chẽ rõ ràng, ngôn ngữ trong
sáng, không sai ngữ pháp, chính tả.
- Luận điểm luận, cứ rõ ràng, mạch lạc tập trung làm nổi bật
được vấn đề cần nghị luận.
Kiến thức:
Xác định đúng vấn đề nghị luận: Cái tâm, cái tài của nhà thơ Tế
Hanh qua bài thơ “Quê hương”. Bài làm có thể triển khai theo
hướng sau:
1. Mở bài (1.0 điểm)
- Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề.
- Trích dẫn ý kiến.
- Nêu giới hạn tác giả, tác phẩm.
2. Thân bài (4,0 điểm)
a. Giải thích
- Nghệ thuật: là những đặc sắc về hình thức (ngôn ngữ, hình
ảnh, giọng điệu...)
- trái tim: là thế giới của đời sống tâm hồn nhà thơ chứa đựng
những tư tưởng, tình cảm, những rung động trước cuộc đời…
Chính thế giới tâm hồn ấy đã làm nên cái hồn thơ, là yếu tố
không thể thiếu của một nghệ sĩ chân chính.
Để có những bài thơ hay đòi hỏi người nghệ sĩ vừa phải
có tài, vừa phải có tâm. Ý kiến đã khẳng định, đề cao thiên
chức của nhà thơ và quá trình sáng tạo nghệ thuật.
b. Chứng minh qua bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh
* Luận điểm 1: Bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh là bài thơ
đặc sắc về nghệ thuật.
- Lời đề từ của bài thơ “Chim bay dọc biển mang tin cá” là câu
thơ của phụ thân tác giả bày tỏ thái độ kính trọng, hàm ơn của
nhà thơ với người cha yêu dấu.
- Bài thơ được viết bằng thể thơ tám chữ tự do, ngắt nhịp linh
0,75
0,75
0,5
0.5
1.0
0.5
0.5
0.5
4.0
Câu
Hướng dẫn chấm
hoạt trong từng câu, nhạc điệu trong sáng, tha thiết; sử dụng
cách gieo vần liền giữa các câu, các khổ thơ tạo sự liền mạch
của dòng cảm xúc.
- Bài thơ có sự kết hợp những hình ảnh tự nhiên giản dị với
những hình ảnh giàu ý nghĩa biểu trưng, khái quát, sử dụng bút
pháp tả thực và lãng mạn bay bổng tạo nên sự độc đáo, sáng tạo
(chiếc thuyền như con tuấn mã, cánh buồm giương to như
mảnh hồn làng, chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm/ nghe chất
muối..., dân chài lưới... nồng thở vị xa xăm).
- Ngôn ngữ thơ hàm súc, gợi hình, gợi cảm. Có những câu thơ
cứ như câu nói tự nhiên, không trau chuốt từ ngữ nhưng vẫn
mang âm hưởng thi ca “Nước bao vây cách biển nửa ngày
sông”, “Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe”... Cách sử dụng nghệ
thuật so sánh, nhân hóa, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, điệp từ,
điệp ngữ, liệt kê độc đáo, giàu ý nghĩa.
- Giọng điệu bài thơ thể hiện đúng tâm trạng, cảm xúc của tác
giả: đứa con xa quê lâu ngày nhớ quê hương da diết. Giọng điệu
có sự biến đổi phù hợp với nội dung từng đoạn thơ: phấn chấn,
vui vẻ; trầm lắng, suy ngẫm và thiết tha, sâu lắng.
- Mạch cảm xúc của bài dạt dào tạo thành tứ thơ tự nhiên mà
chặt chẽ, lô gíc, dựa trên nỗi nhớ quê hương của người con xa
quê. Cảm xúc được bộc lộ qua niềm tự hào về vẻ đẹp bức tranh
làng quê tươi sáng với cảnh ra khơi đầy hào hứng, cảnh vui
mừng đón thuyền cá trở về và kết thúc bằng nỗi nhớ quê da
diết.
