Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra
Đề thi học kì 1

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Kim Sa
Ngày gửi: 07h:56' 25-06-2025
Dung lượng: 57.0 KB
Số lượt tải: 151
Nguồn:
Người gửi: Kim Sa
Ngày gửi: 07h:56' 25-06-2025
Dung lượng: 57.0 KB
Số lượt tải: 151
Số lượt thích:
0 người
MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA
TT
1
2
Kĩ
năng
Đọc
hiểu
Viết
Nội
dung/đơn
vị kiến thức
Văn
bản
nghị luận.
Viết đoạn
văn
nghị
luận xã hội.
Viết
bài
văn
nghị
luận
văn
học.
Tổng
Tỉ lệ %
Tỉ lệ chung
Mức độ nhận thức
Nhận biết
Thông hiểu
Vận dụng
Vận dụng
cao
TNKQ TL
Tổng
%
điểm
TNKQ
TL
TNKQ
TL
TNKQ
TL
0
2
0
2
0
1
0
0
40
0
1*
0
1*
0
1*
0
1*
20
0
1*
0
1*
0
1*
0
1*
40
30
0
30
0
30
0
10
0
0
30%
30%
60%
30%
10%
40%
100
BẢNG ĐẶC TẢ ĐỀ KIỀM TRA
Số câu hỏi theo mức độ nhận thức
TT
1
2
Kĩ
năng
Nội dung/Đơn
vị kiến thức
Đọc
hiểu
Văn bản nghị Nhận biết:
- Nhận biết được luận đề,
luận.
luận điểm, lí lẽ và bằng
chứng tiêu biểu trong văn
bản nghị luận.
Thông hiểu:
- Nêu được nội dung bao
quát của văn bản.
- Phân tích được mối liên
hệ giữa luận đề, luận
điểm, lí lẽ và bằng chứng.
- Nêu được tác dụng của
biện pháp tu từ trong việc
thể hiện luận điểm.
- Phân tích được chủ đề, tư
tưởng, thông điệp mà văn
bản muốn gửi đến người
đọc thông qua hình thức
nghệ thuật của văn bản.
…
Vận dụng
- So sánh nhân vật, văn
bản.
- Liên hệ văn bản với bản
thân, văn bản với bối cảnh.
- Trình bày ý kiến, suy
nghĩ, bài học.
Câu 1. Viết Nhận biết
đoạn văn nghị - Xác định yêu cầu về nội
luận xã hội.
dung và hình thức của đoạn
văn nghị luận xã hội.
- Xác định rõ được mục
đích, đối tượng nghị luận
trong đoạn văn.
- Đảm bảo cấu trúc của
đoạn văn nghị luận.
Viết
Mức độ đánh giá
Nhận
biết
2TL
Thôn
g hiểu
Vận
dụng
2TL
1TL
Vận
dụng
cao
1*
1*
1*
1*
Thông hiểu:
- Giới thiệu vấn đề nghị
luận cần bàn.
- Phân tích được tác dụng
của các giải pháp để giải
quyết vấn đề trong cuộc
sống.
- Phân tích bài học, tình
cảm, cảm xúc của người
viết.
- Đảm bảo chuẩn chính tả,
ngữ pháp tiếng Việt.
Vận dụng:
- Có cách diễn đạt độc đáo,
sáng tạo, hợp logic.
- Cảm nhận, đánh giá, liên
hệ từ ý nghĩa của ngữ liệu.
- Trình bày ý kiến, quan
điểm, suy nghĩ, bài học…
Vận dụng cao:
- Viết được đoạn văn nghị
luận xã hội về một vấn đề
cần giải quyết đi vào một
khía cạnh cụ thể của vấn
đề: nêu được giải pháp giải
quyết vấn đề nghị luận; làm
rõ vấn đề nghị luận bằng lí
lẽ, bằng chứng thuyết phục.
Câu 2. Viết bài
văn nghị luận
phân tích một
tác phẩm văn
học (truyện).
Nhận biết:
Thông hiểu:
Vận dụng:
Vận dụng cao:
- Viết được một văn bản
nghị luận phân tích một tác
phẩm văn học (truyện):
phân tích nội dung chủ đề,
những nét đặc sắc về hình
thức nghệ thuật của tác
phẩm và hiệu quả thẩm mĩ
1*
1*
1*
1TL*
của tác phẩm.
- Vận dụng các kĩ năng,
thao tác lập luận một cách
nhuần nhuyễn, linh hoạt.
- Có cách diễn đạt độc đáo,
sáng tạo, hợp logic.
Tổng điểm
4TL
4TL
3TL
2TL
Tỉ lệ %
30%
30%
30%
10%
Tỉ lệ chung
60%
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KỲ I – NĂM HỌC: 2025 – 2026
40%
MÔN: Ngữ Văn 9
Thời gian làm bài: 90 phút; không kể thời gian giao đề
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
Hi vọng và nguyện vọng không thể lẫn lộn với nhau được. Chúng ta có thể mang cùng
một lúc hàng ngàn nguyện vọng đủ loại nhưng hi vọng thì chỉ có một mà thôi. Chúng ta mong
muốn người mình đang đợi sẽ đến đúng giờ, mong muốn đỗ kỳ thi, hay mong cho do Rwanda
tìm được nền hòa bình..., đây đều là những nguyện vọng cá nhân.
Hi vọng lại khác hẳn. Nó có liên quan mật thiết với ý nghĩa cuộc sống. Giả sử cuộc sống
hoàn toàn không có đích đến nào, mà chỉ là chuyển giao một cơ thể thối rữa xuống lòng đất
thì sống để làm gì chứ? Hi vọng, chính là tin rằng trong cuộc đời có ý nghĩa nào đó.
Hi vọng chẳng có liên quan gì đến học lực, tiền bạc, hay danh dự. Có thể coi hi là bản
chất của chúng ta, cũng chính là lòng yêu thương lẫn nhau, là con đường dẫn đến tình yêu và
niềm kiêu hãnh của bản thân cũng như người khác. Nếu con cho rằng tiếp tục giận dỗi mẹ
giúp được con thì con cứ làm vậy đi. Nếu đó là cách con bảo vệ niềm kiêu hãnh của bản thân
thì đương nhiên con phải làm thế rồi. Nhưng rốt cuộc chúng ta biết đâu lại đều là những
người ngày còn bé vì muốn thể hiện mình không nhận được đủ tình yêu từ mẹ, mà kiên quyết
từ chối cái kem mẹ mua cho dù rất thích. Con hiểu không? Để thể hiện sự ghét bỏ, chúng ta
chẳng biết cách nào ngoài từ chối những thứ chúng ta yêu thích, và rồi đều là những người bị
tổn thương.
(Dù con sống thế nào, mẹ cũng luôn ủng hộ con,
Gong Ji Young, NXB Thời đại, 2014, tr 134)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. (0,5 điểm) Chỉ ra luận đề của đoạn trích?
Câu 2. (0,5 điểm) Để làm nổi bật luận điểm không thể trộn lẫn hi vọng với nguyện vọng,
người viết đã dùng những lí lẽ nào?
Câu 3. (1,0 điểm) Chỉ ra tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn sau: “Chúng ta
mong muốn người mình đang đợi sẽ đến đúng giờ, mong muốn đỗ kỳ thi, hay mong cho do
Rwanda tìm được nền hòa bình..., đây đều là những nguyện vọng cá nhân”?
Câu 4. (1,0 điểm) Em hiểu ý kiến: “Để thể hiện sự ghét bỏ, chúng ta chẳng biết cách nào
ngoài từ chối những thứ chúng ta yêu thích, và rồi đều là những người bị tổn thương” như thế
nào?
