Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra
ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI VĂN THPT MỚI

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trịnh Thị Tú
Ngày gửi: 22h:51' 23-10-2025
Dung lượng: 714.5 KB
Số lượt tải: 16
Nguồn:
Người gửi: Trịnh Thị Tú
Ngày gửi: 22h:51' 23-10-2025
Dung lượng: 714.5 KB
Số lượt tải: 16
Số lượt thích:
0 người
TUYỂN CHỌN 105 ĐỀ - BÀI VĂN LUYỆN THI HSG THPT
MÔN: NGỮ VĂN
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN THƯỜNG GẶP TRONG KỲ THI HỌC SINH GIỎI
NGỮ VĂN
I. TÁC PHẨM VĂN HỌC
1. KHÁI NIỆM
Tác phẩm văn học là một công trình nghệ thuật ngôn từ, đó là kết quả của một quá
trình sáng tạo, lao động trí óc miệt mài của tác giả. Một tác phẩm văn học có thể là
sản phẩm của một cá nhân hoặc một tập thể cùng nhau sáng tạo ra. Những người sáng
tác tác phẩm văn học sẽ được gọi là nhà văn.
Nội dung của các tác phẩm văn học thông thường sẽ mô phỏng về hiện thực cuộc sống đời
thường. Cũng có khi đó là sản phẩm của sự sáng tạo, trí tưởng tượng về một thế giới không
thực mà do chính tác giả muốn tạo nên. Những nhân vật trong tác phẩm văn học có thể lấy
cảm hứng từ nhân vật có thật, hoặc chỉ là nhân vật hư cấu của tác giả.
2. NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC CỦA TÁC PHẨM VĂN HỌC
Nội dung tác phẩm là hiện thực cuộc sống được phản ánh trong sự cảm nhận, suy ngẫm và
đánh giá của nhà văn. Đó là một hệ thống gồm nhiều yếu tố khách quan và chủ quan xuyên
thấm vào nhau. Trước hết, tác phẩm văn học cung cấp cho người đọc những biểu hiện
phong phú, nhiều vẻ và độc dáo của đời sống mà tính loại hình của chúng tạo thành đề tài
của tác phẩm. Vấn đề quan trọng nhất nổi lên từ đề tài, buộc tác giả phải bày tỏ thái độ, có ý
kiến đánh giá là chủ đề. Ý kiến của tác giả trước vấn đề được nêu ra trong tác phẩm là tư
tưởng. Thái độ đánh giá, nhiệt tình bảo vệ tư tưởng tạo nên cảm hứng chủ đạo hay cảm
hứng tư tưởng. Quan niệm về thế giới và con người được dùng làm hệ quy chiếu để tác giả
xác định đề tài, chủ đề, lý giải thế giới của tác phẩm có cội nguồn sâu xa trong thế giới
quan. Cuối cùng, tương quan giữa sự biểu hiện của đời sống và sự cảm thụ chủ quan tạo
nên nội dung thẩm mỹ của hình tượng. Nội dung tác phẩm là kết quả khám phá, phát hiện
khái quát của nhà văn. Sự lược quy nội dung này vào các phạm trù xã hội học sẽ làm nghèo
nàn nội dung tác phẩm.
a. Các khái niệm về nội dung của tác phẩm văn học
- Đề tài là lãnh vực đời sống được nhà văn nhận thức, lựa chọn, khái quát, bình giá và thể
hiện trong văn bản. Việc lựa chọn đề tài bước đầu bộc lộ khuynh hướng và ý đồ sáng tác
của tác giả.
- Chủ đề là vấn đề cơ bản được nêu ra trong văn bản.
+ Chủ đề thể hiện điều quan tâm cũng như chiều sâu nhận thức của nhà văn đối với cuộc
sống.
+ Tầm quan trọng của chủ đề không phụ thuộc vào khuôn khổ văn bản, cũng không phụ
thuộc vào việc chọn đề tài. Có những văn bản rất ngắn nhưng chủ đề đặt ra lại lớn lao (ví dụ
bài Sông núi nước Nam của Lí Thường kiệt chỉ có 28 chữ nhưng là bản tuyên ngôn khẳng
định chủ quyền).
+ Mỗi văn bản có thể có một hoặc nhiều chủ đề tùy quy mô, ý định của tác giả.
