Đề thi học kì 2

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Ngọc Minh
Ngày gửi: 20h:31' 08-06-2024
Dung lượng: 33.2 KB
Số lượt tải: 51
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Ngọc Minh
Ngày gửi: 20h:31' 08-06-2024
Dung lượng: 33.2 KB
Số lượt tải: 51
Số lượt thích:
0 người
Họ và tên thí sinh: ............................................... Số báo danh: .............................
I.
ĐỌC (6,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
XA XÓM MŨI
(Trích)
[…] Bầu trời rộng chan chứa. Biển mênh mông day dứt. Ngồi trên xuồng thả bập bềnh
trên sóng, thằng Đức dựa vô ngực ông ngoại ngước mắt nhìn ra xa. Ngoại ôm nó thả xuống
bãi bùn. Ngoại biểu nó chơi cho thỏa thích. Thằng Đức ngâm mình trong nước, thấy mình
vững chải hẳn lên, nước biển che giấu đi đôi chân tội nghiệp, thằng Đức quên đi nỗi tật
nguyền.
Thằng Đức được ông ngoại chở ra biển hoài nhưng chỉ hai lần nó nhớ nhất. Lần thứ
nhất là năm nó tám tuổi, cơn bão lớn tàn phá qua xóm Mũi. Cha nó đi biển vĩnh viễn không
về. Ông ngoại chở má, chở nó ra cửa biển, ngóng hoài, chờ hoài, vô vọng. Má không bao
giờ khóc trước mặt nó, nhưng đêm về, thằng Đức nghe má nấc những tiếng lỡ làng.
Bà con xóm Mũi ai cũng nhìn nó vừa thương vừa tội, “tội nghiệp, mới tí tuổi đầu, đã có
tật rồi mà còn mồ côi mồ cút”. Nhưng thằng Đức tự ái trong lòng, nhất là với những ánh
mắt nhìn nó - một kẻ tật nguyền. Nó cố tỏ vẻ mạnh mẽ lên, để cho ông ngoại với má vững
lòng, nó sẽ thay ba làm trụ cột trong nhà. Ông ngoại biết ý nó, ông thương nó rứt ruột.
Những buổi chiều, đám con nít trong xóm tụm lại chơi chạy rượt trốn kiếm trước sân, ông
ngoại hay nhìn thấy thằng Đức ngồi bệt xuống sàn nhà, dựa lưng vào cây cột đã bóng nước
nhìn các bạn một cách thèm thuồng, ông ngoại kiềm nén nỗi đau rưng rức trong lòng, xoa
đầu nó, an ủi. Ông ngoại hay nhắc lại, vì sao cơn sốt bại liệt đến với nó hồi nó mới bồng
nách đã cướp đi đôi chân rắn rỏi để chạy nhảy với cuộc đời. Nghe xong, nó bảo, “mai mốt
con học thiệt giỏi cho ngoại coi”. Hỏi nó học giỏi để làm gì, mặt nó đăm đăm lại, giọng
nghiêm túc ghê lắm, “Làm bác sỹ, con dứt khoát sẽ làm bác sỹ. Con sẽ về xóm mình, để
chích cho con nít bịnh”. Cả nhà biết, nó không quên câu chuyện buồn hồi ấy, xã chưa có
bác sỹ, tốc lên chở thằng Đức về tới bệnh viện huyện mất sáu giờ đồng hồ, với bấy nhiêu
thời gian thì đã trễ tràng.[…]
Ở trường xã dạy tới lớp năm, không có thầy cô giáo về nên thôi dạy nữa. Thằng Đức buồn
lắm, suốt ngày chống nạng đi lòng vòng trong nhà, bó hó băn khoăn. Ông ngoại bàn với má
nó chuyện gì đó, mà toàn là nói nho nhỏ với nhau. Rồi ông ngoại đi huyện, thằng Đức hỏi
ông đi đâu, ông bảo đi thăm cậu Hai. Cậu Hai nó buôn bán ngoài đó. Lúc ông ngoại về, ông
ngoại cười hơn hớn, ông nâng thằng Đức ốm nhom lên bằng đôi tay da đã nhăn nheo nhưng
đỏ au rắn rỏi:
- Năm tới ra ngoài huyện học, chịu hôn con?
Nó cũng cười, câu lấy hai vai ông ngoại lắc lấy lắc để:
- Thiệt hả ngoại, thiệt sao?
Rồi tự nhiên đang vui nó xịu mặt xuống:
- Nhưng nhớ nhà lắm, con không đi đâu.
Ông ngoại nghiêm nét mặt lại:
- Vậy con hỏng muốn làm bác sỹ để giúp cho bà con mình sao? Muốn à? Muốn thì phải học,
không học sao làm bác sỹ được, cái thằng… Đàn ông con trai gì mà yếu xìu, khó coi quá.
Ông ngoại nói vậy chớ, làm sao mà không nhớ được phải hông? Hồi đó tới giờ có khi nào
nó xa nhà, xa ông ngoại, xa má đâu. Ông ngoại đi giăng lưới, sạt sò ngoài bãi cũng mang
nó theo. Má đi vá lưới đằng hàng xóm một chút xíu thôi đã chạy về thăm nom nó. Bây giờ tự
nhiên ra chợ huyện ở với cậu Hai sao mà không buồn. Thằng Đức nó suy nghĩ ghê lắm,
nhưng rồi nhìn xuống đôi chân nhỏ nhoi của mình, nó bậm môi quyết định, nó phải làm bác
sỹ, để sau này nhiều em bé xóm Mũi sẽ không tủi không buồn vì tật nguyền như nó.
Nhưng càng đến ngày tựu trường, lòng nó càng bồn chồn, buồn buồn làm sao đâu á.
Thương ông ngoại với má dành dụm hồi trước giờ đều lo quần áo, sách vở cho nó. Ông
ngoại đã lén bán chiếc xuồng be mười để góp tiền với cậu Hai mua cho nó một chiếc xe lăn
tay bóng loáng.
