ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI THCS - THPT

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trịnh Thị Tú
Ngày gửi: 19h:03' 03-03-2026
Dung lượng: 309.6 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Trịnh Thị Tú
Ngày gửi: 19h:03' 03-03-2026
Dung lượng: 309.6 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
TUYỂN CHỌN BỘ ĐỀ LUYỆN THI HSG CHUYÊN SÂU THCS – THPT
MÔN: NGỮ VĂN
ĐỀ SỐ 1:
CHỦ ĐỀ: THƠ CA - LỜI TRI ÂN CUỘC ĐỜI
Đọc bài thơ sau và thực hiện yêu cầu:
TẠ
Ngày ra trận
Tóc tôi còn để chỏm
Nay trở về
Đầu đã hoa râm...
Sau cuộc trường chinh ba mươi năm
Quỳ rạp trán xuống đất làng
Con tạ...
Con tạ đất làng quê
Thấm đẫm máu bao anh hùng đã khuất
Không ngọn cỏ nào không long lanh nước mắt
Không lá cây nào không mặn chát gian lao!
Con tạ ơn cha
Đã yêu đằm thắm mẹ con
Con tạ ơn mẹ
Đã sinh con đúng lúc
Con tạ trời
Tạ đất
Đã mưa thuận gió hoà đêm mẹ lên giường sinh
Con tạ bà mụ vườn
Tạ lưỡi liềm cùn cắt rốn
Đã đỡ con ra đời
Vẹn toàn, sung sức...
Con tạ
Bát cơm nghèo mẹ con ăn
Con tạ
Câu dân ca mẹ con hát....
Tất cả thành sữa ngọt
Nuôi con ngày trứng nước...
Để hôm nay con được sống
Được lớn khôn...
Được chiến đấu hết mình
Vì tự do của Tổ Quốc
Được ca hát hết mình
Tổ Quốc thành thơ!
(Phùng Quán - Tạp chí Sông Hương,
số 28, T.11&12-1987)
Con tạ
Manh chiếu rách con nằm
* CHÚ THÍCH:
- Nhà thơ Phùng Quán (1932 -1995) quê ở Thừa Thiên –Huế. Phùng Quán có những tác
phẩm nổi tiếng ở nhiều thể loại: tiểu thuyết, bút kí, thơ, trường ca. Cuộc đời thăng trầm của
ông đã để lại những trang viết thấm đẫm máu lính trận và nhọc nhằn hơi thở mưu sinh.
Những bài thơ của ông như được chiết ra từ nỗi đau của quê hương trong chiến tranh cùng
sự lầm than của kiếp người nhưng vượt lên tất cả là tình yêu đất nước luôn bỏng cháy trong
trái tim của một cựu binh.
- “Tạ” là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Phùng Quán.
Câu 1 (8,0 điểm)
Bài thơ “Tạ” của Phùng Quán là lời cúi đầu sâu lắng trước những hi sinh thầm
lặng đã làm nên sự sống và tự do hôm nay.
Từ cảm hứng ấy, anh/chị hãy bàn luận về lối sống biết ơn trong xã hội hiện đại.
Câu 2 (12,0 điểm)
TRỊNH THỊ TÚ - PHAN NGỌC MAI – NGUYỄN PHƯƠNG ANH - 0383902079
Page 1
TUYỂN CHỌN BỘ ĐỀ LUYỆN THI HSG CHUYÊN SÂU THCS – THPT
MÔN: NGỮ VĂN
Nhà phê bình Chu Văn Sơn từng khẳng định: “Một trong những nhu cầu thuộc
về bản thể của thơ là nhu cầu thành thật. Thành, Thành hơn nữa, Thật, Thật hơn nữa
bao giờ cũng là cương lĩnh bất thành văn của thơ ca chân chính. Mà trong thơ trước hết
là thành thật với mình, thành thật với đời và thành thật với chính thơ”.
(Đa mang một cõi lòng không yên định, Chu Văn Sơn, NXB Hội Nhà Văn, 2021,
tr.107)
Anh/ Chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Làm rõ sự "thành thật với mình, thành thật với
đời và thành thật với chính thơ" của nhà thơ Phùng Quán qua bài thơ " Tạ".
------------------------ Hết----------------------HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
NỘI DUNG
Điểm
Câu 1. Bài thơ “Tạ” của Phùng Quán là lời cúi đầu sâu lắng trước những hi
sinh thầm lặng đã làm nên sự sống và tự do hôm nay.
8,0
Từ cảm hứng ấy, anh/chị hãy bàn luận về lối sống biết ơn trong xã hội hiện
đại.
DÀN BÀI CHI TIẾT
a. Mở bài:
Albert Schweitzer - nhà tư tưởng và bác sĩ nhân đạo từng nói:
“Đôi khi ánh sáng của chúng ta vụt tắt, nhưng chỉ cần một tia sáng từ người
khác cũng đủ thắp lại ngọn lửa trong ta.” Con người không lớn lên từ khoảng
không vô tận, mà được nuôi dưỡng bởi vô vàn hi sinh thầm lặng của đất trời, của
quê hương, của những con người đi trước. Bài thơ “Tạ” của Phùng Quán là
một lời cúi đầu sâu lắng như thế: cúi trước đất làng thấm máu anh hùng,
trước bát cơm nghèo, manh chiếu rách, câu dân ca ru lớn một đời người; cúi
trước cha mẹ, quê hương và Tổ quốc đã âm thầm làm nên sự sống và tự do
hôm nay. Từ cảm hứng nhân văn ấy, bài thơ không chỉ là tiếng nói tri ân của một
cựu binh sau ba mươi năm trường chinh, mà còn gợi mở một vấn đề có ý nghĩa
bền vững trong đời sống con người: lối sống biết ơn - giá trị đạo đức nền tảng
cần được gìn giữ và đánh thức trong xã hội hiện đại.
b. Thân bài:
1. Giải thích: Tài liệu của nhóm Sách chuyên Văn Huế - 0383902079
- Trước hết, bài thơ “Tạ” của Phùng Quán là một lời cúi đầu thành kính và sâu
lắng trước những hi sinh thầm lặng đã làm nên sự sống và tự do hôm nay. Đi
qua ba mươi năm chiến tranh, từ một cậu bé “tóc còn để chỏm” đến người lính
“đầu đã hoa râm”, nhân vật trữ tình trở về quê hương với tâm thế tri ân: tạ đất
làng thấm máu anh hùng, tạ cha mẹ, tạ bát cơm nghèo, manh chiếu rách, câu
dân ca nuôi dưỡng mình từ thuở “trứng nước”. Từ những giá trị lớn lao như Tổ
quốc, tự do đến những điều bình dị của đời sống, tất cả đều được nhìn bằng ánh
nhìn biết ơn, thấm đẫm ý thức về nguồn cội và trách nhiệm với quá khứ.
- Chính từ cảm hứng nhân văn ấy, bài thơ gợi mở một giá trị sống có ý nghĩa bền
vững: lối sống biết ơn. Biết ơn là thái độ trân trọng, ghi nhớ và ý thức đền đáp
những ân tình mà con người nhận được từ gia đình, quê hương, cộng đồng và
các thế hệ đi trước; không chỉ dừng lại ở lời cảm ơn, mà được thể hiện bằng
TRỊNH THỊ TÚ - PHAN NGỌC MAI – NGUYỄN PHƯƠNG ANH - 0383902079
Page 2
TUYỂN CHỌN BỘ ĐỀ LUYỆN THI HSG CHUYÊN SÂU THCS – THPT
MÔN: NGỮ VĂN
hành động, lối sống tử tế, có trách nhiệm.
=> Trong xã hội hiện đại nhiều biến động, lối sống biết ơn chính là nền tảng đạo
đức giúp con người không vô cảm với quá khứ, không thờ ơ với hiện tại và
sống nhân ái, bền vững hơn cho tương lai.