Th.s. TRỊNH THỊ HẰNG - TRỊNH THỊ TÚ - 0383902079
Page 1
TUYỂN CHỌN 105 ĐỀ - BÀI VĂN LUYỆN THI HSG THPT
MÔN: NGỮ VĂN
- Tư tưởng của văn bản là sự lí giải đối với chủ đề đã nêu lên, là nhận thức của tác giả
muốn trao đổi, nhắn gửi, đối thoại với người đọc. Tư tưởng là linh hồn của văn bản văn
học.
- Cảm hứng nghệ thuật là nội dung tình cảm chủ đạo của văn bản. Những trạng thái tâm
hồn, những cảm xúc được thể hiện đậm đà, nhuần nhuyễn trong văn bản sẽ truyền cảm và
hấp dẫn người đọc. Qua cảm hứng nghệ thuật, người đọc cảm nhận được tư tưởng, tình cảm
của tác giả nêu trong văn bản.
b. Các khái niệm thuộc về hình thức của tác phẩm văn học
- Ngôn từ là yếu tố đầu tiên, là vật liệu, công cụ, lớp vỏ đầu tiên của tác phẩm văn học.
Ngôn từ hiện diện trong từ ngữ, câu đoạn, hình ảnh, giọng điệu của văn bản được nhà văn
chọn lọc hàm súc, đa nghĩa... mang dấu ấn của tác giả.
- Kết cấu là sự sắp xếp tổ chức các thành tố của văn bản thành một đơn vị thống nhất chặt
chẽ, hoàn chỉnh, có ý nghĩa.
+ Kết cấu hàm chứa dụng ý của tác giả sao cho phù hợp với nội dung văn bản.
+ Có nhiều cách kết cấu như kết cấu hoành tráng của sử thi, đầy yếu tố bất ngờ của truyện
trinh thám, kết cấu mở theo dòng suy nghĩ của tùy bút, tạp văn…
- Thể loại là những quy tắc tổ chức hình thức văn bản phù hợp với nội dung văn bản, hoặc
có chất thơ, tiểu thuyết, kịch… thể loại có cải biến, đổi mới theo thời đại và mang sắc thái
riêng của tác giả.
- Cần lưu ý, không có hình thức nào là "hình thức thuần túy" mà hình thức bao giờ cũng
"mang tính nội dung”. Vì vậy, trong quá trình tìm hiểu và phân tích tác phẩm, cầm chú ý
mối quan hệ hữu cơ, logic giữa hai mặt nội dung và hình thức của một tác phẩm một cách
thống nhất, toàn vẹn.
3. Ý NGHĨA QUAN TRỌNG CỦA NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC CỦA TÁC PHẨM
VĂN HỌC
- Nội dung có giá trị là nội dung mang tư tưởng nhân văn sâu sắc, hướng con người tới chân
- thiện - mĩ và tự do dân chủ.
- Hình thức có giá trị là hình thức phù hợp với nội dung, hình thức cần mới mẻ, hấp dẫn, có
giá trị cao.
- Nội dung và hình thức không thể tách rời mà thống nhất chặt chẽ trong tác phẩm văn học,
nội dung tư tưởng cao đẹp biểu hiện trong hình thức hoàn mĩ.
II. BẢN CHẤT CỦA VĂN HỌC
1. VĂN CHƯƠNG BAO GIỜ CŨNG PHẢI BẮT NGUỒN TỪ CUỘC SỐNG
Grandi từng khẳng định: “Không có nghệ thuật nào là không hiện thực”. Cuộc sống là nơi
bắt đầu và là nơi đi tới của văn chương. Hơn bất cứ một loại hình nghệ thuật nào, văn học
gắn chặt với hiện thực cuộc sống và hút mật ngọt từ nguồn sống dồi dào đó. Ai đó đằ từng
ví văn học và cuộc sống như thần Ăng-Tê và Đất Mẹ. Thần trở nên vô địch khi đặt hai chân
Th.s. TRỊNH THỊ HẰNG - TRỊNH THỊ TÚ - 0383902079
Page 2
TUYỂN CHỌN 105 ĐỀ - BÀI VĂN LUYỆN THI HSG THPT
MÔN: NGỮ VĂN
lên Đất Mẹ cũng như văn học chỉ cường tráng và dũng mãnh khi gắn liền với hiện thực đời
sống. Đầu tiên và trên hết, văn chương đòi hỏi tác phẩm nghệ thuật chất hiện thực.