=> Những đặc sắc về nghệ thuật và cảm xúc đã làm nên sức hấp
dẫn của bài thơ.
* Luận điểm 2: Bài thơ để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng độc
giả chính bởi “trái tim” của thi sĩ.
- “Trái tim” tha thiết yêu mến và gắn bó với quê hương.
+ Lời giới thiệu đầy tự hào về khung cảnh làng quê vạn chài
yêu dấu (nghề nghiệp, vị trí của làng chài ven biển thanh bình;
khung cảnh tươi sáng với công việc lao động bình dị, quen
thuộc của ngư dân; hình ảnh con thuyền ra khơi căng tràn sự
sống: hình ảnh so sánh tinh tế, độc đáo của nhà thơ khi miêu tả
con thuyền và cánh buồm...)
+ Tình yêu với con người và cảnh lao động của quê hương: viết
về người dân chài với tất cả niềm tự hào hứng khởi: dân trai
tráng bơi thuyền đi đánh cá đầy khí thế; yêu hình ảnh những
ngư dân với làn da ngăm rám nắng; yêu cảnh dân làng tấp nập
đón ghe về; yêu con thuyền mệt mỏi say sưa sau một hành trình
vất vả…
- Nỗi nhớ quê hương cháy bỏng.
+ Nỗi nhớ quê hương thiết tha bật ra thành những lời nói vô
cùng giản dị: Nay xa cánh lòng tôi luôn tưởng nhớ; Tôi thấy
Điểm
1.5
1.5
Câu
Hướng dẫn chấm
nhớ cái mùi nồng mặn quá.
+ Nhớ hình ảnh, màu sắc bình dị, thân thuộc và đặc trưng của
quê hương: màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi, con thuyền
rẽ sóng ra khơi…
c. Đánh giá chung
- Quê hương là một bài thơ vừa đặc sắc về nghệ thuật, vừa tiêu
biểu cho “trái tim” của nhà thơ. Thể thơ tám chữ, giọng điệu
trong sáng, tha thiết, hình ảnh thơ đẹp, giản dị, sáng tạo... mang
nét đặc trưng của thơ mới.
- Ý kiến của Andre Chenien giúp ta cảm nhận sâu sắc và trân
trọng tài năng, trái tim của người nghệ sĩ.
3. Kết bài (1.0 điểm)
- Khẳng định lại vấn đề chứng minh: Những vần thơ của Tế
Hanh có sức lay động mạnh mẽ tới độc giả bởi được xuất phát
từ trái tim người nghệ sĩ, đánh thức trong trái tim ta tình yêu,
nỗi nhớ quê hương...
- Liên hệ, mở rộng.
* Lưu ý: HS có thể có cách trình bày lập luận khác đảm bảo
làm sáng tỏ lời nhận định của Andre Chanien về quá trình sáng
tạo nghệ thuật thì GV vẫn cho điểm. Tùy mức độ GV đánh giá
phù hợp.
……………… HẾT ………………
Điểm
1.0
1.0
MÔN: NGỮ VĂN LỚP 8
NĂM HỌC 2022 – 2023
(Thời gian làm bài 120 phút)
ĐỀ CHÍNH THỨC
Câu 1: (8.0 điểm)
Bài thuyết giảng
Tại ngôi làng nhỏ, vào ngày chủ nhật, có vị giáo sư thường đến nói chuyện
về cuộc sống. Hôm nay ông đến thăm nhà của cậu bé vốn không hề muốn chơi hay
kết bạn với ai. Cậu bé mời vị giáo sư vào nhà và lấy cho ông một chiếc ghế ngồi
bên bếp lửa cho ấm. Trong im lặng, hai người cùng ngồi nhìn những ngọn lửa
nhảy múa. Sau vài phút, vị giáo sư lấy cái kẹp, cẩn thận nhặt một mẩu than hồng
đang cháy sáng ra và đặt nó sang bên cạnh lò sưởi. Rồi ông lại ngồi xuống ghế,
vẫn im lặng. Cậu bé cũng im lặng quan sát mọi việc. Cục than đơn lẻ cháy nhỏ
dần rồi tắt hẳn.
