Đề thi học kì 2

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: SƯU TẦM
Người gửi: nguyễn văn giây
Ngày gửi: 21h:41' 15-03-2025
Dung lượng: 52.2 KB
Số lượt tải: 36
Nguồn: SƯU TẦM
Người gửi: nguyễn văn giây
Ngày gửi: 21h:41' 15-03-2025
Dung lượng: 52.2 KB
Số lượt tải: 36
Số lượt thích:
0 người
SỞ GDĐT TIỀN GIANG
TRƯỜNG THPT
(Đề có 03 trang)
ĐỀ CHÍNH THỨC
ĐỀ KIỂM TRA GIỮA KỲ 2
NĂM HỌC 2024-2025
MÔN: Ngữ văn- KHỐI: 11
Ngày kiểm tra: /03/2025
Thời gian làm bài : 90 phút
I/ ĐỌC HIỂU:(5,0 điểm)
Đọc văn bản:
NƯỚC MẮT CỦA RỪNG
Tạ Ngọc Điệp
Ở đây, 20 năm trước trẻ con vẫn đọc câu “nước Việt Nam rừng vàng biển
bạc”. Cái thực tế được chứng minh rõ rệt. Trẻ con kiếm củi chăn bò, mẹ hái
măng, hái rau rừng, xúc cá ven suối. Bố đưa trâu lên rừng kéo gỗ, lấy mật ong.
Đi từ sáng sớm, đùm cơm, bi đông nước, tối mịt mới về. Ở xóm này chỉ có chết
vì băng huyết, vì sinh khó, vì sốt rét chứ chưa thấy ai chết vì đói.
Cái tuổi thơ ấy trôi qua nhanh, cái bìa rừng cứ xa tít tắp. Lâu lâu có người
đi lạc trong rừng được trâu đem về, có người bị Furlo bắn chết khi đang kiếm lá
thuốc trong những cánh rừng ấy. Sống bám rừng, chết cũng nằm xuống những
gốc cây ven rừng. Lớn lên chút nữa thì dân đi kinh tế mới đông hơn, cánh rừng
trở nên xa hơn, mãi bên kia ngọn suối. Trường học cũng được dựng gần rừng,
lớp học 15 đứa từ lớp 1 đến lớp 3, có cô giáo nói giọng Nghệ Tĩnh làm tức mắt
mấy anh chàng thợ rừng, thợ săn xa vợ.
Là xóm người Kinh duy nhất nằm gần bìa rừng, dân cư thưa thớt với vài
chục hộ, hầu hết đều là những người trẻ mạnh khỏe. Đàn bà đẻ nhiều, đàn ông
họ lập phường hội sắm xe thồ đi kiếm gỗ. Đến kiếm ăn từ những vùng quê khác
nhau nên người dân cũng đùm bọc nhau, lâu lâu lại có hộ gia đình nào đó rủ
thêm bạn bè anh em đồng hương ở quê vào, mang cả vợ con nên xóm Trái ngày
càng đông đúc. Đám đàn ông đi thồ gỗ, lúc đầu họ chỉ thồ gỗ hương, trắc cho
phường buôn, rồi cả gỗ dỗi, chò chỉ. […] Những chuyến đi rừng một ngày thưa
dần, người ta đi hai ba ngày mới về. Bán. Nghỉ ngơi. Sắm chuyến và đi tiếp.
[…]
Dạo ấy người ta rộ lên gỗ pơmu, nghe nói cánh rừng K5 này Pơmu nhiều
lắm […] Người ta đi băng rừng tìm rồi kháo nhau, có, có mà làm đến đời cháu
vẫn không hết. […] Giá bán pơmu nghe đâu cũng cao lắm và chỉ còn Tây
Nguyên là có nhiều. Thợ rừng khá hơn thì các phường buôn gỗ giàu trông thấy,
người ta buôn xuống cảng Qui Nhơn, chung chi xong xuôi thì lời một chuyến cả
chục cây vàng thời đó. […] Đường vào rừng cứ như trẩy hội. Rầm rầm. […]
1
Cánh rừng pơ mu bớt xanh thì phải đổi đến ngót nghét bốn chục mạng với
vô số lí do dở người […] Gỗ khai thác càng đắt giá thì cánh thợ rừng càng có
giá, rượu đưa vào tận nơi với giá gấp hai mươi lần mà bao nhiêu cũng hết, dịch
vụ em út cũng gùi đến tận lán […] Mưa rừng qua bao nhiêu mùa vẫn ẩm dột,
chị em Giang lớn lên mơn mởn nhưng chưa thấy ai đi rừng nhiều mà giàu. Bố
Giang nổi tiếng siêng năng xốc vác mà cũng chỉ nuôi đủ 5 chị em Giang bà vợ
chuẩn bị sinh con thứ 6. […]
Rừng cạn dần, người ta bắt đầu đi nhặt lại những mảnh vụn, những cành
nhỏ mà trước đây họ cho là phế phẩm. […] Mấy ông không còn sức để đi nữa
nhưng nhớ rừng lắm, nhớ những đồng tiền màu xanh mát rượi, những mụ đàn
bà thiếu vải đi ngang qua lán bạt ỏn ẻn, nhớ thời ngang dọc giữa Kbang, Kon
Tum oai phong như hổ báo còn giờ tay mỏi chân run, sức đã vắt kiệt cho bầy
con háu ăn mà cái nghèo vẫn đeo từ năm này qua năm khác. Kiểm lâm, công an
họ càng làm gắt hơn, ai khai thác không có giấy phép họ bắt giam nên hãi.