Hiện thực xã hội là mảnh đất sống của văn chương, là chất mật làm nên tính chân thực, tính
tự nhiên, tính đúng đắn, tính thực tế của tác phẩm văn học. Một tác phẩm có giá trị hiện
thực baọ giờ cũng giúp người ta nhận thức được tính quy luật của hiện thực và chân lý đời
sống.
Những tác phẩm kinh điển bao giờ chở đi được những tư tưởng lớn của thời đại trên đôi
cánh của hiện thực cuộc sống. Cánh diều văn học dù bay cao bay xa đến đâu vẫn gắn với
mảnh đất cuộc sống bằng sợi dây hiện thực mỏng manh mà vồ cùng bền chắc. “Nghệ thuật
có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp người lầm than”, “Nó ca ngợi tình
thương, lòng bác ái, sự công bình, nó làm người gần người hơn” (Nam Cao)
Văn chương của người nghệ sĩ sẽ có gì nếu nó không mang dáng dấp cuộc đời? Có chăng
chỉ là những dòng chữ rời rạc bị bẻ vụn mà thôi. Song có phải người nghệ sĩ phản ánh toàn
bộ những biến đổi, những sự việc của nhân tình thế thái vào tác phẩm thì tác phẩm sẽ trở
thành kiệt tác? Thành tác phẩm chân chính giữa cuộc đời? “Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết
nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả, nếu nó không phải là tiếng thét khổ đau hay lời ca
tụng hân hoan, nếu nó không đặt ra những câu hỏi hoặc trả lời những câu hỏi đó”
(Belinxky).
2. VĂN CHƯƠNG CẦN PHẢI CÓ SỰ SÁNG TẠO
Sáng tạo là quy luật đặc thù của văn học, là điều kiện tiên quyết của văn học. Theo Tề Bạch
Thạch: “Nghệ thuật vừa giống vừa không giống với cuộc đời. Nếu hoàn toàn giống cuộc
đời thì đó là nghệ thuật mị đời. Còn nếu hoàn toàn không giống cuộc đời thì đó là nghệ
thuật dối đời”. “Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo, vì vậy nó đòi hỏi người sáng tác
phải có phong cách nổi bật, tức là có nét gì đó rất riêng, mới lạ thể hiện trong tác phẩm của
mình” (Nam Cao)
Nghệ thuật thường vừa hư vừa thực, vừa hiện thực vừa lãng mạn, vừa bình thường vừa phi
thường. Mỗi tác phẩm văn học, mỗi nhân vật, mỗi câu chữ trong tác phẩm phải tạo được sự
bất ngờ, lý thú đối với người đọc.
Tác phẩm văn học là tấm gương soi chiếu hiện thực cuộc sống nhưng phải qua lăng kính
chủ quan của nhà văn. Chính vì vậy, hiện thực trong tác phẩm còn thực hơn hiện thực ngoài
đời sống vì nó đã được nhào nặn qua bàn tay nghệ thuật của người nghệ sĩ, được thổi vào
đó không chỉ hơi thở của thời đại mà cả sức sống tư tưởng và tâm hồn người viết. Hiện thực
đời sống không phải chỉ là những hiện tượng, những sự kiện nằm thẳng đơ trên trang giấy
mà phải hòa tan vào trong câu chữ, trở thành máu thịt của tác phẩm. Chất hiện thực làm nên
sức sống cho tác phẩm và chính tài năng người nghệ sĩ đã bất tử hóa sức sống ấy.
Ví dụ: Cùng viết về số phận, cảnh người nông dân trước cách mạng tháng Tám nhưng Ngô
Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Kim Lân, Nam Cao,., đều có những cách
nhìn, cách khám phá khác nhau:
Th.s. TRỊNH THỊ HẰNG - TRỊNH THỊ TÚ - 0383902079
Page 3
TUYỂN CHỌN 105 ĐỀ - BÀI VĂN LUYỆN THI HSG THPT
MÔN: NGỮ VĂN
– Ngô Tất Tố đi sâu vào phản ánh nỗi thống khổ của những người nông dân nghèo trước
nạn sưu thuế.
– Nguyễn Công Hoan khai thác nạn cướp ruộng đất.
– Vũ Trọng Phụng nhìn thấy nỗi khổ của người dân bởi nạn vỡ đê.