Câu 5. (1,0 điểm) Hãy rút ra thông điệp em tâm đắc nhất từ văn bản trên và lý giải vì sao?
II. PHẦN VIẾT
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn (từ 8 đến 10 câu) trình bày giải pháp để giữ gìn và nuôi dưỡng tình cảm với các
thành viên trong gia đình.
Câu 2. (4,0 điểm)
Em hãy viết bài văn phân tích tác phẩm “Vé xem xiếc” của Tống Phú Sa.
VÉ XEM XIẾC
- Tống Phú Sa*(Lược trích: Chị là người mẹ đơn thân, có đứa con trai 6 tuổi đang học mầm non,
chuẩn bị vào lớp Một. Chị bán bánh mì rong để kiếm sống nên cuộc sống của hai mẹ con rất
eo hẹp. Thường ngày, chị chỉ đưa con đến gần cổng trường, lặng lẽ đứng nhìn con vào lớp rồi
mới đi bán hàng, chiều đến cũng chỉ đứng ngoài cổng đón đợi vì chị sợ các bạn nhỏ của con
sẽ cười bộ dạng lếch thếch của người bán hàng rong khiến con chị buồn. Hôm đó là ngày con
tốt nghiệp, nên chị phá lệ vào tận lớp đón con. Con chị rất vui vì được mẹ đón, còn vui hơn vì
cậu được cô giáo thưởng quà và cho một chiếc vé đi xiếc. Tối đó chị đã dẫn con đi xem xiếc)
Hai mẹ con người đàn bà đến sân vận động khi cửa vào đã đông nghẹt người. Thằng bé
nhảy chân sáo bên mẹ, thỉnh thoảng nó vượt lên trước, tay giơ cao tấm vé, miệng líu lo:
- Mẹ thấy chưa, đoàn xiếc này là “có nghề” lắm nhá! Người đi xem đông ơi là đông.
Không biết bọn thằng Bo, cái Nhím có được đi xem không mẹ nhỉ?
Thằng bé bỗng nhỏ giọng, cầm lấy tay mẹ:
- Vào cổng rồi mẹ nhớ nắm chặt tay con, mẹ nhé! Con sợ mẹ con mình lạc nhau. Cô giáo
bảo lạc mẹ là tội nhất.
Người đàn bà nhìn con rưng rưng. Gánh xiếc về quả là một ngày hội lớn của bọn trẻ. Ở
đấy, người ta bán vô số đồ chơi và quà ăn vặt của trẻ con. Thằng bé kín đáo nhìn những hình
thù ngộ nghĩnh trên những quả bóng bay được bơm tròn căng. Nó lè lưỡi liếm môi khi đi qua
hàng bỏng ngô chiên mỡ. Chị vờ như không biết. Chị để mặc dòng nước lặng lẽ chuồi trên
khoé mắt.
Dòng người mỗi lúc một đông. Thằng bé dẫn chị vào cửa soát vé. Nó cẩn thận đặt tấm vé
thẳng thớm vào tay chị rồi nhanh chân chạy lên trước ngay sát cổng vào, đôi bàn tay nhỏ xíu
đưa lên vẫy vẫy:
- Mẹ ơi, con ở đây!
Người đàn bà nhón chân, gật gật đầu rồi lách lên phía trước. Chị nghiêm trang chìa tấm
vé xem xiếc mà con trai chị được tặng ở trường mầm non. Anh chàng soát vé bật cười, trả tấm
vé cho chị:
- Bà “khốt”(1), ơi, đây là vé của trẻ con. Mà trẻ con cũng phải có người lớn đi kèm mới
được vào! Người lớn muốn vào thì phải sang kia mua vé. Không biết bà ở đâu ra mà khốt thế
không biết?
Anh chàng soát vé đẩy chị ra. Người đàn bà nghe sống lưng lạnh toát. Ôi! Con trai bé
bỏng của chị, chị biết phải làm sao đây? Chị lần dây rút, kín đáo đếm lại số tiền trong đấy.
Những đồng tiền ít ỏi của chị đủ để mua một tấm vé vào xem xiếc. Nhưng còn ngày mai, ngày
kia... chị không biết phải xoay xở thế nào cho cuộc sống của hai mẹ con. Người đàn bà đau
đớn nhìn đôi mắt trong veo của con trai đang ngước vào phía trong. Chắc nó sốt ruột muốn
nhanh lên ngồi ở hàng đầu để nhìn cho rõ... Lấy hết can đảm, người đàn bà cúi xuống sát tai
nó, giọng nghẹn lại:
- Bi ơi, mình về thôi con!
Cổ họng chị tắc nghẽn khi nhìn đôi vai buông thõng, khuôn mặt buồn thiu thắt của thằng
bé. Không kìm được, chị ghì lấy nó, đôi dòng nước mắt lặng lẽ rơi:
- Mẹ xin lỗi con, thứ lỗi cho mẹ, con nhé!
Thằng bé day mặt về phía chị, chỉ thoáng chốc, chỉ thoáng chốc thôi, khuôn mặt thằng bé
đã ở trạng thái bình thường. Nó chạy trước chị một quãng, nói lớn để chị không thể nhận ra
giọng nói đã méo xệch của mình, rằng, mẹ ơi, đoàn xiếc này cũng còn non nghề, ai mà thèm
xem mẹ nhỉ!
Người đàn bà cùng thằng con trai sáu tuổi đi về phía con đường có những ánh đèn. Sau
lưng hai mẹ con tiếng loa phóng thanh ra rả về buổi xiếc thú chìm dần trong bóng tối.
(Theo Tống Phú Sa, Truyện ngắn hay 2015,
NXB Văn học, 2015, trang 243-258)
Chú thích:
* Tống Phú Sa sinh ngày 21 tháng 3 năm 1975 tại Hà Tĩnh. Bà là một nhà giáo, nhà văn
người có nhiều truyện ngắn đăng trên các báo, tạp chí từ Trung ương đến địa phương. Trang
viết của bà đầy chất hiện thực và thấm đẫm tính nhân văn.
(1)
" khốt": để chỉ những người lạc hậu, cổ lỗ sĩ, không thức thời.
……………..HẾT……………
Họ và tên thí sinh: ……………………………………
Họ tên, chữ ký GT 1: ……………………………………
Số báo danh: …………………………………….………
Họ tên, chữ ký GT 2: ……………………………………
HƯỚNG DẪN CHẤM
Phần
I
Câu
Câu 1
Câu 2
Câu 3
Câu 4
Nội dung
Điểm
ĐỌC HIỂU
4,0
Chỉ ra luận đề của đoạn trích? (0,5đ)
- Luận đề của đoạn trích: Bàn về niềm hi vọng.
0,5
Trả lời sai, không trả lời: 0 điểm.
Để làm nổi bật luận điểm không thể trộn lẫn hi vọng với
nguyện vọng, người viết đã dùng những lí lẽ nào? (0,5đ)
- Có thể mang cùng một lúc hàng ngàn nguyện vọng nhưng hi 0,25
vọng thì chỉ có một mà thôi.
- Hi vọng có liên quan mật thiết với ý nghĩa cuộc sống.
0,25
Cách cho điểm:
+ Hs nêu được 2 lí lẽ cho 0,5 điểm.
+ Hs nêu được 1 lí lẽ cho 0,25 điểm.
+ Trả lời sai, không trả lời: 0 điểm.
Chỉ ra tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn
sau: “Chúng ta mong muốn người mình đang đợi sẽ đến đúng
giờ, mong muốn đỗ kỳ thi, hay mong cho do Rwanda tìm được
nền hòa bình..., đây đều là những nguyện vọng cá nhân”?