2. Bàn luận:
- Có thể khẳng định đây là một giá trị đạo đức cốt lõi, làm nên chiều sâu nhân
cách của mỗi con người và sức bền văn hóa của cả cộng đồng. Trước hết, biết
ơn giúp con người ý thức rõ nguồn cội, nhận ra rằng sự trưởng thành của bản
thân không phải kết quả của nỗ lực cá nhân đơn độc mà được tạo nên từ chuỗi
dài hi sinh âm thầm của gia đình, quê hương và xã hội. Khi con người biết cúi
đầu trước những điều đã nhận, họ sẽ sống khiêm nhường, chín chắn hơn, không
tự cao, không phủ nhận quá khứ. Từ đó, lòng biết ơn trở thành điểm tựa tinh
thần giúp con người đứng vững giữa những biến động của đời sống hiện đại.
- Không dừng lại ở ý nghĩa nhận thức, lối sống biết ơn còn có sức mạnh định
hướng hành động. Người biết ơn sẽ biết sống trách nhiệm, biết đền đáp bằng
những việc làm cụ thể: yêu thương cha mẹ, trân trọng những hi sinh của thầy cô,
biết giữ gìn hòa bình, bảo vệ Tổ quốc và chung tay xây dựng cộng đồng. Chính ý
thức “mắc nợ ân tình” ấy khiến con người sống nhân ái, vị tha, sẵn sàng cho đi
thay vì chỉ nhận về. Ở tầm rộng hơn, một xã hội được nâng đỡ bởi tinh thần biết
ơn sẽ là một xã hội gắn kết, bền vững, nơi các giá trị truyền thống không bị đứt
gãy trước làn sóng thực dụng và cá nhân chủ nghĩa.
- Tuy nhiên, trong thực tế, lối sống biết ơn đang đứng trước không ít thách thức.
Nhịp sống gấp gáp, sự đề cao hưởng thụ và cái tôi cá nhân khiến không ít người,
đặc biệt là giới trẻ, dễ rơi vào thái độ vô cảm, coi những hi sinh của người khác
là điều hiển nhiên. Có người sẵn sàng đòi hỏi quyền lợi nhưng lại quên bổn
phận, thờ ơ với lịch sử, lạnh nhạt với gia đình, thiếu trân trọng những giá trị giản
dị đã nuôi dưỡng mình. Những biểu hiện ấy không chỉ làm nghèo đi đời sống
tinh thần của cá nhân mà còn bào mòn nền tảng đạo đức của xã hội.
=> Biết ơn cần được nuôi dưỡng từ nhận thức đúng đắn, được rèn luyện qua
hành động thường ngày và được khẳng định bằng cách sống có trách nhiệm
với bản thân, với người khác và với đất nước. Lối sống biết ơn không phải là điều
gì cao xa, mà là cách con người đối diện với quá khứ, sống trọn vẹn trong
hiện tại và hướng đến tương lai bằng một tâm thế nhân văn, tử tế và sâu sắc.
3. Dẫn chứng: Trước hết, trong lịch sử dân tộc, ngày 27/7 - Ngày Thương binh
Liệt sĩ là biểu hiện rõ nét của đạo lí “uống nước nhớ nguồn”, khi cả xã hội
tưởng niệm và tri ân những con người đã hi sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Trong gia đình, lòng biết ơn thể hiện qua đạo hiếu: người con nỗ lực học tập,
sống tử tế, chăm sóc cha mẹ già như một cách đền đáp công sinh thành, dưỡng
dục. Ở nhà trường, truyền thống “tôn sư trọng đạo”, sự trân trọng và ghi nhớ
công ơn thầy cô chính là biểu hiện cụ thể của lối sống biết ơn. Bên cạnh đó, trong
xã hội hiện đại, nhiều bạn trẻ tham gia hoạt động tình nguyện, cống hiến cho
cộng đồng đã cho thấy cách biến lòng biết ơn thành hành động thiết thực.
Những dẫn chứng ấy khẳng định: biết ơn không phải lời nói suông, mà là giá trị
sống được thể hiện bằng việc làm cụ thể trong đời sống hằng ngày.
4. Phê phán - mở rộng:
TRỊNH THỊ TÚ - PHAN NGỌC MAI – NGUYỄN PHƯƠNG ANH - 0383902079
Page 3
TUYỂN CHỌN BỘ ĐỀ LUYỆN THI HSG CHUYÊN SÂU THCS – THPT
MÔN: NGỮ VĂN
- Bên cạnh những biểu hiện đẹp đẽ, cần phê phán những lối sống thiếu biết ơn,
thậm chí vô ơn, đang tồn tại trong xã hội hiện đại. Không ít người quen đón
nhận mà không ghi nhớ, coi sự hi sinh của cha mẹ, thầy cô, của các thế hệ đi
trước là điều hiển nhiên; từ đó sống ích kỉ, chỉ biết đòi hỏi quyền lợi mà quên
trách nhiệm. Đáng lo ngại hơn, có những bạn trẻ thờ ơ với lịch sử dân tộc, lạnh
nhạt với gia đình, dửng dưng trước những mất mát đã làm nên hòa bình hôm nay
- đó chính là biểu hiện của sự lệch chuẩn đạo đức và nghèo nàn đời sống tinh
thần.
- Trong một thế giới vận động nhanh, con người càng phải học cách sống chậm
để nhớ, cúi đầu để tri ân. Lòng biết ơn không khiến con người yếu đi, mà giúp
họ sống sâu sắc hơn, biết gắn kết quá khứ - hiện tại - tương lai trong một dòng
chảy nhân văn bền vững. Khi mỗi cá nhân biết nuôi dưỡng ý thức tri ân, xã hội
sẽ giảm bớt vô cảm, tăng thêm yêu thương và trách nhiệm. Chốt lại, phê phán để
cảnh tỉnh, mở rộng để định hướng: lối sống biết ơn không chỉ là chuẩn mực đạo
đức cần giữ gìn, mà còn là chìa khóa giúp con người hiện đại sống nhân ái, hài
hòa và bền vững.
5. Bài học - liên hệ: Từ việc nhận thức đúng đắn về lối sống biết ơn, người trẻ
hôm nay cần rút ra cho mình những bài học thiết thực trong nhận thức và hành
động. Trước hết, mỗi người trẻ cần học cách nhìn lại nguồn cội, ý thức rằng
những cơ hội học tập, hòa bình và phát triển mà mình đang có là thành quả của
bao hi sinh âm thầm từ gia đình, xã hội và các thế hệ đi trước. Từ đó, biết trân
trọng hiện tại, không sống thờ ơ, vô cảm hay chỉ mải mê hưởng thụ. Bên cạnh
nhận thức, lòng biết ơn cần được thể hiện bằng hành động cụ thể: sống hiếu
thảo với cha mẹ, kính trọng thầy cô, tử tế trong các mối quan hệ, có trách
nhiệm với cộng đồng và đất nước. Với người trẻ, biết ơn không chỉ là cúi đầu
trước quá khứ, mà còn là sự nỗ lực vươn lên, học tập, rèn luyện và cống hiến
như một cách trả ơn cuộc đời. Chốt lại, khi người trẻ biết nuôi dưỡng lòng biết
ơn trong từng suy nghĩ và việc làm, họ không chỉ hoàn thiện nhân cách cá nhân,
mà còn góp phần tạo nên một xã hội nhân văn, bền vững cho hôm nay và mai
sau.
c. Kết bài:
Khép lại dòng suy ngẫm về lối sống biết ơn, ta càng thấm thía lời
nhắn nhủ của Mahatma Gandhi: “Sự cao thượng nhất của con người nằm ở khả
năng biết ơn.” Như trong bài thơ “Tạ” của Phùng Quán, sau bao bão đạn và mất
mát, con người không ngẩng cao kiêu hãnh mà cúi đầu tri ân: tạ đất làng, tạ cha
mẹ, tạ những điều bé nhỏ đã làm nên sự sống và tự do. Chính lòng biết ơn ấy giúp
con người giữ được phần người sâu sắc nhất giữa những biến động của đời sống
hiện đại. Khi biết nhớ ơn quá khứ, trân trọng hiện tại và sống trách nhiệm với
tương lai, con người sẽ không lạc lối trong vòng xoáy ích kỉ và vô cảm. Lối sống
biết ơn, vì thế, không chỉ là một phẩm chất đạo đức đáng quý, mà còn là điểm
tựa tinh thần bền vững, giúp mỗi chúng ta sống nhân ái hơn, sâu sắc hơn và
xứng đáng hơn với những hi sinh đã làm nên cuộc đời mình.