– Kim Lân đau đớn trước thảm cảnh nạn đói 1945 – hậu quả của chế độ thực dân phát xít.
– Nam Cao – sâu sắc và lạnh lùng khi khám phá ra con đường tha hóa về nhân hình In nhân
tính của người nông dân. Tác phẩm của Nam Cao là tiếng chuông: hãy cứu lấv con người.
Nam Cao là nhà văn có cái nhìn sắc bén về hiện thực xã hội.
Trong sáng tạo văn học, nhà văn luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng bởi văn học không chỉ
phản ánh đời sống mà còn biểu hiện thế giới quan của nhà văn: “Văn học là hình ảnh chủ
quan của thế giới khách quan. Tất cả những gì hiện diện trong sáng tác của nhà văn dường
như đều được lọc qua lăng kính chủ quan của họ”.
III. CHỨC NĂNG CỦA VĂN HỌC
Có rất nhiều tiêu chí phân biệt sự khác nhau giữa văn học và các môn khoa học khác.
Nhưng có lẽ M. Gorki đã từng nói rất đứng đặc thù của bộ môn: “Văn học là nhân
học”. Văn học là khoa học, khám phá thế giới tâm hồn, tính cách con người, văn học có
chức năng riêng, biểu hiện trên ba mặt chính : nhận thức – giáo dục – thấm mĩ
1. CHỨC NĂNG NHẬN THỨC
Văn học có chức năng khám phá những quy luật khách quan của đời sống xã hội và đời
sống tâm hồn của con người. Nó có khả năng đáp ứng nhu cầu của con người muốn hiểu
biết về thế giới xung quanh và chính bản thân mình. Không phải ngẫu nhiên đã có người
cho rằng: “Văn học là cuốn sách giáo khoa của đời sống”. Chính cuốn sách ấy đã thể hiện
một cách tinh tế và sắc sảo từng đổi thay, từng bước vận động của xã hội. Nó tựa
như “chiếc chìa khoá vàng mở ra muôn cánh cửa bí ẩn, đưa con người tới ngưỡng cửa mới
của sự hiểu biết thế giới xung quanh.
Văn học giúp phản ánh hiện thực để đem lại những kiến thức mênh mông về đời sống vật
chất lẫn tinh thần của con người. Bởi thế mà có người cho rằng văn học chẳng khác gì bách
khoa toàn thư của cuộc sống. Ta từng thấy Ăng-ghen nhận xét khi đọc về tiểu thuyết của
Ban-zắc – đó là giúp người đọc hiểu hơn về xã hội của nước Pháp.
Bên cạnh đó, chức năng nhận thức của văn học còn thể hiện ở việc giúp người đọc hiểu
được bản chất của con người nói chung và tự nhận thức về bản thân mình. Những câu hỏi
về sự tự nhận thức bản thân cũng được văn học giải đáp một cách chi tiết nhất.
2. CHỨC NĂNG GIÁO DỤC
Nghệ thuật là hình thái đặc trưng, hình thành từ những tìm tòi, khám phá của người nghệ sĩ
về hiện thực đời sống. Nghệ thuật mang đến cái nhìn toàn diện và đầy đủ hơn về xã hội, thể
hiện những quan điểm của người nghệ sĩ, từ đó tác động mạnh mẽ đến nhận thức, tình cảm,
cảm xúc của người tiếp nhận.
Th.s. TRỊNH THỊ HẰNG - TRỊNH THỊ TÚ - 0383902079
Page 4
TUYỂN CHỌN 105 ĐỀ - BÀI VĂN LUYỆN THI HSG THPT
MÔN: NGỮ VĂN
Chính vì vậy, nghệ thuật luôn ẩn chứa sử mệnh cao cả và thiêng liêng, góp phần làm đẹp
cho cuộc đời. Tố Hữu đã từng phát biểu: “Nghệ thuật là câu trả lời đầy thẩm mĩ cho con
người; thay đổi, cải thiện thế giới tinh thần của con người, nâng con người lên”. Còn
Nguyên Ngọc thì khẳng định: “Nghệ thuật là sự vươn tới, sự hướng về, sự níu giữ mãi mãi
tính người cho con người”. VH giáo dục con người bằng con đường từ cảm xúc đến nhận
thức bằng cái thật, cái đúng, cái đẹp của những hình tượng sinh động. Văn học giúp con
người rèn luyện bản thân mình ngày một tốt đẹp hơn, có thái độ và lẽ sống đúng đắn.