Ông ngoại nói từ nhà cậu lại trường xa lắm, không chống nạng đi học
được. Tội nghiệp, chiếc xuồng đã cùng ông ngoại, đi giăng lưới, mò tôm… Bây giờ bán đi,
cũng buồn, ông ngoại ra ngoài sàn lãn ngồi, mặt ngó ra rừng, hút thuốc. Thằng Đức thấy
hết, nó cảm động trong lòng lắm, càng cảm động càng tự nhủ, mình phải cố học để không
phụ lòng ông ngoại, không phụ lòng má và bà con xóm Mũi này […]
(Trích truyện Xa xóm Mũi, Nguyễn Ngọc Tư, NXB Kim Đồng,2023,tr.1-2-3)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. (1,0 điểm) Tóm tắt câu chuyện được kể trong văn bản trên.
Câu 2. (1,0 điểm) Chỉ ra một số câu văn, đoạn văn có sự đan xen giữa lời của người kể
chuyện và lời của nhân vật trong văn bản trên.
Câu 3. (1,0 điểm) Xác định chủ đề của văn bản. Theo bạn, nhan đề “Xa xóm Mũi” có vai trò
như thế nào trong việc thể hiện chủ đề của văn bản.
Câu 4. (1,0 điểm) Chỉ ra biện pháp tu từ liệt kê trong các câu sau và nêu tác dụng: “Ông
ngoại chở má, chở nó ra cửa biển, ngóng hoài, chờ hoài, vô vọng. Má không bao giờ khóc
trước mặt nó, nhưng đêm về, thằng Đức nghe má nấc những tiếng lỡ làng.”
Câu 5. (1,0 điểm) Kết thúc câu chuyện gợi cho bạn suy nghĩ gì về tình cảm gia đình?
Câu 6. (1,0 điểm) Câu chuyện Xa xóm Mũi giúp bạn hiểu thêm điều gì về mong muốn đóng
góp sức mình vào sự phát triển quê hương của thế hệ trẻ?
II.
VIẾT (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ
thuật của truyện Xa xóm Mũi của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư.
*Chú thích: Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 tại Đầm Dơi, Cà Mau. Là nữ nhà văn trẻ
của Hội nhà văn Việt Nam. Giọng văn của chị đậm chất Nam Bộ, là giọng kể mềm mại
mà sâu cay về những cuộc đời éo le, những số phận chìm nổi. Cái chất miền quê sông
nước ngấm vào các tác phẩm, thấm đẫm cái tình của làng, của đất, của những con người
chân chất hồn hậu nhưng ít nhiều gặp những bất hạnh. Âm thầm đến với văn chương và
bừng sáng khi được nhận giải Nhất cuộc thi Văn học tuổi 20 của NXB Trẻ, Nguyễn Ngọc
Tư đã trở thành tâm điểm của sự hy vọng vào một nền văn trẻ đương đại. Tập truyện
ngắn Cánh đồng bất tận của chị gây được tiếng vang lớn, nhận được nhiều giải thưởng
cũng như chuyển thể thành kịch, phim điện ảnh.
------ HẾT -----SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG THPT LƯƠNG VĂN CAN
Phần
Câ
u
Nội dung
ĐẤP ÁN KIỂM TRA HỌC KỲ II
NĂM HỌC 2023 – 2024
Môn: Ngữ văn 10
Thời gian làm bài: 90 phút
Điểm
I. ĐỌC 1
6,0
điểm
2
3
4
5
6
Tóm tắt câu chuyện được kể trong văn bản trên:
- Ngoại chở Đức ra biển, bế xuống bãi bùn để chơi cho thoả
thích, nước biển cũng giúp nó che đi đôi chân tật nguyền.
- Đức nhớ lại những hồi ức đau buồn khi ba mất lúc đi biển.
- Cơn sốt bại liệt đã cướp đi của Đức đôi chân, nhưng không làm
nao núng lòng ham học của cậu bé.
- Nhưng xóm Mũi không có trường cấp 2, thương đứa cháu hiếu
học, ngoại đã bán cả chiếc xuồng be mười, “người bạn” mà ông
gắn bó bao năm, để Đức có thể ra huyện đi học.
- Đức buồn khi sắp phải xa gia đình,nó hứa sẽ cố gắng học để
không phụ lòng ông ngoại và mẹ.
Một số câu văn, đoạn văn có sự đan xen giữa lời của người kể
chuyện và lời của nhân vật trong văn bản trên:
- Nghe xong, nó bảo,“mai mốt con học thiệt giỏi cho ngoại coi”.
Hỏi nó học giỏi để làm gì, mặt nó đăm đăm lại, giọng nghiêm túc
ghê lắm, “Làm bác sỹ, con dứt khoát sẽ làm bác sỹ. Con sẽ về
xóm mình, để chích cho con nít bịnh”.
- Bà con xóm Mũi ai cũng nhìn nó vừa thương vừa tội, “tội
nghiệp, mới tí tuổi đầu, đã có tật rồi mà còn mồ côi mồ cút”
Xác định chủ đề của văn bản: Tình yêu thương của gia đình đối
với cậu bé Đức/ sự gắn bó sâu nặng của cậu bé tật nguyền (Đức)
đối với mảnh đất và con người Đất Mũi/ Sự ham học của cậu bé
Đức.
Nhan đề “Xa xóm Mũi” có vai trò: Nhan đề súc tích, ngắn gọn;
thể hiện được vấn đề về tình yêu thương của gia đình đối với cậu
bé Đức mà tác phẩm hướng đến; từ đó góp phần làm nổi bật chủ
đề; thôi thúc độc giả tìm hiểu nội dung văn bản, tiếp nhận chủ đề,
tư tưởng của tác phẩm.
Chỉ ra biện pháp tu từ liệt kê, nêu tác dụng:
-BPTT liệt kê: Ông ngoại chở má, chở nó ra cửa biển, ngóng
hoài, chờ hoài, vô vọng
Tác dụng: Miêu tả chi tiết những khía cạnh khác nhau của đối
tượng tạo ấn tượng mạnh về hình ảnh và cảm xúc cho người đọc.
Diễn tả tâm trạng chờ mong, mong ngóng, xen lẫn thất vọng của
ông ngoại.