Vị giáo sư nhìn đồng hồ và nhận ra đã đến giờ ông phải đi thăm nhà khác.
Ông chậm rãi đứng dậy, nhặt cục than lạnh đặt vào giữa bếp lửa. Ngay lập tức, nó
lại bắt đầu cháy, tỏa sáng với ánh sáng và hơi ấm của những cục than xung quanh
nó. Khi vị giáo sư đi ra cửa, cậu bé chủ nhà nắm tay ông nói:
- Cảm ơn bài thuyết giảng của bác!
(Phỏng theo Vặt vãnh và hoàn hảo, NXB Văn hóa Thông tin)
Bằng bài văn nghị luận ngắn khoảng 02 trang giấy thi, trình
bày suy nghĩ của em về thông điệp rút ra từ câu chuyện trên.
Câu 2: (12.0 điểm)
Nhà thơ Pháp Andre Chanien từng nói: “Nghệ thuật chỉ làm nên câu thơ,
trái tim mới làm nên thi sĩ.”
Qua học bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh, em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
- HẾT –
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI OLYMPIC
NĂM HỌC 2022 - 2023
MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 8
Câu
Hướng dẫn chấm
Câu 1
1. Kĩ năng
- Biết kết hợp các thao tác lập luận để làm một bài văn nghị
luận xã hội, chủ yếu là nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
- Ý kiến rõ ràng, thuyết phục.
- Bố cục chặt chẽ, lập luận thuyết phục, diễn đạt gãy gọn, mạch
lạc.
2. Yêu cầu kiến thức
Học sinh có thể trình bày theo những cách khác nhau nhưng
phải đảm bảo những ý cơ bản sau:
a. Giới thiệu vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm)
Sống tách biệt, khép kín thì cuộc sống trở nên vô nghĩa; khi hòa
mình với mọi người, cá nhân mới thực sự sống có ý nghĩa.
b. Giải thích, chứng minh (2,5 điểm)
- Giải thích
+ Khi đặt mẩu than hồng ra khỏi lò sưởi, nó cháy nhỏ dần rồi
tắt hẳn: con người bị tách ra khỏi môi trường tập thể, cộng
đồng, thế giới mà họ cần thuộc về, sự sống của họ sẽ lụi tàn, vô
nghĩa
(8.0
điểm)
+ Mẩu than lạnh khi được đặt lại vào giữa bếp lửa, ngay lập
tức bắt cháy, tỏa sáng: mỗi người khi được hòa mình vào tập
thể, được tiếp sức bởi tập thể sẽ có thêm điều kiện để phát huy
năng lực, sở trường, khẳng định tài năng, nhân cách.
→ Thông điệp rút ra: sống tách biệt, đơn độc, khép kín, cuộc
sống sẽ lụi tàn, vô nghĩa. Chỉ có hòa mình vào tập thể, cá nhân
mới tỏa sáng, cuộc sống khi đó mới thực sự có ý nghĩa.
- Chứng minh bằng lập luận và dẫn chứng cụ thể.
c. Bàn luận, mở rộng vấn đề (2,5 điểm)
- Hòa mình với mọi người, sẽ có được niềm vui; gắn bó với tập
thể sức mạnh của con người sẽ được nhân lên, khi đó tập thể
cũng thêm vững mạnh, phát triển.
- Thế giới luôn biến động không ngừng, luôn có những điều xảy
ra nằm ngoài khả năng giải quyết của một cá nhân, đất nước,
nếu không hợp sức, một cá nhân, một đất nước lẻ loi, đơn độc
hoàn toàn có thể bị nhấn chìm, đè bẹp. Bởi thế, hội nhập để
cùng phát triển là xu thế tất yếu của thời đại hiện nay.
- Cần phân biệt giữa lối sống hòa đồng với lối sống a dua theo
đám đông. Sự hòa đồng cho ta thêm sức mạnh, khẳng định
Điểm
0.5
0,5
0,5
0,5
0,5
1,0
0,75
0,75
0,5
Câu
Câu 2
(12.0
điểm)
Hướng dẫn chấm
Điểm
được bản thân; thói a dua chỉ khiến ta đánh mất chính mình.