Xóm Trái văng vẳng tiếng chó sủa. Cánh thợ rừng giờ đã dạt đi đâu hết.
Chú Thông thọt một chân nhưng vẫn nhanh nhẹn vì giải nghệ rừng sớm. Tôi
nhẹ nhàng hỏi: “mười lăm năm khai thác với hàng chục ngàn khối gỗ ngang
qua đây, ba bốn năm gần đây cháu không nghe ai nhắc đến pơ mu nữa, có lẽ pơ
mu đã tuyệt chủng rồi chú hà”. Chế thêm ấm trà, lão thở dài: “Gỗ lạt bữa ni có
mô nữa cháu, hồi chú mới đi cứ nghĩ mần hết đời cũng không hết, vậy mà hết
thiệt cháu nờ”. “Vậy nhà dân ở đây họ làm chi để sống hả chú?”. Tôi hỏi thêm.
“Thì vẫn bám rừng, hái thuốc làm gỗ tạp, gùi gỗ cho cánh đầu nậu, bảo kê,
được trả lương nhưng không phải muốn làm là làm, muốn nghỉ là nghỉ, rừng
cũng có luật của rừng cháu à […] Mấy đám rừng bên kia nhìn vậy chứ vô trong
người ta chặt và ủi trọc hết rồi, cha ơi là đau đớn”. […] “Hai mươi năm mà
nước mắt từ những cánh rừng chưa ngừng chảy”. Lão nói tiếp. Tôi không nghĩ
một ông thợ rừng lâu năm mà triết lí đến như thế. […] Những cánh rừng
nguyên sinh trong kí ức của ba tôi kể trong chuyến công tác giờ trơ trọi, trọc lóc
chỉ còn những quả đồi tròn như cái bát úp. Tôi tròn mắt và căng tai nghe toàn
bộ câu chuyện của rừng của một người từng là lâm tặc lão làng. Thi thoảng lão
chép miệng: “nhanh quá, nhanh quá, ai ngờ có ngày rừng kiệt, thợ rừng phá
rừng nhưng còn xót rừng, còn thương rừng vì nó có một phần máu thịt của
mình cháu à”.
Ngày ấy lâm tặc chỉ đốn những cây đủ tuổi đủ tác, đủ để lấy gỗ, đủ sức
mình thồ về, còn bây giờ họ đốn kiệt, họ san bằng trước sự chứng kiến của hàng
2
vạn người. Một người còn nói vô cảm, chứ hàng triệu người phải có trăm người
có trách nhiệm mà còn lên tiếng để giữ lại cây, lại đất, lại rừng.” […]
(Nguồn:https:vanhocsaigon.com/truyen-ngan-ta-ngoc-diep-nuoc-mat-cua-rung/)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1: Nêu đề tài truyện ngắn trên.
Câu 2: Xác định ngôi kể trong truyện.
Câu 3: Căn cứ vào nội dung của truyện, em hãy lí giải mối quan hệ giữa hai chi
tiết sau:
- Chi tiết 1: “Giá bán gỗ pơ mu cao lắm và chỉ có vùng đất Tây Nguyên là có
nhiều”.
- Chi tiết 2: “Những cánh rừng trong kí ức của ba tôi kể trong chuyến công tác
giờ trơ trọi, trọc lóc”.
Câu 4: Lí giải vai trò của nhân vật “tôi” trong truyện ngắn.
Câu 5: Trình bày điểm tương đồng về cách ứng xử của con người đối với thiên
nhiên trong truyện “Nước mắt của rừng” (Tạ Ngọc Điệp) và truyện “Muối của
rừng” (Nguyễn Huy Thiệp).
II. VIẾT: (5,0 điểm)
Trong truyện ngắn “Nước mắt của rừng” tác giả Tạ Ngọc Điệp đã phản
ánh thực trạng lòng tham của con người đã đốn kiệt, san bằng những cánh rừng
bạt ngàn của vùng đất Tây Nguyên. Từ vấn đề đặt ra trong văn bản, em hãy viết
bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của mình về vấn nạn khai thác rừng bừa
bãi biến rừng thành đồi trọc.
----------------------------------HẾT------------------------------
3
SỞ GDĐT TIỀN GIANG
TRƯỜNG THPT
T
T
Kĩ
năng
1
Đọc
hiểu
2
Viết
Tổng
Tỉ lệ %
MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA GIỮA KỲ 2
NĂM HỌC 2024-2025
MÔN: Ngữ văn - KHỐI: 11
Ngày kiểm tra: /03/2025
Thời gian làm bài : 90 phút
Nội dung kiến thức / Đơn vị kĩ
năng
Mức độ nhận thức
Vận Tổng
Nhậ
Vận
Thôn
dụn
%
n
dụn
g hiểu
g
biết
g
cao
Truyện hiện đại
2
2
1
Viết văn bản nghị luận về một vấn
đề xã hội trong tác phẩm văn học.