Kết thúc câu chuyện gợi cho bạn suy nghĩ gì về tình cảm gia đình:
-Tình cảm gia đình đóng vai trò rất quan trọng, bởi khi gặp khó
khăn, đối mặt với thất bại, tình cảm mà gia đình dành cho ta là
nguồn động viên lớn nhất giúp ta vượt qua.
-Tình cảm gia đình còn nguồn động lực để mỗi cá nhân nỗ lực
trong cuộc sống, mang lại cảm giác an yên và sự chia sẻ. Sự yêu
thương từ gia đình giúp mỗi người ngày càng hoàn thiện bản thân
và lan tỏa tình yêu thương ra xã hội.
Câu chuyện giúp bạn hiểu thêm điều gì về mong muốn đóng góp
sức mình vào sự phát triển quê hương của thế hệ trẻ:
- Mong muốn xây dựng quê hương, đất nước ngày càng phát
triển, văn minh, hiện đại hơn.
1,0
1,0
1,0
1,0
1,0
1,0
II.
VIẾT
4,0
điểm
- Trở thành một tấm gương để mọi người noi theo về sự ham học
hỏi, cố gắng vươn lên dù cho hoàn cảnh khó khăn.
- Cần phải chăm chỉ học tập, rèn luyện và tu dưỡng đạo đức. Mỗi
cá nhân nên bồi dưỡng cho mình tình yêu quê hương đất nước và
có những hành động cụ thể để góp phần bảo vệ, làm đẹp cho quê
hương. Để phát triển quê hương cần sự đóng góp tích cực và sự
nhận thức đúng về trách nhiệm và sự chung tay của thế hệ trẻ.
(GV xem xét và cho điểm phù hợp dựa trên đáp án của HS)
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận
0,25
Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề,
thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: đánh giá chủ đề và những 0,25
nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của truyện Xa xóm Mũi
c. Triển khai vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp 3,0
theo trình tự, sử dụng tốt các thao tác lập luận, biết kết hợp giữa
nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng, có cảm nhận sâu sắc.
-Mở bài:
+Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
+Giới thiệu chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật
của truyện Xa xóm Mũi.
-Thân bài:
-Tóm tắt tác phẩm:
Câu bé Đức chuẩn bị ra ngoài huyện học cấp II vì ở trường xã
chỉ dạy tới lớp 5. Là đứa trẻ khuyết tật, lại mồ côi cha, sống cùng
mẹ và ông ngoại, Đức khao khát khi lớn lên sẽ trở thành bác sĩ để
chữa bệnh cho con nít xóm mình. Phải xa xóm Mũi, “Thằng Đức
bỗng thấy thương quá, thương hết thảy, thương nhất là ông
ngoại”. Với Đức, mảnh đất này có quá nhiều kỉ niệm.
- Chủ đề:
+ Qua câu chuyện, chủ đề về đất nước và con người Nam Bộ
được hiện lên một cách rõ nét. Tác giả đã phác họa một bức
tranh thiên nhiên tràn đầy sức sống, trong trẻo.Truyện kể lại
những hoài niệm đẹp đẽ của những ngày thơ ấu thông qua hình
ảnh của đứa trẻ Nam bộ vô cùng hồn nhiên trong trẻo.
+Những đứa trẻ rời quê mang theo trong tâm tưởng âm thanh
của: “Tiếng ghe cào đi đêm ra biển ầm ì, tiếng cơm sôi ì ạch
trong bếp, tiếng nước xối ào ngoài mái đặt trên sàn lãn làm bằng
cây đước. Ngọn khói sớm chiều êm ả cuộn, êm ả tan. Rồi cả cái
xóm Mũi này nữa, không thể gói vào trong giỏ để lâu lâu hé ra
nhìn cho đỡ tủi.”
+Truyện lấy đề tài về cuộc sống giản dị của con người vùng sông
nước Nam Bộ. Đánh thức những kỷ niệm tuổi thơ cùng với lũ trẻ
trong xóm, cho thấy những câu chuyện về tình thương yêu gia
đình, xóm làng,quê hương.
+Chủ đề tập trung thể hiện rõ những kỉ niệm, hồi ức về tuổi thơ.
Không chỉ vậy, hình ảnh con người Nam Bộ chất phác, thuần
hậu, hào phóng và giàu hiểu biết cũng được tác giả tỉ mĩ khắc
họa.
+ Tác giả thương cha mẹ sớm hôm tần tảo, thương biết bao mảnh
đời của những đứa trẻ thơ bất hạnh và lam lũ, yêu cái mảnh đất
cằn cỗi, nghèo khó của quê hương, yêu những con người quanh
năm tất bật mưu sinh mà cuộc sống thì vẫn mãi khốn khó.Tất cả
những điều đó đã phần nào thể hiện chủ đề của tác phẩm
-Đặc sắc về hình thức NT:
-Điểm nhìn (ngôi kể):Với tài năng nghệ thuật của mình, Nguyễn
Ngọc Tư đã sử dụng đa dạng các bút pháp nghệ thuật để truyền
tải nội dung, chủ đề và thông điệp của tác phẩm đến với độc giả.
Tác giả giao phó nhiệm vụ kể chuyện cho người kể chuyện theo
điểm nhìn ngôi thứ ba.Giúp tạo nên một câu chuyện với góc nhìn
khách quan, chân thực và hấp dẫn.Giúp tái hiện một cách rõ
ràng và chính xác những sự kiện và hành động của các nhân vật
một cách đa chiều, rõ nét.
- Kết hợp yếu tố TS+MT+BC: Bên cạnh đó,Nguyễn Ngọc Tư còn
sử dụng yếu tố tự sự đan xen miêu tả và biểu cảm. Cảnh sắc thiên
nhiên ấy có màu sắc, có âm thanh, có chuyển động...và có cả cái
tình trong đó nữa. Nguyễn Ngọc Tư quả thật rất khéo khi trưng
bày trước mắt chúng ta những câu văn chân thật, sống động.
Điều đó làm cho người đọc có cảm giác câu chuyện hiện ra như
“những thước phim” trước mắt.