(1,0đ)
- Biện pháp liệt kê: Liệt kê những nguyện vọng cá nhân:“mong
muốn người mình đang đợi sẽ đến đúng giờ, mong muốn đỗ kỳ
thi, mong cho do Rwanda tìm được nền hòa bình”.
- Tác dụng:
+ Giúp câu văn giàu nhịp điệu, sinh động, hấp dẫn.
+ Nhấn mạnh rằng con người có thể có rất nhiều nguyện vọng
cùng một lúc. Đó đều là những nguyện vọng cao đẹp của cá
nhân.
+ Giúp người đọc phân biệt rõ giữa hi vọng và nguyện vọng.
Cách cho điểm:
+ Học sinh trả lời đúng, đủ 3 ý về tác dụng cho 0,75 điểm.
+ Học sinh trả lời đúng, đủ 2 ý về tác dụng cho 0,5 điểm
+ Trả lời được 1 ý: cho 0,25 điểm.
+ Trả lời sai, không trả lời: 0 điểm.
Em hiểu ý kiến: “Để thể hiện sự ghét bỏ, chúng ta chẳng biết
cách nào ngoài từ chối những thứ chúng ta yêu thích, và rồi
đều là những người bị tổn thương” như thế nào? (1,0đ)
Gợi ý
- Câu nói đã khẳng định: Cách để thể hiện sự ghét bỏ một ai đó
là nói lời chối từ với những điều mà họ làm cho mình dù là điều
mình yêu thích. Điều này gây ra tổn thương, khổ đau cho chính
mình và cả đối phương.
- Từ đó, tác giả khuyên đừng cố từ chối những điều mà mình
0,25
0,25
0,25
0,25
0,5
Câu 5
II
Câu 1
yêu thích chỉ vì ghét bỏ một ai đó. Điều đó sẽ làm cho mọi
người tổn thương......
Cách cho điểm:
+ Hs lí giải được 2 lí do cho 1,0 điểm.
+ Hs lí giải được 1 lí do cho 0,5 điểm.
+ HS có thể nêu những cách lí giải khác ngoài đáp án nhưng
chính xác, phù hợp, GV linh hoạt cho điểm.
Hãy rút ra thông điệp em tâm đắc nhất từ văn bản trên và lý
giải vì sao? (1,0đ)
- Học sinh có thể trình bày một trong các thông điệp sau đây:
+ Cần sở hữu một niềm hi vọng có ý nghĩa.
+ Không nên làm tổn thương người khác.
+...
- Học sinh lý giải phù hợp với thông điệp mình lựa chọn.
- Vì:
+ Niềm hi vọng giúp cuộc sống của bản thân có lí tưởng, có
đích đến để không cảm thấy lạc lõng trong những bộn bề cuộc
đời.
+ Hi vọng còn tạo sức mạnh, động lực để ta vượt thử thách và
được là chính mình với những suy nghĩ đích thực của mình.
...
Cách cho điểm:
+ HS trả lời đúng 1 thông điệp cho 0,5 điểm; Trả lời 2 thông
điệp trở lên không cho điểm.
+ Lý giải 1 lí do phù hợp, đúng trọng tâm cho 0,5 điểm.
+ Không lí giải: 0 điểm.
+ HS có thể nêu những thông điệp, cách lí giải khác ngoài đáp
án nhưng chính xác, phù hợp, GV linh hoạt cho điểm.
VIẾT
Viết đoạn văn (từ 8 đến 10 câu, có đánh số thứ tự các câu)
trình bày giải pháp để giữ gìn và nuôi dưỡng tình cảm với
các thành viên trong gia đình. (2,0đ)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức đoạn văn, dung lượng
của đoạn văn (12 đến 14 câu ).
- Đảm bảo hình thức một đoạn văn nghị luận có mở đoạn, thân
đoạn, kết đoạn.
- Dung lượng: từ 8 - 10 câu.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Cách giữ gìn và nuôi dưỡng tình cảm với các thành viên trong
gia đình.
c. Triển khai vấn đề bằng lập luận chặt chẽ với lí lẽ, dẫn chứng
phù hợp, thuyết phục. Dưới đây là một số gợi ý triển khai:
- Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận, khẳng định sự cần
thiết của vấn đề đó.
0,5
0,5
0,5
6,0
2,0
0,25
0,25
1,0
- Thân đoạn:
- Đề xuất được các giải pháp khả thi để giữ gìn và nuôi dưỡng
tình cảm với các thành viên trong gia đình. Có thể như sau:
- Về nhận thức:
+ Tình cảm với gia đình là tình cảm vô cùng cần thiết quan
trọng trong cuộc sống của mỗi người.
+ Gia đình là điểm tựa tinh thần vững chắc, giúp chúng ta có
thêm động lực để vượt qua những khó khăn, thách thức.
- Về hành động:
+ Cần duy trì bữa cơm gia đình thường xuyên. Dù công việc có
bận rộn nhưng gia đình vẫn nên quây quần bên nhau để chia sẻ
về những hoạt động diễn ra trong ngày để thấu hiểu nhau hơn.
+ Chia sẻ, hỗ trợ nhau các công việc gia đình. Qua các việc làm
thường ngày giúp gắn kết các thành viên trong gia đình hơn.
+ Quan tâm, chăm sóc, động viên các thành viên mỗi khi ốm
đau, mệt mỏi.
+ Đối với các thành viên trong gia đình, hãy luôn cho đi ,đừng
toan tính thiệt hơn...
- Kết đoạn: Khẳng định lại ý nghĩa của gia đình đối với mỗi
người và rút ra bài học cho bản thân.
d. Diễn đạt:
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết
câu trong đoạn văn.
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có
cách diễn đạt mới mẻ.
Cách cho điểm:
- Điểm 2,0 -> 1,75: Đáp ứng tốt các yêu cầu về kiến thức và kĩ
năng. Bài viết sâu sắc, sáng tạo, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng
phong phú, xác thực.
Điểm 1,5 -> 1,0: Đáp ứng tương đối tốt các yêu cầu về kĩ năng,
nội dung. Đảm bảo được gần hết các ý như yêu cầu nhưng còn
một số lỗi về diễn đạt.
- Điểm 0,5 -> 0,75: Các giải pháp còn sơ sài, diễn đạt chưa trôi
chảy, lưu loát.
- Điểm 0,25: Diễn đạt chung chung, không làm rõ được vấn đề
nghị luận, còn có nhiều lỗi chính tả.
- Điểm 0: Không làm hoặc lạc đề.
Câu 2
VIẾT
Em hãy viết bài văn phân tích tác phẩm “Vé xem xiếc” của
Tống Phú Sa.
* Yêu cầu chung:
- Đây là dạng bài cụ thể: Viết bài văn nghị luận phân tích truyện
ngắn sau: Vé xem xiếc.
0,5
0,5
0,25
0,25
4,0
- Xác định đúng kiểu bài nghị luận văn học phân tích tác phẩm
văn học truyện.
* Yêu cầu cụ thể.
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài
- Xác định được yêu cầu của kiểu bài: Bài nghị luận văn học
phân tích một tác phẩm truyện ngắn.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích một số nét đặc
sắc về nội dung chủ đề và hình thức nghệ thuật của truyện ngắn
“Vé xem xiếc”.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận:
- Hs vận dụng các thao tác lập luận để triển khai vấn đề thành
các luận điểm, luận cứ phù hợp có sức thuyết phục.
- Sắp xếp được các ý theo bố cục hợp lí ba phần của bài văn
nghị luận. Sau đây là một số gợi ý:
I. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
- Nêu nhận xét khái quát về tác phẩm.