1*
1*
1*
20%
20%
40 %
50
1*
50
10
50
%
%
60%
100
4
SỞ GDĐT TIỀN GIANG
TRƯỜNG THPT
ĐẶC TẢ KIỂM TRA GIỮA KỲ 2
NĂM HỌC 2024-2025
MÔN: Ngữ văn - KHỐI: 11
Ngày kiểm tra: 15/03/2025
Thời gian làm bài : 90 phút
Số lượng câu hỏi theo mức độ Tổng
Đơn vị
nhận thức
%
Kĩ kiến
TT
Mức độ đánh giá Nhận
Thông Vận
Vận
năng thức
/
biết
hiểu
dụng dụng
Kĩ năng
cao
1.
Đọc Truyện
Nhận biết:
2 câu
2 câu 1 câu
50
hiểu hiện đại - Nhận biết được
đề tài, câu chuyện,
sự kiện, chi tiết
tiêu biểu, không
gian, thời gian,
nhân vật trong
truyện ngắn và
tiểu thuyết hiện
đại (câu 1)
- Nhận biết được
người kể chuyện
( ngôi thứ nhất),
lời
người
kể
chuyện, lời nhân
vật trong truyện
ngắn
và
tiểu
thuyết hiện đại.
(câu 2)
Thông hiểu:
- Phân tích, lí giải
được mối quan hệ
5
của các sự việc,
chi
tiết trong tính
chỉnh thể của tác
phẩm. (câu 3)
- Phân tích được
đặc điểm, vị trí,
vai trò của của
nhân vật trong
truyện ngắn, tiểu
thuyết hiện đại; lí
giải được ý nghĩa
của nhân vật (câu
4)
Vận dụng:
- So sánh được hai
văn bản văn học
cùng đề tài ở các
giai đoạn khác
nhau; liên tưởng,
mở rộng vấn đề để
hiểu sâu hơn với
tác phẩm. (câu 5)
2.
Viết
Nghị
luận về
một vấn
đề xã hội
trong tác
phẩm
văn học.
Nhận biết:
1*
- Xác định được
yêu cầu về nội
dung và hình thức
của bài văn nghị
luận.
- Mô tả được vấn
đề xã hội và hững
dấu hiệu, biểu iện
của vấn đề xã hội
trong bài viết.
- Xác định rõ được
1*
1*
1
câu
TL
50
6
mục đích, đối
tượng nghị luận.
- Đảm bảo cấu
trúc, bố cục của
một văn bản nghị
luận.
Thông hiểu:
- Giải thích được
những khái
niệm liên quan
đến vấn đề nghị
luận.
- Trình bày rõ
quan điểm và hệ
thống các luận
điểm.
- Kết hợp được lí
lẽ và dẫn chứng để
tạo tính chặt chẽ,
logic của mỗi luận
điểm.
- Cấu trúc chặt
chẽ, có mở đầu
và kết thúc gây ấn
tượng; sử dụng
các lí lẽ và bằng
chứng thuyết
phục, chính xác,
tin cậy, thích hợp,
đầy đủ; đảm bảo
chuẩn chính tả,
ngữ pháp tiếng
Việt.
Vận dụng:
- Đánh giá được ý
nghĩa, ảnh hưởng
của vấn đề đối với
con người, xã hội.
- Nêu được những
7
bài học, những đề
nghị, khuyến nghị
rút ra từ vấn đề
bàn luận.
Vận dụng cao:
- Sử dụng kết hợp
các phương thức
miêu tả, biểu cảm,
tự sự… để tăng
sức thuyết phục
cho bài viết.
- Vận dụng hiệu
quả những kiến
thức tiếng Việt lớp
11 để tăng tính
thuyết phục, sức
hấp dẫn cho bài
viết.
Tỉ lệ %
SỞ GDĐT TIỀN GIANG
20%
20%
10%
50%
100
%
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ KIỂM TRA GIỮA KỲ 2
8
TRƯỜNG THPT
(Hướng dẫn chấm có 03 trang)
Phần Câu
I
1
2
3
4
5
NĂM HỌC 2024-2025
MÔN: Ngữ văn - KHỐI: 11
Ngày kiểm tra: 15/03/2025
Thời gian làm bài : 90 phút
Nội dung
ĐỌC HIỂU
Đề tài: Thiên nhiên và con người.
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh trả lời đúng: 1,0 điểm.
- Học sinh trả lời thiên nhiên (0,5 điểm), con người (0,5 điểm)
hoặc rừng (0,5 điểm).
- Học sinh trả lời sai hoặc không trả lời: 00 điểm.
Ngôi kể: Ngôi thứ nhất
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh trả lời đúng như đáp án: 1,0 điểm.
- Học sinh trả lời không đúng hoặc không trả lời: 00 điểm
Lí giải mối liên hệ giữa 02 chi tiết…:
+ Vì giá gỗ pơ mu cao nên cánh buôn gỗ đổ xô đến những
cánh rừng Tây Nguyên để phá rừng buôn gỗ.
+ Vì phá rừng lấy gỗ nhiều nên rừng kiệt, những cánh rừng
xanh biến thành đồi trọc
* Hai chi tiết có mối liên hệ nhân quả, chi tiết 2 như là hệ quả
tất yếu của chi tiết 1.