-Miêu tả nhân vật: Cậu bé Đức mới tí tuổi đầu nhưng không chỉ
tàn tật, mà còn mồ côi mồ cút. Lòng nó đầy tự ái khi người ta
nhìn nó như một kẻ tật nguyền. Nó cố gắng tỏ vẻ mạnh mẽ lên để
ông và mẹ vững lòng, nó tự xác định phải thay ba làm trụ cột
trong gia đình. Ý chí của nó không chịu khuất phục. Biết mình
không thể ra biển vật lộn cùng tấm lưới, cây câu, với đôi chân đã
quặt quẹo, teo ngắt, Đức đã cố gắng học thật giỏi. Câu nói của
cậu bé khiến ta thật cảm động: “Mai mốt con học thiệt giỏi cho
ngoại coi”. “Làm bác sĩ, con dứt khoát sẽ làm bác sĩ. Con sẽ về
xóm mình, để trích cho con nít bịnh”.Không chịu đầu hàng số
phận. Đức ráng sức phấn đấu để đứng lên từ chính đôi chân tật
nguyền, em mơ ước đem tài năng của mình để phục vụ quê
hương. Quả là một trái tim giàu nghị lực, một tấm lòng nhân hậu,
vị tha! Biết tha thứ, luôn hi vọng, gắng gượng vươn lên để vượt
thoát khỏi số phận cũng là những nét đẹp trong phẩm chất, tính
cách của con người Nam bộ nói riêng và của người dân Việt Nam
nói chung.Hay còn là một người ông đáng kính luôn hi sinh vì gia
đình, chăm sóc Đức và thậm chí bán chiếc xuống mà ông yêu
thích nhất chỉ để cho Đức được đi học.
+ Các BPNT: Để câu chuyện của mình không khô khan, trong
suốt quá trình kể, tác giả đã sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật
khác nhau để khắc họa thiên nhiên và con người Nam Bộ. Phép
liệt kê, phép so sánh được sử dụng nhiều hơn cả.
- Thông điệp:Thông qua tất cả những điều trên, Nhà văn đã làm
TT
1
2
nổi bật chủ đề về thiên nhiên và con người Nam Bộ. Tác giả đã
gửi vào tác phẩm những kí ức, những trải nghiệm của bản thân;
tác giả đã gửi vào đó những tình cảm sâu sắc với đất và người
miền Tây Nam tổ quốc.
d. Chính tả, dùng từ, đặt câu
0,25
Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.
e. Sáng tạo
0,25
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc, có cách diễn đạt mới mẻ về vấn đề
nghị luận.
ĐIỂM TOÀN BÀI THI : I + II = 10,00 điểm
MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ II (Năm học 2023 – 2024)
MÔN NGỮ VĂN – LỚP 10 (Thời gian làm bài: 90 phút)
% Tổng
Mức độ nhận thức
điểm
Kĩ
Nhận biết
Thông hiểu
Vận dụng
Vận dụng cao
năng
TNKQ TL TNKQ TL
TNKQ TL TNKQ TL
ĐỌC
HIỂU
VIẾT
Tỉ lệ %
Tỉ lệ chung
0
2.0
0
2.0
1.0
30
0
1.0
2.0
70
40
0
0.5
15
30
1.0
60
0.5
40
15
100
MA TRẬN ĐẶC TẢ YÊU CẦU CÁC KĨ NĂNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ MÔN NGỮ
VĂN CUỐI HỌC KÌ II – NĂM HỌC 2023 – 2024
1. Ma trận đặc tả yêu cầu các kĩ năng kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn cuối học kì II - lớp
10
Kĩ
năng
Đơn vị Mức độ đánh giá
kiến
thức
Số câu Thang Tỉ lệ
hỏi
điểm %
theo
mức độ
nhận
thức
2 câu
2.0
20%
Đọc
6,0
điểm
Văn
Nhận biết:
bản
- Nhận biết được nhân vật, cốt truyện, câu chuyện
truyện trong truyện.
- Nhận biết đề tài, bối cảnh, chi tiết tiêu biểu trong
truyện.
Thông hiểu:
2 câu
- Phân tích, lí giải được chủ đề, tư tưởng của tác
phẩm.
Tiếng Việt:
- Chỉ ra biện pháp tu từ chêm xen và liệt kê, nêu tác
2.0
20%
Viết
4,0
điểm
Nghị
luận
văn
học
dụng
Vận dụng:
- Nêu được ý nghĩa hay tác động của tác phẩm đối
với nhận thức, tình cảm, quan niệm của bản thân
Vận dụng cao:
- Vận dụng những hiểu biết về bối cảnh lịch sử - văn
hoá được thể hiện trong văn bản để lí giải ý nghĩa,
thông điệp của văn bản.
Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác
phẩm văn học theo các mức độ:
Nhận biết:
- Giới thiệu được đầy đủ thông tin chính về tên tác
phẩm, tác giả, thể loại, … của tác phẩm.
- Trình bày được những nội dung khái quát của tác
phẩm văn học.
Thông hiểu:
- Trình bày được những nội dung khái quát của tác
phẩm văn học;
- Triển khai vấn đề nghị luận thành những luận điểm
phù hợp.
- Phân tích được những đặc sắc về nội dung, hình
thức nghệ thuật và chủ đề của tác phẩm;
- Kết hợp được lí lẽ và dẫn chứng để tạo tính chặt
chẽ, logic của mỗi luận điểm;
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
Vận dụng:
- Nêu được những bài học rút ra từ tác phẩm;
- Thể hiện được sự đồng tình / không đồng tình với
thông điệp của tác giả (thể hiện trong tác phẩm);
- Có cách diễn đạt độc đáo, sáng tạo, hợp logic.
Vận dụng cao:
- Đánh giá được ý nghĩa, giá trị của nội dung và hình
thức tác phẩm;
- Thể hiện rõ quan điểm, cá tính trong bài viết;
- Vận dụng hiệu quả những kiến thức tiếng Việt lớp
10 để tăng tính thuyết phục, sức hấp dẫn cho bài viết.