3. CHỨC NĂNG THẨM MĨ
Văn học đem đến cho con người những cảm nhận chân thực, sâu sắc và tinh tế nhất. Nghệ
thuật sáng tạo trên nguyên tắc cái đẹp, vì thế không thể thoát khỏi quy luật của cái đẹp. Cụ
thể:
- Văn học mang đến cho con người vẻ đẹp muôn màu của cuộc đời (vẻ đẹp của thiên nhiên,
đất nước, con người...)
- Miêu tả, thể hiện cái đẹp của con người từ ngoại hình đến thế giới nội tâm phong phú tinh
tế bên trong.
- Cái đẹp trong văn học không chỉ thể hiện ở nội dung mà còn ở hình thức nghệ thuật tác
phẩm : kết cấu, ngôn từ chặt chẽ, mới mẻ, độc đáo.
4. MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CHỨC NĂNG VĂN HỌC
Bên cạnh việc chuyển tải nội dung thẩm mĩ, tác phẩm nghệ thuật còn tác động đến nhận
thức của con người, đánh thức những tình cảm, cảm xúc, bản năng của con người, khơi dậy
sức sống và niềm tin yêu, hi vọng vào thế giới ấy.
Một tác phẩm dù lớn hay nhỏ đều ẩn chứa những giá trị nhận thức riêng biệt. Một Xuân
Diệu nồng nàn, tươi trẻ với những bước chân vội vàng, cuống quýt, vồ vập trong tình yêu;
một Huy Cận mang mang thiên cổ sầu; một Hàn Mặc Tử yêu đời, yêu cuộc sống đến tha
thiết nhưng đành “bó tay nhìn thể phách và linh hồn tan rã”… Những nhà thơ Mới mỗi
người một vẻ, một sắc thái nhưng đã hòa cùng dòng chảy của văn học, mang đến những
cảm nhận mới lạ, tinh tể, tác động mạnh mẽ tới tri giác, đánh thức những bản năng khát
yêu, khát sống trong mỗi con người.
Còn dòng văn học hiện thực lại tác động vào con người theo những hình tượng nhân vật.
Một chị Dậu giàu đức hi sinh đã kiên cường đấu tranh với kẻ thống trị để bảo vệ gia đình;
một Chí Phèo bước ra từ những trang văn lạnh lùng nhưng ẩn chứa nhiều đớn đau của Nam
Cao; một Xuân Tóc Đỏ với bộ mặt “chó đểu” của xã hội… Tất cả đã tác động lên người đọc
nhận thức đầy đủ, phong phú về xã hội. Từ đó khơi dậy ý thức đấu tranh giai cấp để giành
lại quyền sống, ý thức cải tạo xã hội và y thức về giá trị con người.
Trên hành trình kiếm tìm, vươn tới nghệ thuật, mỗi người nghệ sĩ lại tìm cho mình một định
nghĩa, một chuẩn mực để đánh giá văn chương, nghệ thuật. Có người cho rằng giá trị cao
nhất của văn chương là vì con người. Có người lại quý văn chương ở sự đồng điệu tri
âm: “Thơ ca giúp ta đi từ chân trời một người đến với chân trời triệu người”. Còn có người
lại coi văn chương nghệ thuật là “một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để
Th.s. TRỊNH THỊ HẰNG - TRỊNH THỊ TÚ - 0383902079
Page 5
TUYỂN CHỌN 105 ĐỀ - BÀI VĂN LUYỆN THI HSG THPT
MÔN: NGỮ VĂN
vừa tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người trong sạch và
phong phú thêm” (Thạch Lam). Nguyên Ngọc cũng từng khẳng định: “nghệ thuật là
phương thức tồn tại của con người”…
Tất cả những quan điểm các nhà nghệ sĩ đã giúp cho chúng ta nhận ra văn học là một yêu
cầu thiết yếu, một nhu cầu không thể thiếu của con người. Ta tự hỏi con người sẽ sống như
thế nào nếu mai kia chẳng còn văn chương? Có lẽ tâm hồn con người sẽ khô cằn, chai sạn
lắm bởi văn chương cho ta được là CON NGƯỜI với hai chữ viết hoa, với đầy đủ những ý
nghĩa cao đẹp.