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh lí giải rõ mỗi chi tiết: 0,25 điểm
- Học sinh lí giải được mối quan hệ nhân – quả: 0,5điểm
- Học sinh trả lời sai hoặc không trả lời: 0,00 điểm
Vai trò của nhân vật “tôi”:
+ Nhân vật chính.
+ Giữ vai trò quan trọng trong việc thể hiện chủ đề, tư tưởng,
thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm đền người đọc.
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh trả lời đúng 2 ý đáp án: 1,0 điểm.
- Học sinh trả lời đúng ý 1 được 0,25 điểm.
- Học sinh trả lời đúng ý 2 được 0,75 điểm.
Cách ứng xử của con người đối với thiên nhiên trong truyện
“Nước mắt của rừng”- (Tạ Ngọc Điệp) và truyện “Muối của
rừng”- (Nguyễn Huy Thiệp) có điểm tương đồng:
- Đối xử thô bạo với thiên nhiên.
Điểm
5,0
1,0
1,0
1,0
1,0
1,0
9
II
- Chỉ ra cụ thể:
+ Muối của rừng: Bắn hạ con khỉ đực.
+ Nước mắt của rừng: Chặt phá rừng.
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh nêu được điểm tương đồng: Đối xử thô bạo với
thiên nhiên: 0,75 điểm.
- Học sinh chỉ ra cụ thể được 2 ý: 0,25 điểm.
- Học sinh trả không trả lời: 00 điểm.
VIẾT
Từ vấn đề đặt ra trong văn bản đọc hiểu trên, em hãy viết bài
văn nghị luận trình bày suy nghĩ của mình về vấn nạn khai thác rừng
bừa bãi biến rừng thành đồi trọc.
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận
Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài
khái quát được vấn đề.
b. Xác định đúng yêu cầu của đề.
Vấn nạn khai thác rừng bừa bãi biến rừng thành đồi trọc hiện nay.
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,5 điểm.
- Học sinh xác định chưa đầy đủ vấn đề nghị luận: 0,25 điểm.
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
HS có thể trình bày bài viết theo nhiều cách trên cơ sở đảm bảo
những yêu cầu sau:
- Nêu vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm: “Nước mắt của rừng” cho
thấy tình trạng lâm tặc khai thác rừng bừa bãi biến những cánh rừng
xanh trở thành đồi trọc.
- Trình bày luận điểm để làm rõ quan điểm của bản thân:
+ Việc phá rừng bán gỗ xuất phát từ sự thiếu ý thức, tham lợi trước
mắt của một số con buôn, thiếu hiểu biết nên không nhận ra tầm
quan trọng của môi trường sinh thái.
+ Rừng xanh bị khai thác cạn kiệt là vấn đề cần xã hội quan tâm vì
gây ra những hậu quả nghiêm trọng (phá vỡ môi trường sinh thái tự
nhiên, nguyên nhân chính dẫn đến lũ lụt, sạt lở, ảnh hưởng kinh tế và
đe dọa sinh mạng của người dân).
- Bình luận cách tác phẩm đặt ra và giải quyết vấn đề:
+ Vấn đề chưa được giải quyết triệt để trong tác phẩm. Đoạn trích
kết thúc bằng sự tiếc nuối của người thợ rừng lâu năm và suy ngẫm
của người viết về trách nhiệm của mỗi cá nhân.
5,0
0,25
0,5
3,75
10
+ Tình cảm của những người dân thương rừng, nhớ rừng trong tác
phẩm có tác động tích cực đến tình cảm, cảm xúc của người đọc từ
đó có nhận thức đúng đắn.
→Tác phẩm nhằm nhắc nhở mọi người cần hài hòa giữa khai thác và
tái tạo thiên nhiên nếu không muốn một ngày phải hứng chịu những
hậu quả nặng nề do lòng tham của một số ít người gây ra.
- Phản hồi các ý kiến trái chiều.
- Đánh giá đóng góp của tác phẩm: Nước mắt của rừng đã gióng
thêm hồi chuông cảnh tỉnh, nhắc nhở mọi người về mối quan hệ gắn
bó không thể tách rời giữa con người và môi trường sống.
- Bài học - giải pháp: Với những kẻ tạo ra nạn phá rừng cần xử lí
thích đáng với hành vi vi phạm pháp luật, chính quyền cần phối hợp
chặt chẽ với người dân để ngăn chặn tình trạng này, kêu gọi mọi
người chung tay xây dựng hành tinh xanh bằng những việc làm giản
dị, thiết thực…
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh lập luận chặt chẽ, thuyết phục, biết nêu và đánh giá cách
tác phẩm đặt ra và giải quyết vấn đề:3,0 – 3,75 điểm.
- Học sinh lập luận chưa thật chặt chẽ: 2,0 điểm – 3,0 điểm.
- Học sinh lập luận không chặt chẽ: 1,0 điểm – 2,0 điểm.
Lưu ý: - Phần đánh giá đóng góp của tác phẩm cho 0,25 điểm.
- Học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù
hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
d. Chính tả, từ ngữ, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt.
- Bài làm không mắc quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp, chữ viết đọc
được, trình bày rõ ràng: 0,25 điểm.
- Bài làm mắc quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp, chữ viết không đọc
được: 00 điểm.
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách
diễn đạt mới mẻ.