- Phê phán những người sống khép kín, không hòa nhập với
cộng đồng, sống tách rời tập thể...
0,5
d. Bài học nhận thức và hành động (1,5 điểm)
- Cần có ý thức sống hòa đồng, vì cộng đồng, không nên sống
khép kín, tách biệt, cá nhân chủ nghĩa.
- Cần có hành động thiết thực, tích cực đóng góp sức mình để
xây dựng và phát triển cộng đồng, xã hội ngày càng tốt đẹp
hơn.
e. Khái quát vấn đề nghị luận (0,5 điểm)
Cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người biết sống hòa
mình vào tập thể, vì tập thể. Hãy đừng để cuộc sống tàn lụi
trong cô độc, lẻ loi.
Kỹ năng:
- Bài văn nghị luận có bố cục chặt chẽ rõ ràng, ngôn ngữ trong
sáng, không sai ngữ pháp, chính tả.
- Luận điểm luận, cứ rõ ràng, mạch lạc tập trung làm nổi bật
được vấn đề cần nghị luận.
Kiến thức:
Xác định đúng vấn đề nghị luận: Cái tâm, cái tài của nhà thơ Tế
Hanh qua bài thơ “Quê hương”. Bài làm có thể triển khai theo
hướng sau:
1. Mở bài (1.0 điểm)
- Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề.
- Trích dẫn ý kiến.
- Nêu giới hạn tác giả, tác phẩm.
2. Thân bài (4,0 điểm)
a. Giải thích
- Nghệ thuật: là những đặc sắc về hình thức (ngôn ngữ, hình
ảnh, giọng điệu...)
- trái tim: là thế giới của đời sống tâm hồn nhà thơ chứa đựng
những tư tưởng, tình cảm, những rung động trước cuộc đời…
Chính thế giới tâm hồn ấy đã làm nên cái hồn thơ, là yếu tố
không thể thiếu của một nghệ sĩ chân chính.
Để có những bài thơ hay đòi hỏi người nghệ sĩ vừa phải
có tài, vừa phải có tâm. Ý kiến đã khẳng định, đề cao thiên
chức của nhà thơ và quá trình sáng tạo nghệ thuật.
b. Chứng minh qua bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh
* Luận điểm 1: Bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh là bài thơ
đặc sắc về nghệ thuật.
- Lời đề từ của bài thơ “Chim bay dọc biển mang tin cá” là câu
thơ của phụ thân tác giả bày tỏ thái độ kính trọng, hàm ơn của
nhà thơ với người cha yêu dấu.
- Bài thơ được viết bằng thể thơ tám chữ tự do, ngắt nhịp linh
0,75
0,75
0,5
0.5
1.0
0.5
0.5
0.5
4.0
Câu
Hướng dẫn chấm
hoạt trong từng câu, nhạc điệu trong sáng, tha thiết; sử dụng
cách gieo vần liền giữa các câu, các khổ thơ tạo sự liền mạch
của dòng cảm xúc.
- Bài thơ có sự kết hợp những hình ảnh tự nhiên giản dị với
những hình ảnh giàu ý nghĩa biểu trưng, khái quát, sử dụng bút
pháp tả thực và lãng mạn bay bổng tạo nên sự độc đáo, sáng tạo
(chiếc thuyền như con tuấn mã, cánh buồm giương to như
mảnh hồn làng, chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm/ nghe chất
muối..., dân chài lưới... nồng thở vị xa xăm).
- Ngôn ngữ thơ hàm súc, gợi hình, gợi cảm. Có những câu thơ
cứ như câu nói tự nhiên, không trau chuốt từ ngữ nhưng vẫn
mang âm hưởng thi ca “Nước bao vây cách biển nửa ngày
sông”, “Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe”... Cách sử dụng nghệ
thuật so sánh, nhân hóa, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, điệp từ,
điệp ngữ, liệt kê độc đáo, giàu ý nghĩa.