“Văn chương giữ cho con người mãi mãi là con người, không sa xuống thành con vật”.
Văn chương nâng con người lớn dậy, thanh lọc tâm hồn con người. Bởi vậy, hành
trình đến với văn chương là hành trình kiếm tìm, vươn tới. “Nghệ thuật là sự vươn
tới, sự hướng về, sự níu giữ mãi mãi tính người cho con người”. Xét đến cùng, hành
trình của một tác phẩm văn chương là hướng con người đến con đường CHÂN –
THIỆN – MĨ.
Một tác phẩm văn chương đích thực bao giờ cũng là sự hòa quyện của chức năng. Chức
năng thẩm mĩ là đặc trưng của nghệ thuật. Chức năng giáo dục là nhiệm vụ của nghệ thuật.
Chức năng nhận thức là bản chất của văn chương.
Ba chức năng của văn chương có quan hệ khăng khít và xuyên thấu vào nhau để cùng tác
động vào con ngươi. Chức năng này đồng thời biểu hiện chức năng kia và ngược lại.
IV. CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC
Đối tượng phản ánh của văn học chính là con người. Gorki nói: “Văn học là nhân học”.
Nguyễn Minh Châu thì cho rằng: “Văn học và hiện thực là hai vòng tròn đồng tâm và tâm
điểm là con người”.
Tuy vậy, cái mà văn học quan tâm, không phải chỉ đơn thuần là con người xét về phương
cái văn học quan tâm chính là tư cách xã hội của con người. Marx từng nói: “Con người là
tổng hòa các mối quan hệ xã hội”. Nếu ngành sinh học nghiên cứu về giải phẫu con người,
nghiên cứu về tế bào con người, nói chung là nghiên cứu mối quan hệ giữa con người với
thiên nhiên, thì văn học nghiên cứu con người trên phương diện xã hội, qua việc đặt con
người trong một bối cảnh xã hội, thông qua những mối quan hệ để khám phá bản chất tâm
hồn con người cũng như phát hiện ra những vấn đề mang tính khái quát, cấp thiết về con
người, về cuộc đời.
Vậy đâu là điểm khác biệt giữa văn học với lịch sử, triết học, xã hội học, những ngành
khoa học khác cũng nghiên cứu con người trên phương diện xã hội? Thời xưa từng có quan
điểm “văn, sử, triết” bất phân, đúng như vậy, trong một vài thời kì, sự phân biệt giữa văn
học, lịch sử, và triết học rất khó phân định. Văn học phải thể hiện đời sống, tức văn học
phải gắn với lịch sử. Đỉnh của một tác phẩm văn học chính là tính tư tưởng, là bức thông
điệp của nhà văn với các vấn đề về con người, cuộc đời, vậy văn học gắn với triết học.
Nhưng văn học vẫn có một đặc điểm riêng biệt: Văn học phản ánh con người trên phương
diện thẩm mỹ. Một nhà phê bình từng nhận định: “Tác phẩm nghệ thuật chân chính là tác
Th.s. TRỊNH THỊ HẰNG - TRỊNH THỊ TÚ - 0383902079
Page 6
TUYỂN CHỌN 105 ĐỀ - BÀI VĂN LUYỆN THI HSG THPT
MÔN: NGỮ VĂN
phẩm tôn vinh con người”. Dovtoepxki từng nói: “Cái đẹp cứu chuộc thế giới”. Sự khu biệt
rõ ràng nhất giữa văn học và lịch sử, triết học chính là cái nhìn con người trên phương diện
của cái đẹp.
Lịch sử loại trừ cái nhìn chủ quan, triết học chỉ quan tâm đến những vấn đề cốt lõi, còn văn
học, sự phản ánh nhất thiết phải gắn với cái đẹp. Ngay cả khi miêu tả một tên trộm, một cái
gì đó xấu xa, giả dối, thì văn học vẫn đi theo cây kim của la bàn mang tên cái đẹp, mục đích
cuối cùng, mục đích cốt lõi của văn học vẫn là hướng con người đến cái đẹp, đến những giá
trị chân thiện, mỹ. Văn học không thể không phản ánh cái xấu xa, cái giá dối, cái bất nhân,
nhưng mục đích vẫn phải là để tôn vinh cái đẹp, ca ngợi cái đẹp; phê phán, tố cáo, lên án
cái xấu, cái ác để người đọc thêm trân trọng cái tốt, cái đẹp.