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh đáp ứng được yêu cầu: 0,25 điểm.
- Học sinh đáp ứng được yêu cầu: 0,00 điểm.
0,25
0,25
--------------------HẾT--------------------
11
12
TRƯỜNG THPT
(Đề có 03 trang)
ĐỀ CHÍNH THỨC
ĐỀ KIỂM TRA GIỮA KỲ 2
NĂM HỌC 2024-2025
MÔN: Ngữ văn- KHỐI: 11
Ngày kiểm tra: /03/2025
Thời gian làm bài : 90 phút
I/ ĐỌC HIỂU:(5,0 điểm)
Đọc văn bản:
NƯỚC MẮT CỦA RỪNG
Tạ Ngọc Điệp
Ở đây, 20 năm trước trẻ con vẫn đọc câu “nước Việt Nam rừng vàng biển
bạc”. Cái thực tế được chứng minh rõ rệt. Trẻ con kiếm củi chăn bò, mẹ hái
măng, hái rau rừng, xúc cá ven suối. Bố đưa trâu lên rừng kéo gỗ, lấy mật ong.
Đi từ sáng sớm, đùm cơm, bi đông nước, tối mịt mới về. Ở xóm này chỉ có chết
vì băng huyết, vì sinh khó, vì sốt rét chứ chưa thấy ai chết vì đói.
Cái tuổi thơ ấy trôi qua nhanh, cái bìa rừng cứ xa tít tắp. Lâu lâu có người
đi lạc trong rừng được trâu đem về, có người bị Furlo bắn chết khi đang kiếm lá
thuốc trong những cánh rừng ấy. Sống bám rừng, chết cũng nằm xuống những
gốc cây ven rừng. Lớn lên chút nữa thì dân đi kinh tế mới đông hơn, cánh rừng
trở nên xa hơn, mãi bên kia ngọn suối. Trường học cũng được dựng gần rừng,
lớp học 15 đứa từ lớp 1 đến lớp 3, có cô giáo nói giọng Nghệ Tĩnh làm tức mắt
mấy anh chàng thợ rừng, thợ săn xa vợ.
Là xóm người Kinh duy nhất nằm gần bìa rừng, dân cư thưa thớt với vài
chục hộ, hầu hết đều là những người trẻ mạnh khỏe. Đàn bà đẻ nhiều, đàn ông
họ lập phường hội sắm xe thồ đi kiếm gỗ. Đến kiếm ăn từ những vùng quê khác
nhau nên người dân cũng đùm bọc nhau, lâu lâu lại có hộ gia đình nào đó rủ
thêm bạn bè anh em đồng hương ở quê vào, mang cả vợ con nên xóm Trái ngày
càng đông đúc. Đám đàn ông đi thồ gỗ, lúc đầu họ chỉ thồ gỗ hương, trắc cho
phường buôn, rồi cả gỗ dỗi, chò chỉ. […] Những chuyến đi rừng một ngày thưa
dần, người ta đi hai ba ngày mới về. Bán. Nghỉ ngơi. Sắm chuyến và đi tiếp.
[…]
Dạo ấy người ta rộ lên gỗ pơmu, nghe nói cánh rừng K5 này Pơmu nhiều
lắm […] Người ta đi băng rừng tìm rồi kháo nhau, có, có mà làm đến đời cháu
vẫn không hết. […] Giá bán pơmu nghe đâu cũng cao lắm và chỉ còn Tây
Nguyên là có nhiều. Thợ rừng khá hơn thì các phường buôn gỗ giàu trông thấy,
người ta buôn xuống cảng Qui Nhơn, chung chi xong xuôi thì lời một chuyến cả
chục cây vàng thời đó. […] Đường vào rừng cứ như trẩy hội. Rầm rầm. […]
1
Cánh rừng pơ mu bớt xanh thì phải đổi đến ngót nghét bốn chục mạng với
vô số lí do dở người […] Gỗ khai thác càng đắt giá thì cánh thợ rừng càng có
giá, rượu đưa vào tận nơi với giá gấp hai mươi lần mà bao nhiêu cũng hết, dịch
vụ em út cũng gùi đến tận lán […] Mưa rừng qua bao nhiêu mùa vẫn ẩm dột,
chị em Giang lớn lên mơn mởn nhưng chưa thấy ai đi rừng nhiều mà giàu. Bố
Giang nổi tiếng siêng năng xốc vác mà cũng chỉ nuôi đủ 5 chị em Giang bà vợ
chuẩn bị sinh con thứ 6. […]
Rừng cạn dần, người ta bắt đầu đi nhặt lại những mảnh vụn, những cành
nhỏ mà trước đây họ cho là phế phẩm. […] Mấy ông không còn sức để đi nữa
nhưng nhớ rừng lắm, nhớ những đồng tiền màu xanh mát rượi, những mụ đàn
bà thiếu vải đi ngang qua lán bạt ỏn ẻn, nhớ thời ngang dọc giữa Kbang, Kon
Tum oai phong như hổ báo còn giờ tay mỏi chân run, sức đã vắt kiệt cho bầy
con háu ăn mà cái nghèo vẫn đeo từ năm này qua năm khác. Kiểm lâm, công an
họ càng làm gắt hơn, ai khai thác không có giấy phép họ bắt giam nên hãi.