Câu 2. ... Anh/ Chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Làm rõ sự "thành thật với
mình, thành thật với đời và thành thật với chính thơ" của nhà thơ Phùng 12,0
Quán qua bài thơ " Tạ"
TRỊNH THỊ TÚ - PHAN NGỌC MAI – NGUYỄN PHƯƠNG ANH - 0383902079
Page 4
TUYỂN CHỌN BỘ ĐỀ LUYỆN THI HSG CHUYÊN SÂU THCS – THPT
MÔN: NGỮ VĂN
DÀN BÀI CHI TIẾT
a. Mở bài:
Bàn về cội nguồn của thơ ca, Nguyễn Đình Thi từng có một hình
dung thật đẹp và cũng thật chính xác: “Đụng chạm với cuộc sống hằng ngày
tâm trạng nảy lên bao nhiêu hình ảnh như lúc búa đập vào sắt trên đe. Người
làm thơ lượm lặt những tia sáng ấy, kết thành một bó sáng. Đó là hình ảnh
thơ.” Thơ, vì thế, không sinh ra từ những cảm xúc vay mượn hay những ý tưởng
xa rời đời sống, mà được đánh thức từ chính những va đập thật nhất giữa con
người và cuộc đời. Chỉ khi người nghệ sĩ dám sống, dám đau, dám rung động
đến tận cùng, thơ mới có thể cất lên như một bó sáng của tâm hồn. Chính từ
quan niệm ấy, nhà phê bình Chu Văn Sơn đã khẳng: “Một trong những nhu cầu
thuộc về bản thể của thơ là nhu cầu thành thật. Thành, Thành hơn nữa, Thật,
Thật hơn nữa bao giờ cũng là cương lĩnh bất thành văn của thơ ca chân
chính. Mà trong thơ trước hết là thành thật với mình, thành thật với đời và
thành thật với chính thơ”. Nhận định ấy, khi soi chiếu vào bài thơ “Tạ” của
Phùng Quán - một cựu binh đi ra từ chiến tranh, trở về với mái đầu hoa râm và
trái tim nặng trĩu ân tình - càng trở nên thấm thía. Bằng giọng thơ mộc mạc mà
lắng sâu, “Tạ” không chỉ là lời tri ân đối với đất làng, cha mẹ, những điều bình
dị nuôi dưỡng sự sống, mà còn là minh chứng cảm động cho sự thành thật với
mình, thành thật với đời và thành thật với chính thơ của một hồn thơ đã sống
trọn vẹn giữa những va đập khốc liệt của lịch sử, đã đi qua nhiều mất mát để giữ
trọn vẹn niềm tin vào giá trị con người.
b. Thân bài:
1. Giải thích:
- Khi khẳng định: “Một trong những nhu cầu thuộc về bản thể của thơ là nhu
cầu thành thật”, Chu Văn Sơn đã chạm đến cốt lõi sâu xa nhất của thơ ca.
“Bản thể của thơ” chính là phần tồn tại nguyên sơ, nền tảng làm nên thơ với tư
cách là một hình thái nghệ thuật đặc thù - nơi cảm xúc, tư tưởng và nhân cách
người viết hòa làm một. Vì thế, “nhu cầu thành thật” không phải là một đòi hỏi
bên ngoài, mà là đòi hỏi tự thân, tất yếu, quyết định sự sống còn của thơ. Thơ
chỉ thực sự là thơ khi nó được viết ra từ cảm xúc chân thực, từ những rung động
không giả tạo, không vay mượn.
- Câu văn tiếp theo: “Thành, Thành hơn nữa, Thật, Thật hơn nữa” là một cách
nhấn mạnh giàu sức gợi. Sự lặp lại ấy cho thấy thành thật không có điểm dừng,
không cho phép thỏa hiệp hay nửa vời. Làm thơ không chỉ cần “thành” hay “thật”
ở mức độ vừa đủ, mà phải đi đến tận cùng của sự chân thành, dám đối diện với
chính mình và với hiện thực, dù đó là những điều gai góc, đau đớn hay mong
manh nhất. Chính vì vậy, Chu Văn Sơn gọi đó là “cương lĩnh bất thành văn của
thơ ca chân chính” - một nguyên tắc không cần ghi thành luật lệ, nhưng luôn
hiện diện như chuẩn mực đạo đức và thẩm mỹ của người cầm bút.
- Đặc biệt, nhà phê bình đã cụ thể hóa khái niệm “thành thật” thành ba bình diện
không thể tách rời. Trước hết là “thành thật với mình” – tức là người làm thơ
phải trung thực với cảm xúc, trải nghiệm và bản ngã của chính mình, không
né tránh, không tô hồng, cũng không tự lừa dối. Đó là sự dũng cảm nhìn thẳng
vào nỗi đau, niềm vui, những giới hạn và khát vọng của bản thân.
TRỊNH THỊ TÚ - PHAN NGỌC MAI – NGUYỄN PHƯƠNG ANH - 0383902079
Page 5
TUYỂN CHỌN BỘ ĐỀ LUYỆN THI HSG CHUYÊN SÂU THCS – THPT
MÔN: NGỮ VĂN
- Tiếp đến là “thành thật với đời” - nghĩa là thơ phải xuất phát từ đời sống
hiện thực, phản ánh cuộc sống trong chiều sâu nhân bản của nó, không
xuyên tạc, không lãng mạn hóa một cách giả tạo, cũng không quay lưng trước
những mất mát, bất công và đau thương của con người. Sự thành thật ấy giúp thơ
trở thành tiếng nói đồng cảm, sẻ chia với số phận con người.
- Cuối cùng, “thành thật với chính thơ” là yêu cầu mang tính nghệ thuật: người
viết phải tôn trọng bản chất của thơ, không lợi dụng thơ để minh họa tư tưởng
khô cứng, không biến thơ thành khẩu hiệu hay công cụ tuyên truyền đơn giản.
Thơ cần được viết đúng với tiếng nói tự nhiên của cảm xúc, với hình thức và
ngôn ngữ phù hợp với linh hồn của nó.
=> Như vậy, ý kiến của Chu Văn Sơn đã khẳng định: sự thành thật không chỉ
là phẩm chất đạo đức, mà còn là tiêu chuẩn thẩm mỹ cao nhất của thơ ca
chân chính. Chỉ khi người nghệ sĩ thành thật với mình - thành thật với đời thành thật với chính thơ, tác phẩm mới có thể chạm đến chiều sâu tâm hồn
người đọc và có sức sống bền lâu vượt qua thời gian.
2. Bàn luận: Có thể thấy, nhận định của Chu Văn Sơn là một ý kiến sâu sắc, xác
đáng và giàu giá trị định hướng đối với cả hoạt động sáng tác lẫn tiếp nhận thơ
ca. Trong lịch sử văn học, những tác phẩm có sức sống bền bỉ thường không phải
là những bài thơ được trau chuốt cầu kỳ về hình thức, mà là những thi phẩm được
viết ra từ sự thành thật đến tận cùng của cảm xúc. Khi thơ được sinh thành từ
trải nghiệm sống thực, từ những va đập dữ dội giữa con người và đời sống, nó
mang trong mình một độ tin cậy cảm xúc, khiến người đọc không chỉ hiểu mà
còn tin và đồng cảm.
- Trước hết, nhận định đã chỉ ra một chân lý quan trọng: thiếu sự thành thật, thơ
sẽ mất đi linh hồn. Thơ ca vốn là tiếng nói của cảm xúc, mà cảm xúc giả tạo thì
không thể tạo nên rung động thật. Những câu thơ được viết ra chỉ để phô diễn kỹ
thuật, chạy theo thị hiếu hay phục vụ mục đích minh họa tư tưởng thường nhanh
chóng rơi vào quên lãng. Ngược lại, khi người nghệ sĩ dám sống thật và viết
thật, thơ trở thành nơi con người đối thoại với chính mình và với tha nhân, từ đó
mở ra khả năng sẻ chia sâu xa.