1. KHÁI NIỆM NHÂN VẬT VĂN HỌC
Nhà văn người Đức W. Goethe có nói: “Con người là điều thú vị nhất đối với con người, và
con người cũng chủ hứng thú với con người”. Con người là nội dung quan trọng nhất của
văn học. Nhân vật văn học là khái niệm dùng để chỉ hình tượng các cá thể con người trong
tác phẩm văn học – cái đã được nhà văn nhận thức, tái tạo, thể hiện bằng các phương tiện
riêng của nghệ thuật ngôn từ.
Ðối tượng chung của văn học là cuộc đời nhưng trong đó con người luôn giữ vị trí trung
tâm. Những sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, những bức tranh thiên nhiên, những lời bình
luận…đều góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng cho tác phẩm nhưng cái quyết định chất
lượng tác phẩm văn học chính là việc xây dựng nhân vật. Ðọc một tác phẩm, cái đọng lại
sâu sắc nhất trong tâm hồn người đọc thường là số phận, tình cảm, cảm xúc, suy tư của
những con người được nhà văn thể hiện. Vì vậy, Tô Hoài đã có lí khi cho rằng “Nhân vật là
nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác”
“Văn học là nhân học” (M. Gorki). Văn học bao giờ cũng thể hiện cuộc sống của con
người. Nói đến nhân vật văn học là nói đến con người được nhà văn miêu tả thể hiện trong
tác phẩm, bằng phương tiện văn học. Nhân vật văn học có khi là những con người có họ tên
như: Từ Hải, Thúy Kiều, Lục Vân Tiên, Chị Dậu, anh Pha, … Khi là những người không
họ không tên như: tên lính lệ, người hầu gái, một số nhân vật xưng “tôi” trong các truyện
ngắn, tiểu thuyết hiện đại, như mình – ta trong ca dao. Khái niệm con người này cũng cần
được hiểu một cách rộng rãi trên hai phương diện: số lượng và chất lượng. Về số lượng, hầu
hết các tác phẩm từ văn học dân gian đến văn học hiện đại đều tập trung miêu tả số phận
của con người. Về chất lượng, dù nhà văn miêu tả thần linh, ma quỉ, đồ vật, … nhưng lại
gán cho nó những phẩm chất của con người. Nhân vật trong văn học có khi là một loài vật,
một đồ vật hoặc một hiện tượng nào đó của thế giới tự nhiên, mang ý nghĩa biểu trưng cho
số phận, cho tư tưởng, tình cảm của con người. Có thể nói nhân vật là phương tiện để phản
ánh đời sống, khái quát hiện thực.
Miêu tả con người, chính là việc xây dựng nhân vật của nhà văn. Ở đây, cần chú ý rằng
nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không là sự sao chép
đầy mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc
Th.s. TRỊNH THỊ HẰNG - TRỊNH THỊ TÚ - 0383902079
Page 7
TUYỂN CHỌN 105 ĐỀ - BÀI VĂN LUYỆN THI HSG THPT
MÔN: NGỮ VĂN
điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách. Nói đến văn học thì không thể thiếu nhân
vật, vì đó chính là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng.
Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó, về một
loại người nào đó, về một vấn đề nào đó của hiện thực. Những con người này có thể được
miêu tả kỹ hay sơ lược, sinh động hay không rõ nét, xuất hiện một hay nhiều lần, thường
xuyên hay từng lúc, giữ vai trò quan trọng nhiều, ít hoặc không ảnh hưởng nhiều lắm đối
với tác phẩm.
Có thể nói, “nhân vật là phương tiện để phản ánh đời sống, khái quát hiện thực. Chức năng
của nhân vật là khái quát những quy luật của cuộc sống và của con người, thể hiện những
hiểu biết, những ước mơ, kì vọng về đời sống”. Các vị thần như thần Trụ trời, thần Gió,
thần Mưa thể hiện nhận thức của người nguyên thuỷ về sức mạnh của tự nhiên mà con
người chưa giải thích được. Truyền thuyết về Lạc Long Quân và Âu Cơ thể hiện niềm tự
hào về nòi giống dân tộc Việt. Nhân vật lí tưởng của văn học cổ Hi – La là những anh hùng
chưa có ý thức về đời sống cá nhân, tìm lẽ sống trong việc phục vụ quyền lợi bộ tộc, thành
bang, quốc gia, đó là những Asin, Hécto trong Iliát, Uylítxơ trong Ôđixê, Prômêtê trong
Prômêtê bị xiềng. Nhà văn sáng tạo nên nhân vật là để thể hiện những cá nhân xã hội nhất
định và quan niệm về các cá nhân đó.