Xóm Trái văng vẳng tiếng chó sủa. Cánh thợ rừng giờ đã dạt đi đâu hết.
Chú Thông thọt một chân nhưng vẫn nhanh nhẹn vì giải nghệ rừng sớm. Tôi
nhẹ nhàng hỏi: “mười lăm năm khai thác với hàng chục ngàn khối gỗ ngang
qua đây, ba bốn năm gần đây cháu không nghe ai nhắc đến pơ mu nữa, có lẽ pơ
mu đã tuyệt chủng rồi chú hà”. Chế thêm ấm trà, lão thở dài: “Gỗ lạt bữa ni có
mô nữa cháu, hồi chú mới đi cứ nghĩ mần hết đời cũng không hết, vậy mà hết
thiệt cháu nờ”. “Vậy nhà dân ở đây họ làm chi để sống hả chú?”. Tôi hỏi thêm.
“Thì vẫn bám rừng, hái thuốc làm gỗ tạp, gùi gỗ cho cánh đầu nậu, bảo kê,
được trả lương nhưng không phải muốn làm là làm, muốn nghỉ là nghỉ, rừng
cũng có luật của rừng cháu à […] Mấy đám rừng bên kia nhìn vậy chứ vô trong
người ta chặt và ủi trọc hết rồi, cha ơi là đau đớn”. […] “Hai mươi năm mà
nước mắt từ những cánh rừng chưa ngừng chảy”. Lão nói tiếp. Tôi không nghĩ
một ông thợ rừng lâu năm mà triết lí đến như thế. […] Những cánh rừng
nguyên sinh trong kí ức của ba tôi kể trong chuyến công tác giờ trơ trọi, trọc lóc
chỉ còn những quả đồi tròn như cái bát úp. Tôi tròn mắt và căng tai nghe toàn
bộ câu chuyện của rừng của một người từng là lâm tặc lão làng. Thi thoảng lão
chép miệng: “nhanh quá, nhanh quá, ai ngờ có ngày rừng kiệt, thợ rừng phá
rừng nhưng còn xót rừng, còn thương rừng vì nó có một phần máu thịt của
mình cháu à”.
Ngày ấy lâm tặc chỉ đốn những cây đủ tuổi đủ tác, đủ để lấy gỗ, đủ sức
mình thồ về, còn bây giờ họ đốn kiệt, họ san bằng trước sự chứng kiến của hàng
2
vạn người. Một người còn nói vô cảm, chứ hàng triệu người phải có trăm người
có trách nhiệm mà còn lên tiếng để giữ lại cây, lại đất, lại rừng.” […]
(Nguồn:https:vanhocsaigon.com/truyen-ngan-ta-ngoc-diep-nuoc-mat-cua-rung/)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1: Nêu đề tài truyện ngắn trên.
Câu 2: Xác định ngôi kể trong truyện.
Câu 3: Căn cứ vào nội dung của truyện, em hãy lí giải mối quan hệ giữa hai chi
tiết sau:
- Chi tiết 1: “Giá bán gỗ pơ mu cao lắm và chỉ có vùng đất Tây Nguyên là có
nhiều”.
- Chi tiết 2: “Những cánh rừng trong kí ức của ba tôi kể trong chuyến công tác
giờ trơ trọi, trọc lóc”.
Câu 4: Lí giải vai trò của nhân vật “tôi” trong truyện ngắn.
Câu 5: Trình bày điểm tương đồng về cách ứng xử của con người đối với thiên
nhiên trong truyện “Nước mắt của rừng” (Tạ Ngọc Điệp) và truyện “Muối của
rừng” (Nguyễn Huy Thiệp).
II. VIẾT: (5,0 điểm)
Trong truyện ngắn “Nước mắt của rừng” tác giả Tạ Ngọc Điệp đã phản
ánh thực trạng lòng tham của con người đã đốn kiệt, san bằng những cánh rừng
bạt ngàn của vùng đất Tây Nguyên. Từ vấn đề đặt ra trong văn bản, em hãy viết
bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của mình về vấn nạn khai thác rừng bừa
bãi biến rừng thành đồi trọc.
----------------------------------HẾT------------------------------
3
SỞ GDĐT TIỀN GIANG
TRƯỜNG THPT
T
T
Kĩ
năng
1
Đọc
hiểu
2
Viết
Tổng
Tỉ lệ %
MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA GIỮA KỲ 2
NĂM HỌC 2024-2025
MÔN: Ngữ văn - KHỐI: 11
Ngày kiểm tra: /03/2025
Thời gian làm bài : 90 phút
Nội dung kiến thức / Đơn vị kĩ
năng
Mức độ nhận thức
Vận Tổng
Nhậ
Vận
Thôn
dụn
%
n
dụn
g hiểu
g
biết
g
cao
Truyện hiện đại
2
2
1
Viết văn bản nghị luận về một vấn
đề xã hội trong tác phẩm văn học.