Tổng
1 câu
1.0
10%
1 câu
1.0
10%
1.0
10%
2.0
20%
0.5
5%
0.5
5%
10.0
100%
1 câu
7 câu
I.
ĐỌC (6,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
XA XÓM MŨI
(Trích)
[…] Bầu trời rộng chan chứa. Biển mênh mông day dứt. Ngồi trên xuồng thả bập bềnh
trên sóng, thằng Đức dựa vô ngực ông ngoại ngước mắt nhìn ra xa. Ngoại ôm nó thả xuống
bãi bùn. Ngoại biểu nó chơi cho thỏa thích. Thằng Đức ngâm mình trong nước, thấy mình
vững chải hẳn lên, nước biển che giấu đi đôi chân tội nghiệp, thằng Đức quên đi nỗi tật
nguyền.
Thằng Đức được ông ngoại chở ra biển hoài nhưng chỉ hai lần nó nhớ nhất. Lần thứ
nhất là năm nó tám tuổi, cơn bão lớn tàn phá qua xóm Mũi. Cha nó đi biển vĩnh viễn không
về. Ông ngoại chở má, chở nó ra cửa biển, ngóng hoài, chờ hoài, vô vọng. Má không bao
giờ khóc trước mặt nó, nhưng đêm về, thằng Đức nghe má nấc những tiếng lỡ làng.
Bà con xóm Mũi ai cũng nhìn nó vừa thương vừa tội, “tội nghiệp, mới tí tuổi đầu, đã có
tật rồi mà còn mồ côi mồ cút”. Nhưng thằng Đức tự ái trong lòng, nhất là với những ánh
mắt nhìn nó - một kẻ tật nguyền. Nó cố tỏ vẻ mạnh mẽ lên, để cho ông ngoại với má vững
lòng, nó sẽ thay ba làm trụ cột trong nhà. Ông ngoại biết ý nó, ông thương nó rứt ruột.
Những buổi chiều, đám con nít trong xóm tụm lại chơi chạy rượt trốn kiếm trước sân, ông
ngoại hay nhìn thấy thằng Đức ngồi bệt xuống sàn nhà, dựa lưng vào cây cột đã bóng nước
nhìn các bạn một cách thèm thuồng, ông ngoại kiềm nén nỗi đau rưng rức trong lòng, xoa
đầu nó, an ủi. Ông ngoại hay nhắc lại, vì sao cơn sốt bại liệt đến với nó hồi nó mới bồng
nách đã cướp đi đôi chân rắn rỏi để chạy nhảy với cuộc đời. Nghe xong, nó bảo, “mai mốt
con học thiệt giỏi cho ngoại coi”. Hỏi nó học giỏi để làm gì, mặt nó đăm đăm lại, giọng
nghiêm túc ghê lắm, “Làm bác sỹ, con dứt khoát sẽ làm bác sỹ. Con sẽ về xóm mình, để
chích cho con nít bịnh”. Cả nhà biết, nó không quên câu chuyện buồn hồi ấy, xã chưa có
bác sỹ, tốc lên chở thằng Đức về tới bệnh viện huyện mất sáu giờ đồng hồ, với bấy nhiêu
thời gian thì đã trễ tràng.[…]
Ở trường xã dạy tới lớp năm, không có thầy cô giáo về nên thôi dạy nữa. Thằng Đức buồn
lắm, suốt ngày chống nạng đi lòng vòng trong nhà, bó hó băn khoăn. Ông ngoại bàn với má
nó chuyện gì đó, mà toàn là nói nho nhỏ với nhau. Rồi ông ngoại đi huyện, thằng Đức hỏi
ông đi đâu, ông bảo đi thăm cậu Hai. Cậu Hai nó buôn bán ngoài đó. Lúc ông ngoại về, ông
ngoại cười hơn hớn, ông nâng thằng Đức ốm nhom lên bằng đôi tay da đã nhăn nheo nhưng
đỏ au rắn rỏi:
- Năm tới ra ngoài huyện học, chịu hôn con?
Nó cũng cười, câu lấy hai vai ông ngoại lắc lấy lắc để:
- Thiệt hả ngoại, thiệt sao?
Rồi tự nhiên đang vui nó xịu mặt xuống:
- Nhưng nhớ nhà lắm, con không đi đâu.
Ông ngoại nghiêm nét mặt lại:
- Vậy con hỏng muốn làm bác sỹ để giúp cho bà con mình sao? Muốn à? Muốn thì phải học,
không học sao làm bác sỹ được, cái thằng… Đàn ông con trai gì mà yếu xìu, khó coi quá.
Ông ngoại nói vậy chớ, làm sao mà không nhớ được phải hông? Hồi đó tới giờ có khi nào
nó xa nhà, xa ông ngoại, xa má đâu. Ông ngoại đi giăng lưới, sạt sò ngoài bãi cũng mang
nó theo. Má đi vá lưới đằng hàng xóm một chút xíu thôi đã chạy về thăm nom nó. Bây giờ tự
nhiên ra chợ huyện ở với cậu Hai sao mà không buồn. Thằng Đức nó suy nghĩ ghê lắm,
nhưng rồi nhìn xuống đôi chân nhỏ nhoi của mình, nó bậm môi quyết định, nó phải làm bác
sỹ, để sau này nhiều em bé xóm Mũi sẽ không tủi không buồn vì tật nguyền như nó.
Nhưng càng đến ngày tựu trường, lòng nó càng bồn chồn, buồn buồn làm sao đâu á.
Thương ông ngoại với má dành dụm hồi trước giờ đều lo quần áo, sách vở cho nó. Ông
ngoại đã lén bán chiếc xuồng be mười để góp tiền với cậu Hai mua cho nó một chiếc xe lăn
tay bóng loáng.