II. Thân bài: Giải quyết vấn đề nghị luận
1, Luận điểm 1: Phân tích nội dung, chủ đề của tác phẩm:
a, Nêu nội dung chính của truyện.
0,25
0,25
0,25
- Câu chuyện kể về một người mẹ đơn thân, bán bánh mì rong
để nuôi đứa con trai mới lên sáu tuổi.
- Ngày tổng kết tốt nghiệp mầm non, cậu bé được cô giáo tặng
một vé xem xiếc miễn phí. Cậu bé vui sướng vì đây là lần đầu
cậu được xem xiếc.
0,25
- Khi đến rạp, mẹ con chị mới biết chiếc vé chỉ dành cho trẻ em,
mà trẻ em phải có người lớn đi cùng mới được vào. Chị không
dám mạo hiểm bỏ ra số tiền duy nhất mình có để mua vé xem.
Chị đành xin lỗi con trai, ôm con, giấu đi nước mắt. Cậu bé thất
vọng nhưng nén nỗi buồn và nói gánh xiếc còn non nghề, chẳng
đáng xem.
b, Phân tích nội dung chủ đề của tác phẩm truyện. Truyện ca
ngợi những tình cảm đáng quý, đáng trân trọng của con người,
cụ thể:
- Truyện viết về tình mẫu tử thiêng liêng, cảm động của hai mẹ
con người phụ nữ nghèo khổ. Đó là tình cảm của người mẹ dành
cho con. Dù nghèo khổ, ít học, nhưng người mẹ rất yêu thương
con, muốn cùng con đi xem xiếc, hạnh phúc khi thấy con vui.
Đó còn là tình cảm của con dành cho mẹ. Đó là một cậu bé tuy
mới 6 tuổi nhưng rất hiểu chuyện và yêu thương mẹ. Em ý thức
được về gia cảnh của hai mẹ con, nên không bao giờ có đòi hỏi
thái quá khiến mẹ phải khó xử. (Học sinh nêu lí lẽ, bằng chứng
1,0
về sự hi sinh và tình cảm lớn lao mà mẹ con họ dành cho nhau
để làm sáng tỏ).
- Truyện thể hiện khát vọng và ước mơ của trẻ thơ. Cậu bé mong
chờ tấm vé xem xiếc như một ước muốn lớn lao, thể hiện sự
ngây thơ và niềm tin vào những điều tốt đẹp mặc dù điều kiện
sống rất hạn chế. (Học sinh nêu lí lẽ, bằng chứng làm sáng tỏ
tâm trạng của cậu bé).
- Truyện phản ánh những khó khăn thử thách mà gia đình nghèo
gặp phải đồng thời ca ngợi sự kiên nhẫn và nỗ lực của họ để
mang lại những điều tốt nhất cho con cái, thể hiện tấm lòng cảm
thương, sẻ chia, trân trọng của nhà văn với những mảnh đời
nghèo khó.
(Học sinh nêu lí lẽ, bằng chứng về hoàn cảnh gia đình, công
việc người mẹ….để làm sáng tỏ).
Hướng dẫn chấm phần phân tích chủ đề:
+ Học sinh nêu và phân tích thuyết phục được 3 chủ đề cho 1,0
điểm.
+ Học sinh nêu và phân tích thuyết phục được 2 chủ đề cho 0,75
điểm.
+ Học sinh nêu và phân tích thuyết phục được 1 chủ đề cho 0,5
điểm.
2, Luận điểm 2: Phân tích một số nét đặc sắc về hình thức
nghệ thuật của tác phẩm:
- Nghệ thuật xây dựng cốt truyện: Cốt truyện đơn giản, gần gũi
đời thường, xoay quanh cuộc sống của hai mẹ con người phụ nữ
bán bánh mì rong. Đứa trẻ háo hức với chiếc vé xem xiếc nhưng
khi đến nơi vì không đủ tiền mua vé người lớn nên mẹ con họ
đành quay trở về. Tình huống đơn giản nhưng làm nổi bật được
tính cách nhân vật và tư tưởng chủ đề của tác phẩm.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Truyện còn thành công ở nghệ
thuật xây dựng nhân vật, nhất là nhân vật cậu con trai chủ yếu
được khắc hoạ qua phương diện lời nói, hành động, suy nghĩ và
qua mối quan hệ với nhân vật khác….(Học sinh nêu lí lẽ, bằng
chứng làm sáng tỏ).
- Ngoài ra, để làm sáng lên tư tưởng chủ đề của truyện, nhà văn
còn thành công ở nghệ thuật miêu tả tâm lý, đặc biệt là tâm lý
người mẹ. Tài năng của nhà văn thể hiện rõ nhất trong đoạn
miêu tả sự đấu tranh tư tưởng của người mẹ khi biết rằng phải
mua vé mới được vào xem xiếc. ….(Học sinh nêu lí lẽ, bằng
chứng làm sáng tỏ).
- Vé xem xiếc còn cuốn hút người đọc ở cách dẫn chuyện, kể
1,0
chuyện tự nhiên. Ngôn ngữ đối thoại, độc thoại nội tâm sâu sắc,
chân thực, lôi cuốn… (Học sinh nêu lí lẽ, bằng chứng làm sáng
tỏ).
- Nghệ thuật xây dựng chi tiết truyện đặc sắc: Cậu bé háo hức
chờ đợi ngày được đi xem xiếc, sự thất vọng của cậu khi không
thể vào xem xiếc cùng mẹ. Cảm xúc dằn vặt và kiên cường của
mẹ khi dẫn con về… (Học sinh nêu lí lẽ, bằng chứng làm sáng
tỏ).
-…
Hướng dẫn chấm phần phân tích một số nét đặc sắc về hình
thức nghệ thuật:
+ Học sinh nêu và phân tích thuyết phục được 3 đặc sắc về
nghệ thuật như đáp án cho 1,0 điểm.
+ Học sinh nêu và phân tích thuyết phục được 2 đặc sắc về
nghệ thuật như đáp án cho 0,75 điểm.
+ Học sinh nêu và phân tích thuyết phục được 1 đặc sắc về
nghệ thuật như đáp án cho 0,5 điểm.
III. Kết bài:
- Khái quát thành công, giá trị của truyện ngắn.
- Bài học cho bản thân.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau:
- Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn
đề nghị luận.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lý lẽ kết hợp với bằng chứng;
sắp xếp hệ thống ý mạch lạc, lôgic.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết
văn bản.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt
mới mẻ.
Cách cho điểm:
- Điểm từ 3,0 -> 4,0: Đáp ứng tốt các yêu cầu trên; lập luận
logic, sáng rõ, chặt chẽ; dẫn chứng phong phú, thuyết phục; văn
viết có giọng điệu riêng, giàu hình ảnh, cảm xúc.
- Điểm từ 2,0 -> 2,75: Đáp ứng tương đối các yêu cầu trên; lập
luận khá logic, sáng rõ, chặt chẽ; dẫn chứng thuyết phục; văn
viết có cảm xúc; còn mắc một số lỗi diễn đạt.
- Điểm 1 -> 1,75: Đảm bảo các yêu cầu trên ở mức độ sơ sài,
chưa biết phân chia luận điểm; chưa biết đánh giá; văn viết còn
0,25
0,25
0,25
0,25
lủng củng, nhiều lỗi chính tả, dùng từ đặt câu.
- Điểm 0,25-> 0,75: Chưa hiểu đúng đề, phân tích một cách
chung chung, thiếu thuyết phục; văn viết sai nhiều lỗi, trình bày
cẩu thả.
- Điểm 0: Không làm bài hoặc lạc đề.