1*
1*
1*
20%
20%
40 %
50
1*
50
10
50
%
%
60%
100
4
SỞ GDĐT TIỀN GIANG
TRƯỜNG THPT
ĐẶC TẢ KIỂM TRA GIỮA KỲ 2
NĂM HỌC 2024-2025
MÔN: Ngữ văn - KHỐI: 11
Ngày kiểm tra: 15/03/2025
Thời gian làm bài : 90 phút
Số lượng câu hỏi theo mức độ Tổng
Đơn vị
nhận thức
%
Kĩ kiến
TT
Mức độ đánh giá Nhận
Thông Vận
Vận
năng thức
/
biết
hiểu
dụng dụng
Kĩ năng
cao
1.
Đọc Truyện
Nhận biết:
2 câu
2 câu 1 câu
50
hiểu hiện đại - Nhận biết được
đề tài, câu chuyện,
sự kiện, chi tiết
tiêu biểu, không
gian, thời gian,
nhân vật trong
truyện ngắn và
tiểu thuyết hiện
đại (câu 1)
- Nhận biết được
người kể chuyện
( ngôi thứ nhất),
lời
người
kể
chuyện, lời nhân
vật trong truyện
ngắn
và
tiểu
thuyết hiện đại.
(câu 2)
Thông hiểu:
- Phân tích, lí giải
được mối quan hệ
5
của các sự việc,
chi
tiết trong tính
chỉnh thể của tác
phẩm. (câu 3)
- Phân tích được
đặc điểm, vị trí,
vai trò của của
nhân vật trong
truyện ngắn, tiểu
thuyết hiện đại; lí
giải được ý nghĩa
của nhân vật (câu
4)
Vận dụng:
- So sánh được hai
văn bản văn học
cùng đề tài ở các
giai đoạn khác
nhau; liên tưởng,
mở rộng vấn đề để
hiểu sâu hơn với
tác phẩm. (câu 5)
2.
Viết
Nghị
luận về
một vấn
đề xã hội
trong tác
phẩm
văn học.
Nhận biết:
1*
- Xác định được
yêu cầu về nội
dung và hình thức
của bài văn nghị
luận.
- Mô tả được vấn
đề xã hội và hững
dấu hiệu, biểu iện
của vấn đề xã hội
trong bài viết.
- Xác định rõ được
1*
1*
1
câu
TL
50
6
mục đích, đối
tượng nghị luận.
- Đảm bảo cấu
trúc, bố cục của
một văn bản nghị
luận.
Thông hiểu:
- Giải thích được
những khái
niệm liên quan
đến vấn đề nghị
luận.
- Trình bày rõ
quan điểm và hệ
thống các luận
điểm.
- Kết hợp được lí
lẽ và dẫn chứng để
tạo tính chặt chẽ,
logic của mỗi luận
điểm.
- Cấu trúc chặt
chẽ, có mở đầu
và kết thúc gây ấn
tượng; sử dụng
các lí lẽ và bằng
chứng thuyết
phục, chính xác,
tin cậy, thích hợp,
đầy đủ; đảm bảo
chuẩn chính tả,
ngữ pháp tiếng
Việt.
Vận dụng:
- Đánh giá được ý
nghĩa, ảnh hưởng
của vấn đề đối với
con người, xã hội.
- Nêu được những
7
bài học, những đề
nghị, khuyến nghị
rút ra từ vấn đề
bàn luận.
Vận dụng cao:
- Sử dụng kết hợp
các phương thức
miêu tả, biểu cảm,
tự sự… để tăng
sức thuyết phục
cho bài viết.
- Vận dụng hiệu
quả những kiến
thức tiếng Việt lớp
11 để tăng tính
thuyết phục, sức
hấp dẫn cho bài
viết.
Tỉ lệ %
SỞ GDĐT TIỀN GIANG
20%
20%
10%
50%
100
%
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ KIỂM TRA GIỮA KỲ 2
8
TRƯỜNG THPT
(Hướng dẫn chấm có 03 trang)
Phần Câu
I
1
2
3
4
5
NĂM HỌC 2024-2025
MÔN: Ngữ văn - KHỐI: 11
Ngày kiểm tra: 15/03/2025
Thời gian làm bài : 90 phút
Nội dung
ĐỌC HIỂU
Đề tài: Thiên nhiên và con người.
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh trả lời đúng: 1,0 điểm.
- Học sinh trả lời thiên nhiên (0,5 điểm), con người (0,5 điểm)
hoặc rừng (0,5 điểm).
- Học sinh trả lời sai hoặc không trả lời: 00 điểm.
Ngôi kể: Ngôi thứ nhất
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh trả lời đúng như đáp án: 1,0 điểm.
- Học sinh trả lời không đúng hoặc không trả lời: 00 điểm
Lí giải mối liên hệ giữa 02 chi tiết…:
+ Vì giá gỗ pơ mu cao nên cánh buôn gỗ đổ xô đến những
cánh rừng Tây Nguyên để phá rừng buôn gỗ.
+ Vì phá rừng lấy gỗ nhiều nên rừng kiệt, những cánh rừng
xanh biến thành đồi trọc
* Hai chi tiết có mối liên hệ nhân quả, chi tiết 2 như là hệ quả
tất yếu của chi tiết 1.
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh lí giải rõ mỗi chi tiết: 0,25 điểm
- Học sinh lí giải được mối quan hệ nhân – quả: 0,5điểm
- Học sinh trả lời sai hoặc không trả lời: 0,00 điểm
Vai trò của nhân vật “tôi”:
+ Nhân vật chính.