- Hơn nữa, việc Chu Văn Sơn nhấn mạnh ba tầng “thành thật với mình - thành
thật với đời - thành thật với chính thơ” cho thấy cái nhìn toàn diện về bản chất
sáng tạo nghệ thuật. Thành thật với mình giúp nhà thơ giữ được tiếng nói riêng,
tránh rơi vào lối mòn hoặc sao chép cảm xúc của người khác. Thành thật với đời
khiến thơ gắn bó mật thiết với hiện thực, trở thành tấm gương phản chiếu số phận
con người trong những hoàn cảnh cụ thể. Còn thành thật với chính thơ là biểu
hiện của trách nhiệm nghệ thuật, giúp thơ giữ được bản sắc, không bị biến thành
khẩu hiệu hay công cụ minh họa khô cứng.
- Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng thành thật trong thơ không đồng nghĩa với sự
kể lể trần trụi hay sao chép nguyên xi đời sống. Sự thành thật mà Chu Văn Sơn
đề cao luôn gắn với sự chưng cất nghệ thuật, với khả năng chọn lọc, khái quát
và biểu đạt bằng ngôn ngữ giàu sức gợi. Chính quá trình sáng tạo ấy giúp cảm
xúc cá nhân vượt lên trên cái riêng tư, để chạm đến những giá trị phổ quát của
con người. Nói cách khác, thơ vừa cần thành thật, vừa cần nghệ thuật; thiếu một
trong hai, tác phẩm khó có thể đạt tới chiều sâu bền vững.
TRỊNH THỊ TÚ - PHAN NGỌC MAI – NGUYỄN PHƯƠNG ANH - 0383902079
Page 6
TUYỂN CHỌN BỘ ĐỀ LUYỆN THI HSG CHUYÊN SÂU THCS – THPT
MÔN: NGỮ VĂN
- Trong bối cảnh đời sống hiện đại với nhiều biến động, khi con người dễ bị cuốn
vào nhịp sống gấp gáp và những cảm xúc hời hợt, nhận định của Chu Văn Sơn
càng mang ý nghĩa thời sự. Nó nhắc nhở người cầm bút phải giữ gìn sự trung
thực nội tâm, không đánh mất mình trước sức ép của thị trường hay những chuẩn
mực bề nổi. Đồng thời, người đọc cũng cần một thái độ tiếp nhận tỉnh táo, biết
trân trọng những tác phẩm viết bằng tâm thế thành thật, thay vì chỉ chạy theo vẻ
hào nhoáng hình thức.
=> Nhận định của Chu Văn Sơn không chỉ là lời khẳng định về bản chất của thơ
ca, mà còn là một thước đo giá trị: thơ chân chính là thơ được viết bằng sự
thành thật đến tận cùng, nơi con người dám sống, dám đau và dám nói lên sự
thật của mình và của đời. Chính từ đó, thơ mới có thể trở thành tiếng nói bền bỉ,
có khả năng lay động và soi sáng tâm hồn con người qua thời gian.
3. Phân tích tác phẩm “ Tạ” để làm rõ vấn đề:
3.1. VỀ NỘI DUNG: “ Tạ” chính là tiếng lòng thành thật, đó là sự “ thành
thật với mình, thành thật với đời và thành thật với chính thơ" của nhà thơ
Phùng Quán:
- Khổ thơ mở đầu: Thành thật với mình - đối diện thời gian và thân phận:
“Ngày ra trận
Tóc tôi còn để chỏm
Nay trở về
Đầu đã hoa râm…”
Ngay từ những câu thơ đầu tiên, Phùng Quán đã lựa chọn một giọng điệu điềm
tĩnh, không tô vẽ, để kể về hành trình đời mình. Hình ảnh đối lập giữa “tóc còn
để chỏm” và “đầu đã hoa râm” là cách nói ngắn gọn mà đau đáu, gói trọn ba
mươi năm chiến tranh trong dấu vết thời gian in hằn lên cơ thể. Nhà thơ không
kể công, không tự hào về chiến tích, mà chỉ thành thật ghi lại sự đổi thay của
chính mình. Ở đây, sự thành thật với mình chính là dám nhìn thẳng vào cái giá
của chiến tranh: tuổi trẻ đã đi qua, đời người đã hao mòn. Thơ không lên gân bi
tráng, càng không bi lụy, mà lặng lẽ để sự thật của đời người tự cất tiếng.
- Khổ thơ thứ hai: Thành thật với mình và với đời - tư thế cúi xuống của cái
tôi trữ tình:
“Sau cuộc trường chinh ba mươi năm
Quỳ rạp trán xuống đất làng
Con tạ…”
Nếu ở khổ đầu là sự thành thật trong nhận thức về thời gian, thì đến đây là sự
thành thật trong tư thế sống. Hành động “quỳ rạp trán xuống đất làng” là một
cử chỉ giàu tính biểu tượng: người lính trở về không đứng cao hơn quê hương,
không đặt mình vào vị thế của kẻ chiến thắng, mà cúi xuống để tri ân. Động từ
“quỳ rạp” cho thấy mức độ khiêm nhường tuyệt đối, tự nguyện hạ thấp cái tôi cá
nhân. Đây là sự thành thật sâu sắc với bản thân: nhận ra mình chỉ là một phần
nhỏ bé được nuôi dưỡng bởi đất làng, đồng thời cũng là sự thành thật với đời đời sống không chỉ được làm nên bởi chiến công, mà bởi cội nguồn âm thầm.
- Khổ thơ thứ ba: Thành thật với đời - nhìn thẳng vào mất mát của chiến
tranh:
TRỊNH THỊ TÚ - PHAN NGỌC MAI – NGUYỄN PHƯƠNG ANH - 0383902079
Page 7
TUYỂN CHỌN BỘ ĐỀ LUYỆN THI HSG CHUYÊN SÂU THCS – THPT
MÔN: NGỮ VĂN
“Con tạ đất làng quê
Thấm đẫm máu bao anh hùng đã khuất
Không ngọn cỏ nào không long lanh nước mắt
Không lá cây nào không mặn chát gian lao!”
Ở khổ thơ này, Phùng Quán thể hiện một cái nhìn trực diện, không né tránh về
hiện thực chiến tranh. Đất làng không còn là hình ảnh yên bình, mà là nơi “thấm
đẫm máu”, nơi mỗi “ngọn cỏ”, “lá cây” đều mang ký ức đau thương. Việc sử
dụng cấu trúc phủ định “không… nào không” là cách nhấn mạnh mức độ toàn
diện và triệt để của đau khổ. Đây là sự thành thật với đời ở mức cao nhất: nhà
thơ không che giấu cái giá của tự do, không biến chiến tranh thành bức tranh
lãng mạn. Thơ trở thành lời chứng cho lịch sử, cho nỗi đau của những con người
đã ngã xuống.
- Khổ thơ tiếp theo: Thành thật với đời sống nguồn cội – tri ân sự sinh
thành:
“Con tạ ơn cha…
Con tạ ơn mẹ…
Con tạ trời
Tạ đất…”
Chuỗi lời “tạ” được mở rộng từ đất làng đến cha mẹ, trời đất, tạo nên một vòng
tròn ân nghĩa. Phùng Quán không lý tưởng hóa sự sinh thành, mà kể lại nó bằng
những chi tiết rất đời: mưa thuận gió hòa đêm mẹ lên giường sinh. Sự thành
thật ở đây nằm ở cách nhà thơ nhìn nhận sự sống như một ân huệ mong manh,
phụ thuộc vào bao điều nhỏ bé của tự nhiên và con người. Không có lời lẽ mỹ
miều, chỉ có ý thức sâu sắc về sự nương nhờ.