Ông ngoại nói từ nhà cậu lại trường xa lắm, không chống nạng đi học
được. Tội nghiệp, chiếc xuồng đã cùng ông ngoại, đi giăng lưới, mò tôm… Bây giờ bán đi,
cũng buồn, ông ngoại ra ngoài sàn lãn ngồi, mặt ngó ra rừng, hút thuốc. Thằng Đức thấy
hết, nó cảm động trong lòng lắm, càng cảm động càng tự nhủ, mình phải cố học để không
phụ lòng ông ngoại, không phụ lòng má và bà con xóm Mũi này […]
(Trích truyện Xa xóm Mũi, Nguyễn Ngọc Tư, NXB Kim Đồng,2023,tr.1-2-3)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. (1,0 điểm) Tóm tắt câu chuyện được kể trong văn bản trên.
Câu 2. (1,0 điểm) Chỉ ra một số câu văn, đoạn văn có sự đan xen giữa lời của người kể
chuyện và lời của nhân vật trong văn bản trên.
Câu 3. (1,0 điểm) Xác định chủ đề của văn bản. Theo bạn, nhan đề “Xa xóm Mũi” có vai trò
như thế nào trong việc thể hiện chủ đề của văn bản.
Câu 4. (1,0 điểm) Chỉ ra biện pháp tu từ liệt kê trong các câu sau và nêu tác dụng: “Ông
ngoại chở má, chở nó ra cửa biển, ngóng hoài, chờ hoài, vô vọng. Má không bao giờ khóc
trước mặt nó, nhưng đêm về, thằng Đức nghe má nấc những tiếng lỡ làng.”
Câu 5. (1,0 điểm) Kết thúc câu chuyện gợi cho bạn suy nghĩ gì về tình cảm gia đình?
Câu 6. (1,0 điểm) Câu chuyện Xa xóm Mũi giúp bạn hiểu thêm điều gì về mong muốn đóng
góp sức mình vào sự phát triển quê hương của thế hệ trẻ?
II.
VIẾT (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ
thuật của truyện Xa xóm Mũi của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư.
*Chú thích: Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 tại Đầm Dơi, Cà Mau. Là nữ nhà văn trẻ
của Hội nhà văn Việt Nam. Giọng văn của chị đậm chất Nam Bộ, là giọng kể mềm mại
mà sâu cay về những cuộc đời éo le, những số phận chìm nổi. Cái chất miền quê sông
nước ngấm vào các tác phẩm, thấm đẫm cái tình của làng, của đất, của những con người
chân chất hồn hậu nhưng ít nhiều gặp những bất hạnh. Âm thầm đến với văn chương và
bừng sáng khi được nhận giải Nhất cuộc thi Văn học tuổi 20 của NXB Trẻ, Nguyễn Ngọc
Tư đã trở thành tâm điểm của sự hy vọng vào một nền văn trẻ đương đại. Tập truyện
ngắn Cánh đồng bất tận của chị gây được tiếng vang lớn, nhận được nhiều giải thưởng
cũng như chuyển thể thành kịch, phim điện ảnh.
------ HẾT -----SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG THPT LƯƠNG VĂN CAN
Phần
Câ
u
Nội dung
ĐẤP ÁN KIỂM TRA HỌC KỲ II
NĂM HỌC 2023 – 2024
Môn: Ngữ văn 10
Thời gian làm bài: 90 phút
Điểm
I. ĐỌC 1
6,0
điểm
2
3
4
5
6
Tóm tắt câu chuyện được kể trong văn bản trên:
- Ngoại chở Đức ra biển, bế xuống bãi bùn để chơi cho thoả
thích, nước biển cũng giúp nó che đi đôi chân tật nguyền.
- Đức nhớ lại những hồi ức đau buồn khi ba mất lúc đi biển.
- Cơn sốt bại liệt đã cướp đi của Đức đôi chân, nhưng không làm
nao núng lòng ham học của cậu bé.
- Nhưng xóm Mũi không có trường cấp 2, thương đứa cháu hiếu
học, ngoại đã bán cả chiếc xuồng be mười, “người bạn” mà ông
gắn bó bao năm, để Đức có thể ra huyện đi học.
- Đức buồn khi sắp phải xa gia đình,nó hứa sẽ cố gắng học để
không phụ lòng ông ngoại và mẹ.
Một số câu văn, đoạn văn có sự đan xen giữa lời của người kể
chuyện và lời của nhân vật trong văn bản trên:
- Nghe xong, nó bảo,“mai mốt con học thiệt giỏi cho ngoại coi”.
Hỏi nó học giỏi để làm gì, mặt nó đăm đăm lại, giọng nghiêm túc
ghê lắm, “Làm bác sỹ, con dứt khoát sẽ làm bác sỹ. Con sẽ về
xóm mình, để chích cho con nít bịnh”.
- Bà con xóm Mũi ai cũng nhìn nó vừa thương vừa tội, “tội
nghiệp, mới tí tuổi đầu, đã có tật rồi mà còn mồ côi mồ cút”
Xác định chủ đề của văn bản: Tình yêu thương của gia đình đối
với cậu bé Đức/ sự gắn bó sâu nặng của cậu bé tật nguyền (Đức)
đối với mảnh đất và con người Đất Mũi/ Sự ham học của cậu bé
Đức.
Nhan đề “Xa xóm Mũi” có vai trò: Nhan đề súc tích, ngắn gọn;
thể hiện được vấn đề về tình yêu thương của gia đình đối với cậu
bé Đức mà tác phẩm hướng đến; từ đó góp phần làm nổi bật chủ
đề; thôi thúc độc giả tìm hiểu nội dung văn bản, tiếp nhận chủ đề,
tư tưởng của tác phẩm.
Chỉ ra biện pháp tu từ liệt kê, nêu tác dụng:
-BPTT liệt kê: Ông ngoại chở má, chở nó ra cửa biển, ngóng
hoài, chờ hoài, vô vọng
Tác dụng: Miêu tả chi tiết những khía cạnh khác nhau của đối
tượng tạo ấn tượng mạnh về hình ảnh và cảm xúc cho người đọc.
Diễn tả tâm trạng chờ mong, mong ngóng, xen lẫn thất vọng của
ông ngoại.
Kết thúc câu chuyện gợi cho bạn suy nghĩ gì về tình cảm gia đình:
-Tình cảm gia đình đóng vai trò rất quan trọng, bởi khi gặp khó
khăn, đối mặt với thất bại, tình cảm mà gia đình dành cho ta là
nguồn động viên lớn nhất giúp ta vượt qua.