+ Giữ vai trò quan trọng trong việc thể hiện chủ đề, tư tưởng,
thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm đền người đọc.
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh trả lời đúng 2 ý đáp án: 1,0 điểm.
- Học sinh trả lời đúng ý 1 được 0,25 điểm.
- Học sinh trả lời đúng ý 2 được 0,75 điểm.
Cách ứng xử của con người đối với thiên nhiên trong truyện
“Nước mắt của rừng”- (Tạ Ngọc Điệp) và truyện “Muối của
rừng”- (Nguyễn Huy Thiệp) có điểm tương đồng:
- Đối xử thô bạo với thiên nhiên.
Điểm
5,0
1,0
1,0
1,0
1,0
1,0
9
II
- Chỉ ra cụ thể:
+ Muối của rừng: Bắn hạ con khỉ đực.
+ Nước mắt của rừng: Chặt phá rừng.
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh nêu được điểm tương đồng: Đối xử thô bạo với
thiên nhiên: 0,75 điểm.
- Học sinh chỉ ra cụ thể được 2 ý: 0,25 điểm.
- Học sinh trả không trả lời: 00 điểm.
VIẾT
Từ vấn đề đặt ra trong văn bản đọc hiểu trên, em hãy viết bài
văn nghị luận trình bày suy nghĩ của mình về vấn nạn khai thác rừng
bừa bãi biến rừng thành đồi trọc.
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận
Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài
khái quát được vấn đề.
b. Xác định đúng yêu cầu của đề.
Vấn nạn khai thác rừng bừa bãi biến rừng thành đồi trọc hiện nay.
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,5 điểm.
- Học sinh xác định chưa đầy đủ vấn đề nghị luận: 0,25 điểm.
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
HS có thể trình bày bài viết theo nhiều cách trên cơ sở đảm bảo
những yêu cầu sau:
- Nêu vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm: “Nước mắt của rừng” cho
thấy tình trạng lâm tặc khai thác rừng bừa bãi biến những cánh rừng
xanh trở thành đồi trọc.
- Trình bày luận điểm để làm rõ quan điểm của bản thân:
+ Việc phá rừng bán gỗ xuất phát từ sự thiếu ý thức, tham lợi trước
mắt của một số con buôn, thiếu hiểu biết nên không nhận ra tầm
quan trọng của môi trường sinh thái.
+ Rừng xanh bị khai thác cạn kiệt là vấn đề cần xã hội quan tâm vì
gây ra những hậu quả nghiêm trọng (phá vỡ môi trường sinh thái tự
nhiên, nguyên nhân chính dẫn đến lũ lụt, sạt lở, ảnh hưởng kinh tế và
đe dọa sinh mạng của người dân).
- Bình luận cách tác phẩm đặt ra và giải quyết vấn đề:
+ Vấn đề chưa được giải quyết triệt để trong tác phẩm. Đoạn trích
kết thúc bằng sự tiếc nuối của người thợ rừng lâu năm và suy ngẫm
của người viết về trách nhiệm của mỗi cá nhân.
5,0
0,25
0,5
3,75
10
+ Tình cảm của những người dân thương rừng, nhớ rừng trong tác
phẩm có tác động tích cực đến tình cảm, cảm xúc của người đọc từ
đó có nhận thức đúng đắn.
→Tác phẩm nhằm nhắc nhở mọi người cần hài hòa giữa khai thác và
tái tạo thiên nhiên nếu không muốn một ngày phải hứng chịu những
hậu quả nặng nề do lòng tham của một số ít người gây ra.
- Phản hồi các ý kiến trái chiều.
- Đánh giá đóng góp của tác phẩm: Nước mắt của rừng đã gióng
thêm hồi chuông cảnh tỉnh, nhắc nhở mọi người về mối quan hệ gắn
bó không thể tách rời giữa con người và môi trường sống.
- Bài học - giải pháp: Với những kẻ tạo ra nạn phá rừng cần xử lí
thích đáng với hành vi vi phạm pháp luật, chính quyền cần phối hợp
chặt chẽ với người dân để ngăn chặn tình trạng này, kêu gọi mọi
người chung tay xây dựng hành tinh xanh bằng những việc làm giản
dị, thiết thực…
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh lập luận chặt chẽ, thuyết phục, biết nêu và đánh giá cách
tác phẩm đặt ra và giải quyết vấn đề:3,0 – 3,75 điểm.
- Học sinh lập luận chưa thật chặt chẽ: 2,0 điểm – 3,0 điểm.
- Học sinh lập luận không chặt chẽ: 1,0 điểm – 2,0 điểm.
Lưu ý: - Phần đánh giá đóng góp của tác phẩm cho 0,25 điểm.
- Học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù
hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
d. Chính tả, từ ngữ, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt.
- Bài làm không mắc quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp, chữ viết đọc
được, trình bày rõ ràng: 0,25 điểm.
- Bài làm mắc quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp, chữ viết không đọc
được: 00 điểm.
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách
diễn đạt mới mẻ.
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh đáp ứng được yêu cầu: 0,25 điểm.
- Học sinh đáp ứng được yêu cầu: 0,00 điểm.
0,25
0,25
--------------------HẾT--------------------
11
12
 








Các ý kiến mới nhất