Lưu ý: Giám khảo cân nhắc trong tổng thể bài làm của thí
sinh, linh hoạt tránh đếm ý cho điểm.
TT
1
2
Kĩ
năng
Đọc
hiểu
Viết
Nội
dung/đơn
vị kiến thức
Văn
bản
nghị luận.
Viết đoạn
văn
nghị
luận xã hội.
Viết
bài
văn
nghị
luận
văn
học.
Tổng
Tỉ lệ %
Tỉ lệ chung
Mức độ nhận thức
Nhận biết
Thông hiểu
Vận dụng
Vận dụng
cao
TNKQ TL
Tổng
%
điểm
TNKQ
TL
TNKQ
TL
TNKQ
TL
0
2
0
2
0
1
0
0
40
0
1*
0
1*
0
1*
0
1*
20
0
1*
0
1*
0
1*
0
1*
40
30
0
30
0
30
0
10
0
0
30%
30%
60%
30%
10%
40%
100
BẢNG ĐẶC TẢ ĐỀ KIỀM TRA
Số câu hỏi theo mức độ nhận thức
TT
1
2
Kĩ
năng
Nội dung/Đơn
vị kiến thức
Đọc
hiểu
Văn bản nghị Nhận biết:
- Nhận biết được luận đề,
luận.
luận điểm, lí lẽ và bằng
chứng tiêu biểu trong văn
bản nghị luận.
Thông hiểu:
- Nêu được nội dung bao
quát của văn bản.
- Phân tích được mối liên
hệ giữa luận đề, luận
điểm, lí lẽ và bằng chứng.
- Nêu được tác dụng của
biện pháp tu từ trong việc
thể hiện luận điểm.
- Phân tích được chủ đề, tư
tưởng, thông điệp mà văn
bản muốn gửi đến người
đọc thông qua hình thức
nghệ thuật của văn bản.
…
Vận dụng
- So sánh nhân vật, văn
bản.
- Liên hệ văn bản với bản
thân, văn bản với bối cảnh.
- Trình bày ý kiến, suy
nghĩ, bài học.
Câu 1. Viết Nhận biết
đoạn văn nghị - Xác định yêu cầu về nội
luận xã hội.
dung và hình thức của đoạn
văn nghị luận xã hội.
- Xác định rõ được mục
đích, đối tượng nghị luận
trong đoạn văn.
- Đảm bảo cấu trúc của
đoạn văn nghị luận.
Viết
Mức độ đánh giá
Nhận
biết
2TL
Thôn
g hiểu
Vận
dụng
2TL
1TL
Vận
dụng
cao
1*
1*
1*
1*
Thông hiểu:
- Giới thiệu vấn đề nghị
luận cần bàn.
- Phân tích được tác dụng
của các giải pháp để giải
quyết vấn đề trong cuộc
sống.
- Phân tích bài học, tình
cảm, cảm xúc của người
viết.
- Đảm bảo chuẩn chính tả,
ngữ pháp tiếng Việt.
Vận dụng:
- Có cách diễn đạt độc đáo,
sáng tạo, hợp logic.
- Cảm nhận, đánh giá, liên
hệ từ ý nghĩa của ngữ liệu.
- Trình bày ý kiến, quan
điểm, suy nghĩ, bài học…
Vận dụng cao:
- Viết được đoạn văn nghị
luận xã hội về một vấn đề
cần giải quyết đi vào một
khía cạnh cụ thể của vấn
đề: nêu được giải pháp giải
quyết vấn đề nghị luận; làm
rõ vấn đề nghị luận bằng lí
lẽ, bằng chứng thuyết phục.
Câu 2. Viết bài
văn nghị luận
phân tích một
tác phẩm văn
học (truyện).
Nhận biết:
Thông hiểu:
Vận dụng:
Vận dụng cao:
- Viết được một văn bản
nghị luận phân tích một tác
phẩm văn học (truyện):
phân tích nội dung chủ đề,
những nét đặc sắc về hình
thức nghệ thuật của tác
phẩm và hiệu quả thẩm mĩ
1*
1*
1*
1TL*
của tác phẩm.
- Vận dụng các kĩ năng,
thao tác lập luận một cách
nhuần nhuyễn, linh hoạt.
- Có cách diễn đạt độc đáo,
sáng tạo, hợp logic.
Tổng điểm
4TL
4TL
3TL
2TL
Tỉ lệ %
30%
30%
30%
10%
Tỉ lệ chung
60%
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KỲ I – NĂM HỌC: 2025 – 2026
40%
MÔN: Ngữ Văn 9
Thời gian làm bài: 90 phút; không kể thời gian giao đề
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
Hi vọng và nguyện vọng không thể lẫn lộn với nhau được. Chúng ta có thể mang cùng
một lúc hàng ngàn nguyện vọng đủ loại nhưng hi vọng thì chỉ có một mà thôi. Chúng ta mong
muốn người mình đang đợi sẽ đến đúng giờ, mong muốn đỗ kỳ thi, hay mong cho do Rwanda
tìm được nền hòa bình..., đây đều là những nguyện vọng cá nhân.
Hi vọng lại khác hẳn. Nó có liên quan mật thiết với ý nghĩa cuộc sống. Giả sử cuộc sống
hoàn toàn không có đích đến nào, mà chỉ là chuyển giao một cơ thể thối rữa xuống lòng đất
thì sống để làm gì chứ? Hi vọng, chính là tin rằng trong cuộc đời có ý nghĩa nào đó.
Hi vọng chẳng có liên quan gì đến học lực, tiền bạc, hay danh dự. Có thể coi hi là bản
chất của chúng ta, cũng chính là lòng yêu thương lẫn nhau, là con đường dẫn đến tình yêu và
niềm kiêu hãnh của bản thân cũng như người khác. Nếu con cho rằng tiếp tục giận dỗi mẹ
giúp được con thì con cứ làm vậy đi. Nếu đó là cách con bảo vệ niềm kiêu hãnh của bản thân
thì đương nhiên con phải làm thế rồi. Nhưng rốt cuộc chúng ta biết đâu lại đều là những
người ngày còn bé vì muốn thể hiện mình không nhận được đủ tình yêu từ mẹ, mà kiên quyết
từ chối cái kem mẹ mua cho dù rất thích. Con hiểu không? Để thể hiện sự ghét bỏ, chúng ta
chẳng biết cách nào ngoài từ chối những thứ chúng ta yêu thích, và rồi đều là những người bị
tổn thương.
(Dù con sống thế nào, mẹ cũng luôn ủng hộ con,
Gong Ji Young, NXB Thời đại, 2014, tr 134)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. (0,5 điểm) Chỉ ra luận đề của đoạn trích?
Câu 2. (0,5 điểm) Để làm nổi bật luận điểm không thể trộn lẫn hi vọng với nguyện vọng,
người viết đã dùng những lí lẽ nào?
Câu 3. (1,0 điểm) Chỉ ra tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn sau: “Chúng ta
mong muốn người mình đang đợi sẽ đến đúng giờ, mong muốn đỗ kỳ thi, hay mong cho do
Rwanda tìm được nền hòa bình..., đây đều là những nguyện vọng cá nhân”?
Câu 4. (1,0 điểm) Em hiểu ý kiến: “Để thể hiện sự ghét bỏ, chúng ta chẳng biết cách nào
ngoài từ chối những thứ chúng ta yêu thích, và rồi đều là những người bị tổn thương” như thế
nào?
Câu 5. (1,0 điểm) Hãy rút ra thông điệp em tâm đắc nhất từ văn bản trên và lý giải vì sao?