-Tình cảm gia đình còn nguồn động lực để mỗi cá nhân nỗ lực
trong cuộc sống, mang lại cảm giác an yên và sự chia sẻ. Sự yêu
thương từ gia đình giúp mỗi người ngày càng hoàn thiện bản thân
và lan tỏa tình yêu thương ra xã hội.
Câu chuyện giúp bạn hiểu thêm điều gì về mong muốn đóng góp
sức mình vào sự phát triển quê hương của thế hệ trẻ:
- Mong muốn xây dựng quê hương, đất nước ngày càng phát
triển, văn minh, hiện đại hơn.
1,0
1,0
1,0
1,0
1,0
1,0
II.
VIẾT
4,0
điểm
- Trở thành một tấm gương để mọi người noi theo về sự ham học
hỏi, cố gắng vươn lên dù cho hoàn cảnh khó khăn.
- Cần phải chăm chỉ học tập, rèn luyện và tu dưỡng đạo đức. Mỗi
cá nhân nên bồi dưỡng cho mình tình yêu quê hương đất nước và
có những hành động cụ thể để góp phần bảo vệ, làm đẹp cho quê
hương. Để phát triển quê hương cần sự đóng góp tích cực và sự
nhận thức đúng về trách nhiệm và sự chung tay của thế hệ trẻ.
(GV xem xét và cho điểm phù hợp dựa trên đáp án của HS)
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận
0,25
Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề,
thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: đánh giá chủ đề và những 0,25
nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của truyện Xa xóm Mũi
c. Triển khai vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp 3,0
theo trình tự, sử dụng tốt các thao tác lập luận, biết kết hợp giữa
nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng, có cảm nhận sâu sắc.
-Mở bài:
+Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
+Giới thiệu chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật
của truyện Xa xóm Mũi.
-Thân bài:
-Tóm tắt tác phẩm:
Câu bé Đức chuẩn bị ra ngoài huyện học cấp II vì ở trường xã
chỉ dạy tới lớp 5. Là đứa trẻ khuyết tật, lại mồ côi cha, sống cùng
mẹ và ông ngoại, Đức khao khát khi lớn lên sẽ trở thành bác sĩ để
chữa bệnh cho con nít xóm mình. Phải xa xóm Mũi, “Thằng Đức
bỗng thấy thương quá, thương hết thảy, thương nhất là ông
ngoại”. Với Đức, mảnh đất này có quá nhiều kỉ niệm.
- Chủ đề:
+ Qua câu chuyện, chủ đề về đất nước và con người Nam Bộ
được hiện lên một cách rõ nét. Tác giả đã phác họa một bức
tranh thiên nhiên tràn đầy sức sống, trong trẻo.Truyện kể lại
những hoài niệm đẹp đẽ của những ngày thơ ấu thông qua hình
ảnh của đứa trẻ Nam bộ vô cùng hồn nhiên trong trẻo.
+Những đứa trẻ rời quê mang theo trong tâm tưởng âm thanh
của: “Tiếng ghe cào đi đêm ra biển ầm ì, tiếng cơm sôi ì ạch
trong bếp, tiếng nước xối ào ngoài mái đặt trên sàn lãn làm bằng
cây đước. Ngọn khói sớm chiều êm ả cuộn, êm ả tan. Rồi cả cái
xóm Mũi này nữa, không thể gói vào trong giỏ để lâu lâu hé ra
nhìn cho đỡ tủi.”
+Truyện lấy đề tài về cuộc sống giản dị của con người vùng sông
nước Nam Bộ. Đánh thức những kỷ niệm tuổi thơ cùng với lũ trẻ
trong xóm, cho thấy những câu chuyện về tình thương yêu gia
đình, xóm làng,quê hương.
+Chủ đề tập trung thể hiện rõ những kỉ niệm, hồi ức về tuổi thơ.
Không chỉ vậy, hình ảnh con người Nam Bộ chất phác, thuần
hậu, hào phóng và giàu hiểu biết cũng được tác giả tỉ mĩ khắc
họa.
+ Tác giả thương cha mẹ sớm hôm tần tảo, thương biết bao mảnh
đời của những đứa trẻ thơ bất hạnh và lam lũ, yêu cái mảnh đất
cằn cỗi, nghèo khó của quê hương, yêu những con người quanh
năm tất bật mưu sinh mà cuộc sống thì vẫn mãi khốn khó.Tất cả
những điều đó đã phần nào thể hiện chủ đề của tác phẩm
-Đặc sắc về hình thức NT:
-Điểm nhìn (ngôi kể):Với tài năng nghệ thuật của mình, Nguyễn
Ngọc Tư đã sử dụng đa dạng các bút pháp nghệ thuật để truyền
tải nội dung, chủ đề và thông điệp của tác phẩm đến với độc giả.
Tác giả giao phó nhiệm vụ kể chuyện cho người kể chuyện theo
điểm nhìn ngôi thứ ba.Giúp tạo nên một câu chuyện với góc nhìn
khách quan, chân thực và hấp dẫn.Giúp tái hiện một cách rõ
ràng và chính xác những sự kiện và hành động của các nhân vật
một cách đa chiều, rõ nét.
- Kết hợp yếu tố TS+MT+BC: Bên cạnh đó,Nguyễn Ngọc Tư còn
sử dụng yếu tố tự sự đan xen miêu tả và biểu cảm. Cảnh sắc thiên
nhiên ấy có màu sắc, có âm thanh, có chuyển động...và có cả cái
tình trong đó nữa. Nguyễn Ngọc Tư quả thật rất khéo khi trưng
bày trước mắt chúng ta những câu văn chân thật, sống động.
Điều đó làm cho người đọc có cảm giác câu chuyện hiện ra như
“những thước phim” trước mắt.