- Giọng điệu bài thơ thể hiện đúng tâm trạng, cảm xúc của tác
giả: đứa con xa quê lâu ngày nhớ quê hương da diết. Giọng điệu
có sự biến đổi phù hợp với nội dung từng đoạn thơ: phấn chấn,
vui vẻ; trầm lắng, suy ngẫm và thiết tha, sâu lắng.
- Mạch cảm xúc của bài dạt dào tạo thành tứ thơ tự nhiên mà
chặt chẽ, lô gíc, dựa trên nỗi nhớ quê hương của người con xa
quê. Cảm xúc được bộc lộ qua niềm tự hào về vẻ đẹp bức tranh
làng quê tươi sáng với cảnh ra khơi đầy hào hứng, cảnh vui
mừng đón thuyền cá trở về và kết thúc bằng nỗi nhớ quê da
diết.
=> Những đặc sắc về nghệ thuật và cảm xúc đã làm nên sức hấp
dẫn của bài thơ.
* Luận điểm 2: Bài thơ để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng độc
giả chính bởi “trái tim” của thi sĩ.
- “Trái tim” tha thiết yêu mến và gắn bó với quê hương.
+ Lời giới thiệu đầy tự hào về khung cảnh làng quê vạn chài
yêu dấu (nghề nghiệp, vị trí của làng chài ven biển thanh bình;
khung cảnh tươi sáng với công việc lao động bình dị, quen
thuộc của ngư dân; hình ảnh con thuyền ra khơi căng tràn sự
sống: hình ảnh so sánh tinh tế, độc đáo của nhà thơ khi miêu tả
con thuyền và cánh buồm...)
+ Tình yêu với con người và cảnh lao động của quê hương: viết
về người dân chài với tất cả niềm tự hào hứng khởi: dân trai
tráng bơi thuyền đi đánh cá đầy khí thế; yêu hình ảnh những
ngư dân với làn da ngăm rám nắng; yêu cảnh dân làng tấp nập
đón ghe về; yêu con thuyền mệt mỏi say sưa sau một hành trình
vất vả…
- Nỗi nhớ quê hương cháy bỏng.
+ Nỗi nhớ quê hương thiết tha bật ra thành những lời nói vô
cùng giản dị: Nay xa cánh lòng tôi luôn tưởng nhớ; Tôi thấy
Điểm
1.5
1.5
Câu
Hướng dẫn chấm
nhớ cái mùi nồng mặn quá.
+ Nhớ hình ảnh, màu sắc bình dị, thân thuộc và đặc trưng của
quê hương: màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi, con thuyền
rẽ sóng ra khơi…
c. Đánh giá chung
- Quê hương là một bài thơ vừa đặc sắc về nghệ thuật, vừa tiêu
biểu cho “trái tim” của nhà thơ. Thể thơ tám chữ, giọng điệu
trong sáng, tha thiết, hình ảnh thơ đẹp, giản dị, sáng tạo... mang
nét đặc trưng của thơ mới.
- Ý kiến của Andre Chenien giúp ta cảm nhận sâu sắc và trân
trọng tài năng, trái tim của người nghệ sĩ.
3. Kết bài (1.0 điểm)
- Khẳng định lại vấn đề chứng minh: Những vần thơ của Tế
Hanh có sức lay động mạnh mẽ tới độc giả bởi được xuất phát
từ trái tim người nghệ sĩ, đánh thức trong trái tim ta tình yêu,
nỗi nhớ quê hương...
- Liên hệ, mở rộng.
* Lưu ý: HS có thể có cách trình bày lập luận khác đảm bảo
làm sáng tỏ lời nhận định của Andre Chanien về quá trình sáng
tạo nghệ thuật thì GV vẫn cho điểm. Tùy mức độ GV đánh giá
phù hợp.
……………… HẾT ………………
Điểm
1.0
1.0
 








Các ý kiến mới nhất