II. PHẦN VIẾT
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn (từ 8 đến 10 câu) trình bày giải pháp để giữ gìn và nuôi dưỡng tình cảm với các
thành viên trong gia đình.
Câu 2. (4,0 điểm)
Em hãy viết bài văn phân tích tác phẩm “Vé xem xiếc” của Tống Phú Sa.
VÉ XEM XIẾC
- Tống Phú Sa*(Lược trích: Chị là người mẹ đơn thân, có đứa con trai 6 tuổi đang học mầm non,
chuẩn bị vào lớp Một. Chị bán bánh mì rong để kiếm sống nên cuộc sống của hai mẹ con rất
eo hẹp. Thường ngày, chị chỉ đưa con đến gần cổng trường, lặng lẽ đứng nhìn con vào lớp rồi
mới đi bán hàng, chiều đến cũng chỉ đứng ngoài cổng đón đợi vì chị sợ các bạn nhỏ của con
sẽ cười bộ dạng lếch thếch của người bán hàng rong khiến con chị buồn. Hôm đó là ngày con
tốt nghiệp, nên chị phá lệ vào tận lớp đón con. Con chị rất vui vì được mẹ đón, còn vui hơn vì
cậu được cô giáo thưởng quà và cho một chiếc vé đi xiếc. Tối đó chị đã dẫn con đi xem xiếc)
Hai mẹ con người đàn bà đến sân vận động khi cửa vào đã đông nghẹt người. Thằng bé
nhảy chân sáo bên mẹ, thỉnh thoảng nó vượt lên trước, tay giơ cao tấm vé, miệng líu lo:
- Mẹ thấy chưa, đoàn xiếc này là “có nghề” lắm nhá! Người đi xem đông ơi là đông.
Không biết bọn thằng Bo, cái Nhím có được đi xem không mẹ nhỉ?
Thằng bé bỗng nhỏ giọng, cầm lấy tay mẹ:
- Vào cổng rồi mẹ nhớ nắm chặt tay con, mẹ nhé! Con sợ mẹ con mình lạc nhau. Cô giáo
bảo lạc mẹ là tội nhất.
Người đàn bà nhìn con rưng rưng. Gánh xiếc về quả là một ngày hội lớn của bọn trẻ. Ở
đấy, người ta bán vô số đồ chơi và quà ăn vặt của trẻ con. Thằng bé kín đáo nhìn những hình
thù ngộ nghĩnh trên những quả bóng bay được bơm tròn căng. Nó lè lưỡi liếm môi khi đi qua
hàng bỏng ngô chiên mỡ. Chị vờ như không biết. Chị để mặc dòng nước lặng lẽ chuồi trên
khoé mắt.
Dòng người mỗi lúc một đông. Thằng bé dẫn chị vào cửa soát vé. Nó cẩn thận đặt tấm vé
thẳng thớm vào tay chị rồi nhanh chân chạy lên trước ngay sát cổng vào, đôi bàn tay nhỏ xíu
đưa lên vẫy vẫy:
- Mẹ ơi, con ở đây!
Người đàn bà nhón chân, gật gật đầu rồi lách lên phía trước. Chị nghiêm trang chìa tấm
vé xem xiếc mà con trai chị được tặng ở trường mầm non. Anh chàng soát vé bật cười, trả tấm
vé cho chị:
- Bà “khốt”(1), ơi, đây là vé của trẻ con. Mà trẻ con cũng phải có người lớn đi kèm mới
được vào! Người lớn muốn vào thì phải sang kia mua vé. Không biết bà ở đâu ra mà khốt thế
không biết?
Anh chàng soát vé đẩy chị ra. Người đàn bà nghe sống lưng lạnh toát. Ôi! Con trai bé
bỏng của chị, chị biết phải làm sao đây? Chị lần dây rút, kín đáo đếm lại số tiền trong đấy.
Những đồng tiền ít ỏi của chị đủ để mua một tấm vé vào xem xiếc. Nhưng còn ngày mai, ngày
kia... chị không biết phải xoay xở thế nào cho cuộc sống của hai mẹ con. Người đàn bà đau
đớn nhìn đôi mắt trong veo của con trai đang ngước vào phía trong. Chắc nó sốt ruột muốn
nhanh lên ngồi ở hàng đầu để nhìn cho rõ... Lấy hết can đảm, người đàn bà cúi xuống sát tai
nó, giọng nghẹn lại:
- Bi ơi, mình về thôi con!
Cổ họng chị tắc nghẽn khi nhìn đôi vai buông thõng, khuôn mặt buồn thiu thắt của thằng
bé. Không kìm được, chị ghì lấy nó, đôi dòng nước mắt lặng lẽ rơi:
- Mẹ xin lỗi con, thứ lỗi cho mẹ, con nhé!
Thằng bé day mặt về phía chị, chỉ thoáng chốc, chỉ thoáng chốc thôi, khuôn mặt thằng bé
đã ở trạng thái bình thường. Nó chạy trước chị một quãng, nói lớn để chị không thể nhận ra
giọng nói đã méo xệch của mình, rằng, mẹ ơi, đoàn xiếc này cũng còn non nghề, ai mà thèm
xem mẹ nhỉ!
Người đàn bà cùng thằng con trai sáu tuổi đi về phía con đường có những ánh đèn. Sau
lưng hai mẹ con tiếng loa phóng thanh ra rả về buổi xiếc thú chìm dần trong bóng tối.
(Theo Tống Phú Sa, Truyện ngắn hay 2015,
NXB Văn học, 2015, trang 243-258)
Chú thích:
* Tống Phú Sa sinh ngày 21 tháng 3 năm 1975 tại Hà Tĩnh. Bà là một nhà giáo, nhà văn
người có nhiều truyện ngắn đăng trên các báo, tạp chí từ Trung ương đến địa phương. Trang
viết của bà đầy chất hiện thực và thấm đẫm tính nhân văn.
(1)
" khốt": để chỉ những người lạc hậu, cổ lỗ sĩ, không thức thời.
……………..HẾT……………
Họ và tên thí sinh: ……………………………………
Họ tên, chữ ký GT 1: ……………………………………
Số báo danh: …………………………………….………
Họ tên, chữ ký GT 2: ……………………………………
HƯỚNG DẪN CHẤM
Phần
I
Câu
Câu 1
Câu 2
Câu 3
Câu 4
Nội dung
Điểm
ĐỌC HIỂU
4,0
Chỉ ra luận đề của đoạn trích? (0,5đ)
- Luận đề của đoạn trích: Bàn về niềm hi vọng.
0,5
Trả lời sai, không trả lời: 0 điểm.
Để làm nổi bật luận điểm không thể trộn lẫn hi vọng với
nguyện vọng, người viết đã dùng những lí lẽ nào? (0,5đ)
- Có thể mang cùng một lúc hàng ngàn nguyện vọng nhưng hi 0,25
vọng thì chỉ có một mà thôi.
- Hi vọng có liên quan mật thiết với ý nghĩa cuộc sống.
0,25
Cách cho điểm:
+ Hs nêu được 2 lí lẽ cho 0,5 điểm.
+ Hs nêu được 1 lí lẽ cho 0,25 điểm.
+ Trả lời sai, không trả lời: 0 điểm.
Chỉ ra tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn
sau: “Chúng ta mong muốn người mình đang đợi sẽ đến đúng
giờ, mong muốn đỗ kỳ thi, hay mong cho do Rwanda tìm được
nền hòa bình..., đây đều là những nguyện vọng cá nhân”?
(1,0đ)
- Biện pháp liệt kê: Liệt kê những nguyện vọng cá nhân:“mong
muốn người mình đang đợi sẽ đến đúng giờ, mong muốn đỗ kỳ
thi, mong cho do Rwanda tìm được nền hòa bình”.