-Miêu tả nhân vật: Cậu bé Đức mới tí tuổi đầu nhưng không chỉ
tàn tật, mà còn mồ côi mồ cút. Lòng nó đầy tự ái khi người ta
nhìn nó như một kẻ tật nguyền. Nó cố gắng tỏ vẻ mạnh mẽ lên để
ông và mẹ vững lòng, nó tự xác định phải thay ba làm trụ cột
trong gia đình. Ý chí của nó không chịu khuất phục. Biết mình
không thể ra biển vật lộn cùng tấm lưới, cây câu, với đôi chân đã
quặt quẹo, teo ngắt, Đức đã cố gắng học thật giỏi. Câu nói của
cậu bé khiến ta thật cảm động: “Mai mốt con học thiệt giỏi cho
ngoại coi”. “Làm bác sĩ, con dứt khoát sẽ làm bác sĩ. Con sẽ về
xóm mình, để trích cho con nít bịnh”.Không chịu đầu hàng số
phận. Đức ráng sức phấn đấu để đứng lên từ chính đôi chân tật
nguyền, em mơ ước đem tài năng của mình để phục vụ quê
hương. Quả là một trái tim giàu nghị lực, một tấm lòng nhân hậu,
vị tha! Biết tha thứ, luôn hi vọng, gắng gượng vươn lên để vượt
thoát khỏi số phận cũng là những nét đẹp trong phẩm chất, tính
cách của con người Nam bộ nói riêng và của người dân Việt Nam
nói chung.Hay còn là một người ông đáng kính luôn hi sinh vì gia
đình, chăm sóc Đức và thậm chí bán chiếc xuống mà ông yêu
thích nhất chỉ để cho Đức được đi học.
+ Các BPNT: Để câu chuyện của mình không khô khan, trong
suốt quá trình kể, tác giả đã sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật
khác nhau để khắc họa thiên nhiên và con người Nam Bộ. Phép
liệt kê, phép so sánh được sử dụng nhiều hơn cả.
- Thông điệp:Thông qua tất cả những điều trên, Nhà văn đã làm
TT
1
2
nổi bật chủ đề về thiên nhiên và con người Nam Bộ. Tác giả đã
gửi vào tác phẩm những kí ức, những trải nghiệm của bản thân;
tác giả đã gửi vào đó những tình cảm sâu sắc với đất và người
miền Tây Nam tổ quốc.
d. Chính tả, dùng từ, đặt câu
0,25
Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.
e. Sáng tạo
0,25
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc, có cách diễn đạt mới mẻ về vấn đề
nghị luận.
ĐIỂM TOÀN BÀI THI : I + II = 10,00 điểm
MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ II (Năm học 2023 – 2024)
MÔN NGỮ VĂN – LỚP 10 (Thời gian làm bài: 90 phút)
% Tổng
Mức độ nhận thức
điểm
Kĩ
Nhận biết
Thông hiểu
Vận dụng
Vận dụng cao
năng
TNKQ TL TNKQ TL
TNKQ TL TNKQ TL
ĐỌC
HIỂU
VIẾT
Tỉ lệ %
Tỉ lệ chung
0
2.0
0
2.0
1.0
30
0
1.0
2.0
70
40
0
0.5
15
30
1.0
60
0.5
40
15
100
MA TRẬN ĐẶC TẢ YÊU CẦU CÁC KĨ NĂNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ MÔN NGỮ
VĂN CUỐI HỌC KÌ II – NĂM HỌC 2023 – 2024
1. Ma trận đặc tả yêu cầu các kĩ năng kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn cuối học kì II - lớp
10
Kĩ
năng
Đơn vị Mức độ đánh giá
kiến
thức
Số câu Thang Tỉ lệ
hỏi
điểm %
theo
mức độ
nhận
thức
2 câu
2.0
20%
Đọc
6,0
điểm
Văn
Nhận biết:
bản
- Nhận biết được nhân vật, cốt truyện, câu chuyện
truyện trong truyện.
- Nhận biết đề tài, bối cảnh, chi tiết tiêu biểu trong
truyện.
Thông hiểu:
2 câu
- Phân tích, lí giải được chủ đề, tư tưởng của tác
phẩm.
Tiếng Việt:
- Chỉ ra biện pháp tu từ chêm xen và liệt kê, nêu tác
2.0
20%
Viết
4,0
điểm
Nghị
luận
văn
học
dụng
Vận dụng:
- Nêu được ý nghĩa hay tác động của tác phẩm đối
với nhận thức, tình cảm, quan niệm của bản thân
Vận dụng cao:
- Vận dụng những hiểu biết về bối cảnh lịch sử - văn
hoá được thể hiện trong văn bản để lí giải ý nghĩa,
thông điệp của văn bản.
Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác
phẩm văn học theo các mức độ:
Nhận biết:
- Giới thiệu được đầy đủ thông tin chính về tên tác
phẩm, tác giả, thể loại, … của tác phẩm.
- Trình bày được những nội dung khái quát của tác
phẩm văn học.
Thông hiểu:
- Trình bày được những nội dung khái quát của tác
phẩm văn học;
- Triển khai vấn đề nghị luận thành những luận điểm
phù hợp.
- Phân tích được những đặc sắc về nội dung, hình
thức nghệ thuật và chủ đề của tác phẩm;
- Kết hợp được lí lẽ và dẫn chứng để tạo tính chặt
chẽ, logic của mỗi luận điểm;
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
Vận dụng:
- Nêu được những bài học rút ra từ tác phẩm;
- Thể hiện được sự đồng tình / không đồng tình với
thông điệp của tác giả (thể hiện trong tác phẩm);
- Có cách diễn đạt độc đáo, sáng tạo, hợp logic.
Vận dụng cao:
- Đánh giá được ý nghĩa, giá trị của nội dung và hình
thức tác phẩm;
- Thể hiện rõ quan điểm, cá tính trong bài viết;
- Vận dụng hiệu quả những kiến thức tiếng Việt lớp
10 để tăng tính thuyết phục, sức hấp dẫn cho bài viết.
Tổng
1 câu
1.0
10%
1 câu
1.0
10%
1.0
10%
2.0
20%
0.5
5%
0.5
5%
10.0
100%
1 câu
7 câu
 









Các ý kiến mới nhất