- Khổ thơ về bà mụ, lưỡi liềm cùn: Thành thật đến tận cùng với đời sống
nghèo khó:
“Con tạ bà mụ vườn
Tạ lưỡi liềm cùn cắt rốn…”
Những hình ảnh thô mộc, dân dã như “bà mụ vườn”, “lưỡi liềm cù
MÔN: NGỮ VĂN
ĐỀ SỐ 1:
CHỦ ĐỀ: THƠ CA - LỜI TRI ÂN CUỘC ĐỜI
Đọc bài thơ sau và thực hiện yêu cầu:
TẠ
Ngày ra trận
Tóc tôi còn để chỏm
Nay trở về
Đầu đã hoa râm...
Sau cuộc trường chinh ba mươi năm
Quỳ rạp trán xuống đất làng
Con tạ...
Con tạ đất làng quê
Thấm đẫm máu bao anh hùng đã khuất
Không ngọn cỏ nào không long lanh nước mắt
Không lá cây nào không mặn chát gian lao!
Con tạ ơn cha
Đã yêu đằm thắm mẹ con
Con tạ ơn mẹ
Đã sinh con đúng lúc
Con tạ trời
Tạ đất
Đã mưa thuận gió hoà đêm mẹ lên giường sinh
Con tạ bà mụ vườn
Tạ lưỡi liềm cùn cắt rốn
Đã đỡ con ra đời
Vẹn toàn, sung sức...
Con tạ
Bát cơm nghèo mẹ con ăn
Con tạ
Câu dân ca mẹ con hát....
Tất cả thành sữa ngọt
Nuôi con ngày trứng nước...
Để hôm nay con được sống
Được lớn khôn...
Được chiến đấu hết mình
Vì tự do của Tổ Quốc
Được ca hát hết mình
Tổ Quốc thành thơ!
(Phùng Quán - Tạp chí Sông Hương,
số 28, T.11&12-1987)
Con tạ
Manh chiếu rách con nằm
* CHÚ THÍCH:
- Nhà thơ Phùng Quán (1932 -1995) quê ở Thừa Thiên –Huế. Phùng Quán có những tác
phẩm nổi tiếng ở nhiều thể loại: tiểu thuyết, bút kí, thơ, trường ca. Cuộc đời thăng trầm của
ông đã để lại những trang viết thấm đẫm máu lính trận và nhọc nhằn hơi thở mưu sinh.
Những bài thơ của ông như được chiết ra từ nỗi đau của quê hương trong chiến tranh cùng
sự lầm than của kiếp người nhưng vượt lên tất cả là tình yêu đất nước luôn bỏng cháy trong
trái tim của một cựu binh.
- “Tạ” là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Phùng Quán.
Câu 1 (8,0 điểm)
Bài thơ “Tạ” của Phùng Quán là lời cúi đầu sâu lắng trước những hi sinh thầm
lặng đã làm nên sự sống và tự do hôm nay.
Từ cảm hứng ấy, anh/chị hãy bàn luận về lối sống biết ơn trong xã hội hiện đại.
Câu 2 (12,0 điểm)
TRỊNH THỊ TÚ - PHAN NGỌC MAI – NGUYỄN PHƯƠNG ANH - 0383902079
Page 1
TUYỂN CHỌN BỘ ĐỀ LUYỆN THI HSG CHUYÊN SÂU THCS – THPT
MÔN: NGỮ VĂN
Nhà phê bình Chu Văn Sơn từng khẳng định: “Một trong những nhu cầu thuộc
về bản thể của thơ là nhu cầu thành thật. Thành, Thành hơn nữa, Thật, Thật hơn nữa
bao giờ cũng là cương lĩnh bất thành văn của thơ ca chân chính. Mà trong thơ trước hết
là thành thật với mình, thành thật với đời và thành thật với chính thơ”.
(Đa mang một cõi lòng không yên định, Chu Văn Sơn, NXB Hội Nhà Văn, 2021,
tr.107)
Anh/ Chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Làm rõ sự "thành thật với mình, thành thật với
đời và thành thật với chính thơ" của nhà thơ Phùng Quán qua bài thơ " Tạ".
------------------------ Hết----------------------HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
NỘI DUNG
Điểm
Câu 1. Bài thơ “Tạ” của Phùng Quán là lời cúi đầu sâu lắng trước những hi
sinh thầm lặng đã làm nên sự sống và tự do hôm nay.
8,0
Từ cảm hứng ấy, anh/chị hãy bàn luận về lối sống biết ơn trong xã hội hiện
đại.
DÀN BÀI CHI TIẾT
a. Mở bài:
Albert Schweitzer - nhà tư tưởng và bác sĩ nhân đạo từng nói:
“Đôi khi ánh sáng của chúng ta vụt tắt, nhưng chỉ cần một tia sáng từ người
khác cũng đủ thắp lại ngọn lửa trong ta.” Con người không lớn lên từ khoảng
không vô tận, mà được nuôi dưỡng bởi vô vàn hi sinh thầm lặng của đất trời, của
quê hương, của những con người đi trước. Bài thơ “Tạ” của Phùng Quán là
một lời cúi đầu sâu lắng như thế: cúi trước đất làng thấm máu anh hùng,
trước bát cơm nghèo, manh chiếu rách, câu dân ca ru lớn một đời người; cúi
trước cha mẹ, quê hương và Tổ quốc đã âm thầm làm nên sự sống và tự do
hôm nay. Từ cảm hứng nhân văn ấy, bài thơ không chỉ là tiếng nói tri ân của một
cựu binh sau ba mươi năm trường chinh, mà còn gợi mở một vấn đề có ý nghĩa
bền vững trong đời sống con người: lối sống biết ơn - giá trị đạo đức nền tảng
cần được gìn giữ và đánh thức trong xã hội hiện đại.
b. Thân bài:
1. Giải thích: Tài liệu của nhóm Sách chuyên Văn Huế - 0383902079
- Trước hết, bài thơ “Tạ” của Phùng Quán là một lời cúi đầu thành kính và sâu
lắng trước những hi sinh thầm lặng đã làm nên sự sống và tự do hôm nay. Đi
qua ba mươi năm chiến tranh, từ một cậu bé “tóc còn để chỏm” đến người lính
“đầu đã hoa râm”, nhân vật trữ tình trở về quê hương với tâm thế tri ân: tạ đất
làng thấm máu anh hùng, tạ cha mẹ, tạ bát cơm nghèo, manh chiếu rách, câu
dân ca nuôi dưỡng mình từ thuở “trứng nước”. Từ những giá trị lớn lao như Tổ
quốc, tự do đến những điều bình dị của đời sống, tất cả đều được nhìn bằng ánh
nhìn biết ơn, thấm đẫm ý thức về nguồn cội và trách nhiệm với quá khứ.
- Chính từ cảm hứng nhân văn ấy, bài thơ gợi mở một giá trị sống có ý nghĩa bền
vững: lối sống biết ơn. Biết ơn là thái độ trân trọng, ghi nhớ và ý thức đền đáp
những ân tình mà con người nhận được từ gia đình, quê hương, cộng đồng và
các thế hệ đi trước; không chỉ dừng lại ở lời cảm ơn, mà được thể hiện bằng
TRỊNH THỊ TÚ - PHAN NGỌC MAI – NGUYỄN PHƯƠNG ANH - 0383902079
Page 2
TUYỂN CHỌN BỘ ĐỀ LUYỆN THI HSG CHUYÊN SÂU THCS – THPT
MÔN: NGỮ VĂN
hành động, lối sống tử tế, có trách nhiệm.
=> Trong xã hội hiện đại nhiều biến động, lối sống biết ơn chính là nền tảng đạo
đức giúp con người không vô cảm với quá khứ, không thờ ơ với hiện tại và
sống nhân ái, bền vững hơn cho tương lai.
2. Bàn luận:
- Có thể khẳng định đây là một giá trị đạo đức cốt lõi, làm nên chiều sâu nhân
cách của mỗi con người và sức bền văn hóa của cả cộng đồng. Trước hết, biết
ơn giúp con người ý thức rõ nguồn cội, nhận ra rằng sự trưởng thành của bản
thân không phải kết quả của nỗ lực cá nhân đơn độc mà được tạo nên từ chuỗi
dài hi sinh âm thầm của gia đình, quê hương và xã hội. Khi con người biết cúi
đầu trước những điều đã nhận, họ sẽ sống khiêm nhường, chín chắn hơn, không
tự cao, không phủ nhận quá khứ. Từ đó, lòng biết ơn trở thành điểm tựa tinh
thần giúp con người đứng vững giữa những biến động của đời sống hiện đại.