- Tác dụng:
+ Giúp câu văn giàu nhịp điệu, sinh động, hấp dẫn.
+ Nhấn mạnh rằng con người có thể có rất nhiều nguyện vọng
cùng một lúc. Đó đều là những nguyện vọng cao đẹp của cá
nhân.
+ Giúp người đọc phân biệt rõ giữa hi vọng và nguyện vọng.
Cách cho điểm:
+ Học sinh trả lời đúng, đủ 3 ý về tác dụng cho 0,75 điểm.
+ Học sinh trả lời đúng, đủ 2 ý về tác dụng cho 0,5 điểm
+ Trả lời được 1 ý: cho 0,25 điểm.
+ Trả lời sai, không trả lời: 0 điểm.
Em hiểu ý kiến: “Để thể hiện sự ghét bỏ, chúng ta chẳng biết
cách nào ngoài từ chối những thứ chúng ta yêu thích, và rồi
đều là những người bị tổn thương” như thế nào? (1,0đ)
Gợi ý
- Câu nói đã khẳng định: Cách để thể hiện sự ghét bỏ một ai đó
là nói lời chối từ với những điều mà họ làm cho mình dù là điều
mình yêu thích. Điều này gây ra tổn thương, khổ đau cho chính
mình và cả đối phương.
- Từ đó, tác giả khuyên đừng cố từ chối những điều mà mình
0,25
0,25
0,25
0,25
0,5
Câu 5
II
Câu 1
yêu thích chỉ vì ghét bỏ một ai đó. Điều đó sẽ làm cho mọi
người tổn thương......
Cách cho điểm:
+ Hs lí giải được 2 lí do cho 1,0 điểm.
+ Hs lí giải được 1 lí do cho 0,5 điểm.
+ HS có thể nêu những cách lí giải khác ngoài đáp án nhưng
chính xác, phù hợp, GV linh hoạt cho điểm.
Hãy rút ra thông điệp em tâm đắc nhất từ văn bản trên và lý
giải vì sao? (1,0đ)
- Học sinh có thể trình bày một trong các thông điệp sau đây:
+ Cần sở hữu một niềm hi vọng có ý nghĩa.
+ Không nên làm tổn thương người khác.
+...
- Học sinh lý giải phù hợp với thông điệp mình lựa chọn.
- Vì:
+ Niềm hi vọng giúp cuộc sống của bản thân có lí tưởng, có
đích đến để không cảm thấy lạc lõng trong những bộn bề cuộc
đời.
+ Hi vọng còn tạo sức mạnh, động lực để ta vượt thử thách và
được là chính mình với những suy nghĩ đích thực của mình.
...
Cách cho điểm:
+ HS trả lời đúng 1 thông điệp cho 0,5 điểm; Trả lời 2 thông
điệp trở lên không cho điểm.
+ Lý giải 1 lí do phù hợp, đúng trọng tâm cho 0,5 điểm.
+ Không lí giải: 0 điểm.
+ HS có thể nêu những thông điệp, cách lí giải khác ngoài đáp
án nhưng chính xác, phù hợp, GV linh hoạt cho điểm.
VIẾT
Viết đoạn văn (từ 8 đến 10 câu, có đánh số thứ tự các câu)
trình bày giải pháp để giữ gìn và nuôi dưỡng tình cảm với
các thành viên trong gia đình. (2,0đ)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức đoạn văn, dung lượng
của đoạn văn (12 đến 14 câu ).
- Đảm bảo hình thức một đoạn văn nghị luận có mở đoạn, thân
đoạn, kết đoạn.
- Dung lượng: từ 8 - 10 câu.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Cách giữ gìn và nuôi dưỡng tình cảm với các thành viên trong
gia đình.
c. Triển khai vấn đề bằng lập luận chặt chẽ với lí lẽ, dẫn chứng
phù hợp, thuyết phục. Dưới đây là một số gợi ý triển khai:
- Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận, khẳng định sự cần
thiết của vấn đề đó.
0,5
0,5
0,5
6,0
2,0
0,25
0,25
1,0
- Thân đoạn:
- Đề xuất được các giải pháp khả thi để giữ gìn và nuôi dưỡng
tình cảm với các thành viên trong gia đình. Có thể như sau:
- Về nhận thức:
+ Tình cảm với gia đình là tình cảm vô cùng cần thiết quan
trọng trong cuộc sống của mỗi người.
+ Gia đình là điểm tựa tinh thần vững chắc, giúp chúng ta có
thêm động lực để vượt qua những khó khăn, thách thức.
- Về hành động:
+ Cần duy trì bữa cơm gia đình thường xuyên. Dù công việc có
bận rộn nhưng gia đình vẫn nên quây quần bên nhau để chia sẻ
về những hoạt động diễn ra trong ngày để thấu hiểu nhau hơn.
+ Chia sẻ, hỗ trợ nhau các công việc gia đình. Qua các việc làm
thường ngày giúp gắn kết các thành viên trong gia đình hơn.
+ Quan tâm, chăm sóc, động viên các thành viên mỗi khi ốm
đau, mệt mỏi.
+ Đối với các thành viên trong gia đình, hãy luôn cho đi ,đừng
toan tính thiệt hơn...
- Kết đoạn: Khẳng định lại ý nghĩa của gia đình đối với mỗi
người và rút ra bài học cho bản thân.
d. Diễn đạt:
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết
câu trong đoạn văn.
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có
cách diễn đạt mới mẻ.
Cách cho điểm:
- Điểm 2,0 -> 1,75: Đáp ứng tốt các yêu cầu về kiến thức và kĩ
năng. Bài viết sâu sắc, sáng tạo, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng
phong phú, xác thực.
Điểm 1,5 -> 1,0: Đáp ứng tương đối tốt các yêu cầu về kĩ năng,
nội dung. Đảm bảo được gần hết các ý như yêu cầu nhưng còn
một số lỗi về diễn đạt.
- Điểm 0,5 -> 0,75: Các giải pháp còn sơ sài, diễn đạt chưa trôi
chảy, lưu loát.
- Điểm 0,25: Diễn đạt chung chung, không làm rõ được vấn đề
nghị luận, còn có nhiều lỗi chính tả.
- Điểm 0: Không làm hoặc lạc đề.
Câu 2
VIẾT
Em hãy viết bài văn phân tích tác phẩm “Vé xem xiếc” của
Tống Phú Sa.
* Yêu cầu chung:
- Đây là dạng bài cụ thể: Viết bài văn nghị luận phân tích truyện
ngắn sau: Vé xem xiếc.
0,5
0,5
0,25
0,25
4,0
- Xác định đúng kiểu bài nghị luận văn học phân tích tác phẩm
văn học truyện.
* Yêu cầu cụ thể.
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài
- Xác định được yêu cầu của kiểu bài: Bài nghị luận văn học
phân tích một tác phẩm truyện ngắn.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích một số nét đặc
sắc về nội dung chủ đề và hình thức nghệ thuật của truyện ngắn
“Vé xem xiếc”.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận:
- Hs vận dụng các thao tác lập luận để triển khai vấn đề thành
các luận điểm, luận cứ phù hợp có sức thuyết phục.
- Sắp xếp được các ý theo bố cục hợp lí ba phần của bài văn
nghị luận. Sau đây là một số gợi ý:
I. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
- Nêu nhận xét khái quát về tác phẩm.
II. Thân bài: Giải quyết vấn đề nghị luận
1, Luận điểm 1: Phân tích nội dung, chủ đề của tác phẩm:
a, Nêu nội dung chính của truyện.
0,25
0,25
0,25
- Câu chuyện kể về một người mẹ đơn thân, bán bánh mì rong
để nuôi đứa con trai mới lên sáu tuổi.
- Ngày tổng kết tốt nghiệp mầm non, cậu bé được cô giáo tặng
một vé xem xiếc miễn phí. Cậu bé vui sướng vì đây là lần đầu
cậu được xem xiếc.
0,25
- Khi đến rạp, mẹ con chị mới biết chiếc vé chỉ dành cho trẻ em,
mà trẻ em phải có người lớn đi cùng mới được vào. Chị không
dám mạo hiểm bỏ ra số tiền duy nhất mình có để mua vé xem.
Chị đành xin lỗi con trai, ôm con, giấu đi nước mắt. Cậu bé thất
vọng nhưng nén nỗi buồn và nói gánh xiếc còn non nghề, chẳng
đáng xem.
b, Phân tích nội dung chủ đề của tác phẩm truyện. Truyện ca
ngợi những tình cảm đáng quý, đáng trân trọng của con người,
cụ thể:
- Truyện viết về tình mẫu tử thiêng liêng, cảm động của hai mẹ
con người phụ nữ nghèo khổ. Đó là tình cảm của người mẹ dành
cho con. Dù nghèo khổ, ít học, nhưng người mẹ rất yêu thương
con, muốn cùng con đi xem xiếc, hạnh phúc khi thấy con vui.
Đó còn là tình cảm của con dành cho mẹ. Đó là một cậu bé tuy
mới 6 tuổi nhưng rất hiểu chuyện và yêu thương mẹ. Em ý thức
được về gia cảnh của hai mẹ con, nên không bao giờ có đòi hỏi
thái quá khiến mẹ phải khó xử. (Học sinh nêu lí lẽ, bằng chứng
1,0
về sự hi sinh và tình cảm lớn lao mà mẹ con họ dành cho nhau
để làm sáng tỏ).
- Truyện thể hiện khát vọng và ước mơ của trẻ thơ. Cậu bé mong
chờ tấm vé xem xiếc như một ước muốn lớn lao, thể hiện sự
ngây thơ và niềm tin vào những điều tốt đẹp mặc dù điều kiện
sống rất hạn chế. (Học sinh nêu lí lẽ, bằng chứng làm sáng tỏ
tâm trạng của cậu bé).
- Truyện phản ánh những khó khăn thử thách mà gia đình nghèo
gặp phải đồng thời ca ngợi sự kiên nhẫn và nỗ lực của họ để
mang lại những điều tốt nhất cho con cái, thể hiện tấm lòng cảm
thương, sẻ chia, trân trọng của nhà văn với những mảnh đời
nghèo khó.
(Học sinh nêu lí lẽ, bằng chứng về hoàn cảnh gia đình, công
việc người mẹ….để làm sáng tỏ).
Hướng dẫn chấm phần phân tích chủ đề:
+ Học sinh nêu và phân tích thuyết phục được 3 chủ đề cho 1,0
điểm.
+ Học sinh nêu và phân tích thuyết phục được 2 chủ đề cho 0,75
điểm.
+ Học sinh nêu và phân tích thuyết phục được 1 chủ đề cho 0,5
điểm.
2, Luận điểm 2: Phân tích một số nét đặc sắc về hình thức
nghệ thuật của tác phẩm:
- Nghệ thuật xây dựng cốt truyện: Cốt truyện đơn giản, gần gũi
đời thường, xoay quanh cuộc sống của hai mẹ con người phụ nữ
bán bánh mì rong. Đứa trẻ háo hức với chiếc vé xem xiếc nhưng
khi đến nơi vì không đủ tiền mua vé người lớn nên mẹ con họ
đành quay trở về. Tình huống đơn giản nhưng làm nổi bật được
tính cách nhân vật và tư tưởng chủ đề của tác phẩm.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Truyện còn thành công ở nghệ
thuật xây dựng nhân vật, nhất là nhân vật cậu con trai chủ yếu
được khắc hoạ qua phương diện lời nói, hành động, suy nghĩ và
qua mối quan hệ với nhân vật khác….(Học sinh nêu lí lẽ, bằng
chứng làm sáng tỏ).
- Ngoài ra, để làm sáng lên tư tưởng chủ đề của truyện, nhà văn
còn thành công ở nghệ thuật miêu tả tâm lý, đặc biệt là tâm lý
người mẹ. Tài năng của nhà văn thể hiện rõ nhất trong đoạn
miêu tả sự đấu tranh tư tưởng của người mẹ khi biết rằng phải
mua vé mới được vào xem xiếc. ….(Học sinh nêu lí lẽ, bằng
chứng làm sáng tỏ).
- Vé xem xiếc còn cuốn hút người đọc ở cách dẫn chuyện, kể
1,0
chuyện tự nhiên. Ngôn ngữ đối thoại, độc thoại nội tâm sâu sắc,
chân thực, lôi cuốn… (Học sinh nêu lí lẽ, bằng chứng làm sáng
tỏ).
- Nghệ thuật xây dựng chi tiết truyện đặc sắc: Cậu bé háo hức
chờ đợi ngày được đi xem xiếc, sự thất vọng của cậu khi không
thể vào xem xiếc cùng mẹ. Cảm xúc dằn vặt và kiên cường của
mẹ khi dẫn con về… (Học sinh nêu lí lẽ, bằng chứng làm sáng
tỏ).
-…
Hướng dẫn chấm phần phân tích một số nét đặc sắc về hình
thức nghệ thuật:
+ Học sinh nêu và phân tích thuyết phục được 3 đặc sắc về
nghệ thuật như đáp án cho 1,0 điểm.
+ Học sinh nêu và phân tích thuyết phục được 2 đặc sắc về
nghệ thuật như đáp án cho 0,75 điểm.
+ Học sinh nêu và phân tích thuyết phục được 1 đặc sắc về
nghệ thuật như đáp án cho 0,5 điểm.
III. Kết bài:
- Khái quát thành công, giá trị của truyện ngắn.
- Bài học cho bản thân.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau:
- Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn
đề nghị luận.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lý lẽ kết hợp với bằng chứng;
sắp xếp hệ thống ý mạch lạc, lôgic.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết
văn bản.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt
mới mẻ.
Cách cho điểm:
- Điểm từ 3,0 -> 4,0: Đáp ứng tốt các yêu cầu trên; lập luận
logic, sáng rõ, chặt chẽ; dẫn chứng phong phú, thuyết phục; văn
viết có giọng điệu riêng, giàu hình ảnh, cảm xúc.
- Điểm từ 2,0 -> 2,75: Đáp ứng tương đối các yêu cầu trên; lập
luận khá logic, sáng rõ, chặt chẽ; dẫn chứng thuyết phục; văn
viết có cảm xúc; còn mắc một số lỗi diễn đạt.
- Điểm 1 -> 1,75: Đảm bảo các yêu cầu trên ở mức độ sơ sài,
chưa biết phân chia luận điểm; chưa biết đánh giá; văn viết còn
0,25
0,25
0,25
0,25
lủng củng, nhiều lỗi chính tả, dùng từ đặt câu.
- Điểm 0,25-> 0,75: Chưa hiểu đúng đề, phân tích một cách
chung chung, thiếu thuyết phục; văn viết sai nhiều lỗi, trình bày
cẩu thả.
- Điểm 0: Không làm bài hoặc lạc đề.
Lưu ý: Giám khảo cân nhắc trong tổng thể bài làm của thí
sinh, linh hoạt tránh đếm ý cho điểm.
 








Các ý kiến mới nhất