- Không dừng lại ở ý nghĩa nhận thức, lối sống biết ơn còn có sức mạnh định
hướng hành động. Người biết ơn sẽ biết sống trách nhiệm, biết đền đáp bằng
những việc làm cụ thể: yêu thương cha mẹ, trân trọng những hi sinh của thầy cô,
biết giữ gìn hòa bình, bảo vệ Tổ quốc và chung tay xây dựng cộng đồng. Chính ý
thức “mắc nợ ân tình” ấy khiến con người sống nhân ái, vị tha, sẵn sàng cho đi
thay vì chỉ nhận về. Ở tầm rộng hơn, một xã hội được nâng đỡ bởi tinh thần biết
ơn sẽ là một xã hội gắn kết, bền vững, nơi các giá trị truyền thống không bị đứt
gãy trước làn sóng thực dụng và cá nhân chủ nghĩa.
- Tuy nhiên, trong thực tế, lối sống biết ơn đang đứng trước không ít thách thức.
Nhịp sống gấp gáp, sự đề cao hưởng thụ và cái tôi cá nhân khiến không ít người,
đặc biệt là giới trẻ, dễ rơi vào thái độ vô cảm, coi những hi sinh của người khác
là điều hiển nhiên. Có người sẵn sàng đòi hỏi quyền lợi nhưng lại quên bổn
phận, thờ ơ với lịch sử, lạnh nhạt với gia đình, thiếu trân trọng những giá trị giản
dị đã nuôi dưỡng mình. Những biểu hiện ấy không chỉ làm nghèo đi đời sống
tinh thần của cá nhân mà còn bào mòn nền tảng đạo đức của xã hội.
=> Biết ơn cần được nuôi dưỡng từ nhận thức đúng đắn, được rèn luyện qua
hành động thường ngày và được khẳng định bằng cách sống có trách nhiệm
với bản thân, với người khác và với đất nước. Lối sống biết ơn không phải là điều
gì cao xa, mà là cách con người đối diện với quá khứ, sống trọn vẹn trong
hiện tại và hướng đến tương lai bằng một tâm thế nhân văn, tử tế và sâu sắc.
3. Dẫn chứng: Trước hết, trong lịch sử dân tộc, ngày 27/7 - Ngày Thương binh
Liệt sĩ là biểu hiện rõ nét của đạo lí “uống nước nhớ nguồn”, khi cả xã hội
tưởng niệm và tri ân những con người đã hi sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Trong gia đình, lòng biết ơn thể hiện qua đạo hiếu: người con nỗ lực học tập,
sống tử tế, chăm sóc cha mẹ già như một cách đền đáp công sinh thành, dưỡng
dục. Ở nhà trường, truyền thống “tôn sư trọng đạo”, sự trân trọng và ghi nhớ
công ơn thầy cô chính là biểu hiện cụ thể của lối sống biết ơn. Bên cạnh đó, trong
xã hội hiện đại, nhiều bạn trẻ tham gia hoạt động tình nguyện, cống hiến cho
cộng đồng đã cho thấy cách biến lòng biết ơn thành hành động thiết thực.
Những dẫn chứng ấy khẳng định: biết ơn không phải lời nói suông, mà là giá trị
sống được thể hiện bằng việc làm cụ thể trong đời sống hằng ngày.
4. Phê phán - mở rộng:
TRỊNH THỊ TÚ - PHAN NGỌC MAI – NGUYỄN PHƯƠNG ANH - 0383902079
Page 3
TUYỂN CHỌN BỘ ĐỀ LUYỆN THI HSG CHUYÊN SÂU THCS – THPT
MÔN: NGỮ VĂN
- Bên cạnh những biểu hiện đẹp đẽ, cần phê phán những lối sống thiếu biết ơn,
thậm chí vô ơn, đang tồn tại trong xã hội hiện đại. Không ít người quen đón
nhận mà không ghi nhớ, coi sự hi sinh của cha mẹ, thầy cô, của các thế hệ đi
trước là điều hiển nhiên; từ đó sống ích kỉ, chỉ biết đòi hỏi quyền lợi mà quên
trách nhiệm. Đáng lo ngại hơn, có những bạn trẻ thờ ơ với lịch sử dân tộc, lạnh
nhạt với gia đình, dửng dưng trước những mất mát đã làm nên hòa bình hôm nay
- đó chính là biểu hiện của sự lệch chuẩn đạo đức và nghèo nàn đời sống tinh
thần.
- Trong một thế giới vận động nhanh, con người càng phải học cách sống chậm
để nhớ, cúi đầu để tri ân. Lòng biết ơn không khiến con người yếu đi, mà giúp
họ sống sâu sắc hơn, biết gắn kết quá khứ - hiện tại - tương lai trong một dòng
chảy nhân văn bền vững. Khi mỗi cá nhân biết nuôi dưỡng ý thức tri ân, xã hội
sẽ giảm bớt vô cảm, tăng thêm yêu thương và trách nhiệm. Chốt lại, phê phán để
cảnh tỉnh, mở rộng để định hướng: lối sống biết ơn không chỉ là chuẩn mực đạo
đức cần giữ gìn, mà còn là chìa khóa giúp con người hiện đại sống nhân ái, hài
hòa và bền vững.
5. Bài học - liên hệ: Từ việc nhận thức đúng đắn về lối sống biết ơn, người trẻ
hôm nay cần rút ra cho mình những bài học thiết thực trong nhận thức và hành
động. Trước hết, mỗi người trẻ cần học cách nhìn lại nguồn cội, ý thức rằng
những cơ hội học tập, hòa bình và phát triển mà mình đang có là thành quả của
bao hi sinh âm thầm từ gia đình, xã hội và các thế hệ đi trước. Từ đó, biết trân
trọng hiện tại, không sống thờ ơ, vô cảm hay chỉ mải mê hưởng thụ. Bên cạnh
nhận thức, lòng biết ơn cần được thể hiện bằng hành động cụ thể: sống hiếu
thảo với cha mẹ, kính trọng thầy cô, tử tế trong các mối quan hệ, có trách
nhiệm với cộng đồng và đất nước. Với người trẻ, biết ơn không chỉ là cúi đầu
trước quá khứ, mà còn là sự nỗ lực vươn lên, học tập, rèn luyện và cống hiến
như một cách trả ơn cuộc đời. Chốt lại, khi người trẻ biết nuôi dưỡng lòng biết
ơn trong từng suy nghĩ và việc làm, họ không chỉ hoàn thiện nhân cách cá nhân,
mà còn góp phần tạo nên một xã hội nhân văn, bền vững cho hôm nay và mai
sau.
c. Kết bài:
Khép lại dòng suy ngẫm về lối sống biết ơn, ta càng thấm thía lời
nhắn nhủ của Mahatma Gandhi: “Sự cao thượng nhất của con người nằm ở khả
năng biết ơn.” Như trong bài thơ “Tạ” của Phùng Quán, sau bao bão đạn và mất
mát, con người không ngẩng cao kiêu hãnh mà cúi đầu tri ân: tạ đất làng, tạ cha
mẹ, tạ những điều bé nhỏ đã làm nên sự sống và tự do. Chính lòng biết ơn ấy giúp
con người giữ được phần người sâu sắc nhất giữa những biến động của đời sống
hiện đại. Khi biết nhớ ơn quá khứ, trân trọng hiện tại và sống trách nhiệm với
tương lai, con người sẽ không lạc lối trong vòng xoáy ích kỉ và vô cảm. Lối sống
biết ơn, vì thế, không chỉ là một phẩm chất đạo đức đáng quý, mà còn là điểm
tựa tinh thần bền vững, giúp mỗi chúng ta sống nhân ái hơn, sâu sắc hơn và
xứng đáng hơn với những hi sinh đã làm nên cuộc đời mình.
Câu 2. ... Anh/ Chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Làm rõ sự "thành thật với
mình, thành thật với đời và thành thật với chính thơ" của nhà thơ Phùng 12,0
Quán qua bài thơ " Tạ"
TRỊNH THỊ TÚ - PHAN NGỌC MAI – NGUYỄN PHƯƠNG ANH - 0383902079
Page 4
TUYỂN CHỌN BỘ ĐỀ LUYỆN THI HSG CHUYÊN SÂU THCS – THPT
MÔN: NGỮ VĂN
DÀN BÀI CHI TIẾT
a. Mở bài:
Bàn về cội nguồn của thơ ca, Nguyễn Đình Thi từng có một hình
dung thật đẹp và cũng thật chính xác: “Đụng chạm với cuộc sống hằng ngày
tâm trạng nảy lên bao nhiêu hình ảnh như lúc búa đập vào sắt trên đe. Người
làm thơ lượm lặt những tia sáng ấy, kết thành một bó sáng. Đó là hình ảnh
thơ.” Thơ, vì thế, không sinh ra từ những cảm xúc vay mượn hay những ý tưởng
xa rời đời sống, mà được đánh thức từ chính những va đập thật nhất giữa con
người và cuộc đời. Chỉ khi người nghệ sĩ dám sống, dám đau, dám rung động
đến tận cùng, thơ mới có thể cất lên như một bó sáng của tâm hồn. Chính từ
quan niệm ấy, nhà phê bình Chu Văn Sơn đã khẳng: “Một trong những nhu cầu
thuộc về bản thể của thơ là nhu cầu thành thật. Thành, Thành hơn nữa, Thật,
Thật hơn nữa bao giờ cũng là cương lĩnh bất thành văn của thơ ca chân
chính. Mà trong thơ trước hết là thành thật với mình, thành thật với đời và
thành thật với chính thơ”. Nhận định ấy, khi soi chiếu vào bài thơ “Tạ” của
Phùng Quán - một cựu binh đi ra từ chiến tranh, trở về với mái đầu hoa râm và
trái tim nặng trĩu ân tình - càng trở nên thấm thía. Bằng giọng thơ mộc mạc mà
lắng sâu, “Tạ” không chỉ là lời tri ân đối với đất làng, cha mẹ, những điều bình
dị nuôi dưỡng sự sống, mà còn là minh chứng cảm động cho sự thành thật với
mình, thành thật với đời và thành thật với chính thơ của một hồn thơ đã sống
trọn vẹn giữa những va đập khốc liệt của lịch sử, đã đi qua nhiều mất mát để giữ
trọn vẹn niềm tin vào giá trị con người.
b. Thân bài:
1. Giải thích:
- Khi khẳng định: “Một trong những nhu cầu thuộc về bản thể của thơ là nhu
cầu thành thật”, Chu Văn Sơn đã chạm đến cốt lõi sâu xa nhất của thơ ca.
“Bản thể của thơ” chính là phần tồn tại nguyên sơ, nền tảng làm nên thơ với tư
cách là một hình thái nghệ thuật đặc thù - nơi cảm xúc, tư tưởng và nhân cách
người viết hòa làm một. Vì thế, “nhu cầu thành thật” không phải là một đòi hỏi
bên ngoài, mà là đòi hỏi tự thân, tất yếu, quyết định sự sống còn của thơ. Thơ
chỉ thực sự là thơ khi nó được viết ra từ cảm xúc chân thực, từ những rung động
không giả tạo, không vay mượn.
- Câu văn tiếp theo: “Thành, Thành hơn nữa, Thật, Thật hơn nữa” là một cách
nhấn mạnh giàu sức gợi. Sự lặp lại ấy cho thấy thành thật không có điểm dừng,
không cho phép thỏa hiệp hay nửa vời. Làm thơ không chỉ cần “thành” hay “thật”
ở mức độ vừa đủ, mà phải đi đến tận cùng của sự chân thành, dám đối diện với
chính mình và với hiện thực, dù đó là những điều gai góc, đau đớn hay mong
manh nhất. Chính vì vậy, Chu Văn Sơn gọi đó là “cương lĩnh bất thành văn của
thơ ca chân chính” - một nguyên tắc không cần ghi thành luật lệ, nhưng luôn
hiện diện như chuẩn mực đạo đức và thẩm mỹ của người cầm bút.
- Đặc biệt, nhà phê bình đã cụ thể hóa khái niệm “thành thật” thành ba bình diện
không thể tách rời. Trước hết là “thành thật với mình” – tức là người làm thơ
phải trung thực với cảm xúc, trải nghiệm và bản ngã của chính mình, không
né tránh, không tô hồng, cũng không tự lừa dối. Đó là sự dũng cảm nhìn thẳng
vào nỗi đau, niềm vui, những giới hạn và khát vọng của bản thân.
TRỊNH THỊ TÚ - PHAN NGỌC MAI – NGUYỄN PHƯƠNG ANH - 0383902079
Page 5
TUYỂN CHỌN BỘ ĐỀ LUYỆN THI HSG CHUYÊN SÂU THCS – THPT
MÔN: NGỮ VĂN
- Tiếp đến là “thành thật với đời” - nghĩa là thơ phải xuất phát từ đời sống
hiện thực, phản ánh cuộc sống trong chiều sâu nhân bản của nó, không
xuyên tạc, không lãng mạn hóa một cách giả tạo, cũng không quay lưng trước
những mất mát, bất công và đau thương của con người. Sự thành thật ấy giúp thơ
trở thành tiếng nói đồng cảm, sẻ chia với số phận con người.
- Cuối cùng, “thành thật với chính thơ” là yêu cầu mang tính nghệ thuật: người
viết phải tôn trọng bản chất của thơ, không lợi dụng thơ để minh họa tư tưởng
khô cứng, không biến thơ thành khẩu hiệu hay công cụ tuyên truyền đơn giản.
Thơ cần được viết đúng với tiếng nói tự nhiên của cảm xúc, với hình thức và
ngôn ngữ phù hợp với linh hồn của nó.
=> Như vậy, ý kiến của Chu Văn Sơn đã khẳng định: sự thành thật không chỉ
là phẩm chất đạo đức, mà còn là tiêu chuẩn thẩm mỹ cao nhất của thơ ca
chân chính. Chỉ khi người nghệ sĩ thành thật với mình - thành thật với đời thành thật với chính thơ, tác phẩm mới có thể chạm đến chiều sâu tâm hồn
người đọc và có sức sống bền lâu vượt qua thời gian.
2. Bàn luận: Có thể thấy, nhận định của Chu Văn Sơn là một ý kiến sâu sắc, xác
đáng và giàu giá trị định hướng đối với cả hoạt động sáng tác lẫn tiếp nhận thơ
ca. Trong lịch sử văn học, những tác phẩm có sức sống bền bỉ thường không phải
là những bài thơ được trau chuốt cầu kỳ về hình thức, mà là những thi phẩm được
viết ra từ sự thành thật đến tận cùng của cảm xúc. Khi thơ được sinh thành từ
trải nghiệm sống thực, từ những va đập dữ dội giữa con người và đời sống, nó
mang trong mình một độ tin cậy cảm xúc, khiến người đọc không chỉ hiểu mà
còn tin và đồng cảm.
- Trước hết, nhận định đã chỉ ra một chân lý quan trọng: thiếu sự thành thật, thơ
sẽ mất đi linh hồn. Thơ ca vốn là tiếng nói của cảm xúc, mà cảm xúc giả tạo thì
không thể tạo nên rung động thật. Những câu thơ được viết ra chỉ để phô diễn kỹ
thuật, chạy theo thị hiếu hay phục vụ mục đích minh họa tư tưởng thường nhanh
chóng rơi vào quên lãng. Ngược lại, khi người nghệ sĩ dám sống thật và viết
thật, thơ trở thành nơi con người đối thoại với chính mình và với tha nhân, từ đó
mở ra khả năng sẻ chia sâu xa.
- Hơn nữa, việc Chu Văn Sơn nhấn mạnh ba tầng “thành thật với mình - thành
thật với đời - thành thật với chính thơ” cho thấy cái nhìn toàn diện về bản chất
sáng tạo nghệ thuật. Thành thật với mình giúp nhà thơ giữ được tiếng nói riêng,
tránh rơi vào lối mòn hoặc sao chép cảm xúc của người khác. Thành thật với đời
khiến thơ gắn bó mật thiết với hiện thực, trở thành tấm gương phản chiếu số phận
con người trong những hoàn cảnh cụ thể. Còn thành thật với chính thơ là biểu
hiện của trách nhiệm nghệ thuật, giúp thơ giữ được bản sắc, không bị biến thành
khẩu hiệu hay công cụ minh họa khô cứng.
- Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng thành thật trong thơ không đồng nghĩa với sự
kể lể trần trụi hay sao chép nguyên xi đời sống. Sự thành thật mà Chu Văn Sơn
đề cao luôn gắn với sự chưng cất nghệ thuật, với khả năng chọn lọc, khái quát
và biểu đạt bằng ngôn ngữ giàu sức gợi. Chính quá trình sáng tạo ấy giúp cảm
xúc cá nhân vượt lên trên cái riêng tư, để chạm đến những giá trị phổ quát của
con người. Nói cách khác, thơ vừa cần thành thật, vừa cần nghệ thuật; thiếu một
trong hai, tác phẩm khó có thể đạt tới chiều sâu bền vững.
TRỊNH THỊ TÚ - PHAN NGỌC MAI – NGUYỄN PHƯƠNG ANH - 0383902079
Page 6
TUYỂN CHỌN BỘ ĐỀ LUYỆN THI HSG CHUYÊN SÂU THCS – THPT
MÔN: NGỮ VĂN
- Trong bối cảnh đời sống hiện đại với nhiều biến động, khi con người dễ bị cuốn
vào nhịp sống gấp gáp và những cảm xúc hời hợt, nhận định của Chu Văn Sơn
càng mang ý nghĩa thời sự. Nó nhắc nhở người cầm bút phải giữ gìn sự trung
thực nội tâm, không đánh mất mình trước sức ép của thị trường hay những chuẩn
mực bề nổi. Đồng thời, người đọc cũng cần một thái độ tiếp nhận tỉnh táo, biết
trân trọng những tác phẩm viết bằng tâm thế thành thật, thay vì chỉ chạy theo vẻ
hào nhoáng hình thức.
=> Nhận định của Chu Văn Sơn không chỉ là lời khẳng định về bản chất của thơ
ca, mà còn là một thước đo giá trị: thơ chân chính là thơ được viết bằng sự
thành thật đến tận cùng, nơi con người dám sống, dám đau và dám nói lên sự
thật của mình và của đời. Chính từ đó, thơ mới có thể trở thành tiếng nói bền bỉ,
có khả năng lay động và soi sáng tâm hồn con người qua thời gian.
3. Phân tích tác phẩm “ Tạ” để làm rõ vấn đề:
3.1. VỀ NỘI DUNG: “ Tạ” chính là tiếng lòng thành thật, đó là sự “ thành
thật với mình, thành thật với đời và thành thật với chính thơ" của nhà thơ
Phùng Quán:
- Khổ thơ mở đầu: Thành thật với mình - đối diện thời gian và thân phận:
“Ngày ra trận
Tóc tôi còn để chỏm
Nay trở về
Đầu đã hoa râm…”
Ngay từ những câu thơ đầu tiên, Phùng Quán đã lựa chọn một giọng điệu điềm
tĩnh, không tô vẽ, để kể về hành trình đời mình. Hình ảnh đối lập giữa “tóc còn
để chỏm” và “đầu đã hoa râm” là cách nói ngắn gọn mà đau đáu, gói trọn ba
mươi năm chiến tranh trong dấu vết thời gian in hằn lên cơ thể. Nhà thơ không
kể công, không tự hào về chiến tích, mà chỉ thành thật ghi lại sự đổi thay của
chính mình. Ở đây, sự thành thật với mình chính là dám nhìn thẳng vào cái giá
của chiến tranh: tuổi trẻ đã đi qua, đời người đã hao mòn. Thơ không lên gân bi
tráng, càng không bi lụy, mà lặng lẽ để sự thật của đời người tự cất tiếng.
- Khổ thơ thứ hai: Thành thật với mình và với đời - tư thế cúi xuống của cái
tôi trữ tình:
“Sau cuộc trường chinh ba mươi năm
Quỳ rạp trán xuống đất làng
Con tạ…”
Nếu ở khổ đầu là sự thành thật trong nhận thức về thời gian, thì đến đây là sự
thành thật trong tư thế sống. Hành động “quỳ rạp trán xuống đất làng” là một
cử chỉ giàu tính biểu tượng: người lính trở về không đứng cao hơn quê hương,
không đặt mình vào vị thế của kẻ chiến thắng, mà cúi xuống để tri ân. Động từ
“quỳ rạp” cho thấy mức độ khiêm nhường tuyệt đối, tự nguyện hạ thấp cái tôi cá
nhân. Đây là sự thành thật sâu sắc với bản thân: nhận ra mình chỉ là một phần
nhỏ bé được nuôi dưỡng bởi đất làng, đồng thời cũng là sự thành thật với đời đời sống không chỉ được làm nên bởi chiến công, mà bởi cội nguồn âm thầm.
- Khổ thơ thứ ba: Thành thật với đời - nhìn thẳng vào mất mát của chiến
tranh:
TRỊNH THỊ TÚ - PHAN NGỌC MAI – NGUYỄN PHƯƠNG ANH - 0383902079
Page 7
TUYỂN CHỌN BỘ ĐỀ LUYỆN THI HSG CHUYÊN SÂU THCS – THPT
MÔN: NGỮ VĂN
“Con tạ đất làng quê
Thấm đẫm máu bao anh hùng đã khuất
Không ngọn cỏ nào không long lanh nước mắt
Không lá cây nào không mặn chát gian lao!”
Ở khổ thơ này, Phùng Quán thể hiện một cái nhìn trực diện, không né tránh về
hiện thực chiến tranh. Đất làng không còn là hình ảnh yên bình, mà là nơi “thấm
đẫm máu”, nơi mỗi “ngọn cỏ”, “lá cây” đều mang ký ức đau thương. Việc sử
dụng cấu trúc phủ định “không… nào không” là cách nhấn mạnh mức độ toàn
diện và triệt để của đau khổ. Đây là sự thành thật với đời ở mức cao nhất: nhà
thơ không che giấu cái giá của tự do, không biến chiến tranh thành bức tranh
lãng mạn. Thơ trở thành lời chứng cho lịch sử, cho nỗi đau của những con người
đã ngã xuống.
- Khổ thơ tiếp theo: Thành thật với đời sống nguồn cội – tri ân sự sinh
thành:
“Con tạ ơn cha…
Con tạ ơn mẹ…
Con tạ trời
Tạ đất…”
Chuỗi lời “tạ” được mở rộng từ đất làng đến cha mẹ, trời đất, tạo nên một vòng
tròn ân nghĩa. Phùng Quán không lý tưởng hóa sự sinh thành, mà kể lại nó bằng
những chi tiết rất đời: mưa thuận gió hòa đêm mẹ lên giường sinh. Sự thành
thật ở đây nằm ở cách nhà thơ nhìn nhận sự sống như một ân huệ mong manh,
phụ thuộc vào bao điều nhỏ bé của tự nhiên và con người. Không có lời lẽ mỹ
miều, chỉ có ý thức sâu sắc về sự nương nhờ.
- Khổ thơ về bà mụ, lưỡi liềm cùn: Thành thật đến tận cùng với đời sống
nghèo khó:
“Con tạ bà mụ vườn
Tạ lưỡi liềm cùn cắt rốn…”
Những hình ảnh thô mộc, dân dã như “bà mụ vườn”, “lưỡi liềm cù
 









Các ý kiến mới nhất