Nhân vật văn học được tạo nên bởi nhiều thành tố gồm hạt nhân tinh thần của cá nhân như:
ý chí, khát vọng, lí tưởng, các biểu hiện của thế giới cảm xúc, các lợi ích đời sống, các hình
thái ý thức, các hành động trong quá trình sống. Nhân vật văn học
MÔN: NGỮ VĂN
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN THƯỜNG GẶP TRONG KỲ THI HỌC SINH GIỎI
NGỮ VĂN
I. TÁC PHẨM VĂN HỌC
1. KHÁI NIỆM
Tác phẩm văn học là một công trình nghệ thuật ngôn từ, đó là kết quả của một quá
trình sáng tạo, lao động trí óc miệt mài của tác giả. Một tác phẩm văn học có thể là
sản phẩm của một cá nhân hoặc một tập thể cùng nhau sáng tạo ra. Những người sáng
tác tác phẩm văn học sẽ được gọi là nhà văn.
Nội dung của các tác phẩm văn học thông thường sẽ mô phỏng về hiện thực cuộc sống đời
thường. Cũng có khi đó là sản phẩm của sự sáng tạo, trí tưởng tượng về một thế giới không
thực mà do chính tác giả muốn tạo nên. Những nhân vật trong tác phẩm văn học có thể lấy
cảm hứng từ nhân vật có thật, hoặc chỉ là nhân vật hư cấu của tác giả.
2. NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC CỦA TÁC PHẨM VĂN HỌC
Nội dung tác phẩm là hiện thực cuộc sống được phản ánh trong sự cảm nhận, suy ngẫm và
đánh giá của nhà văn. Đó là một hệ thống gồm nhiều yếu tố khách quan và chủ quan xuyên
thấm vào nhau. Trước hết, tác phẩm văn học cung cấp cho người đọc những biểu hiện
phong phú, nhiều vẻ và độc dáo của đời sống mà tính loại hình của chúng tạo thành đề tài
của tác phẩm. Vấn đề quan trọng nhất nổi lên từ đề tài, buộc tác giả phải bày tỏ thái độ, có ý
kiến đánh giá là chủ đề. Ý kiến của tác giả trước vấn đề được nêu ra trong tác phẩm là tư
tưởng. Thái độ đánh giá, nhiệt tình bảo vệ tư tưởng tạo nên cảm hứng chủ đạo hay cảm
hứng tư tưởng. Quan niệm về thế giới và con người được dùng làm hệ quy chiếu để tác giả
xác định đề tài, chủ đề, lý giải thế giới của tác phẩm có cội nguồn sâu xa trong thế giới
quan. Cuối cùng, tương quan giữa sự biểu hiện của đời sống và sự cảm thụ chủ quan tạo
nên nội dung thẩm mỹ của hình tượng. Nội dung tác phẩm là kết quả khám phá, phát hiện
khái quát của nhà văn. Sự lược quy nội dung này vào các phạm trù xã hội học sẽ làm nghèo
nàn nội dung tác phẩm.
a. Các khái niệm về nội dung của tác phẩm văn học
- Đề tài là lãnh vực đời sống được nhà văn nhận thức, lựa chọn, khái quát, bình giá và thể
hiện trong văn bản. Việc lựa chọn đề tài bước đầu bộc lộ khuynh hướng và ý đồ sáng tác
của tác giả.
- Chủ đề là vấn đề cơ bản được nêu ra trong văn bản.
+ Chủ đề thể hiện điều quan tâm cũng như chiều sâu nhận thức của nhà văn đối với cuộc
sống.
+ Tầm quan trọng của chủ đề không phụ thuộc vào khuôn khổ văn bản, cũng không phụ
thuộc vào việc chọn đề tài. Có những văn bản rất ngắn nhưng chủ đề đặt ra lại lớn lao (ví dụ
bài Sông núi nước Nam của Lí Thường kiệt chỉ có 28 chữ nhưng là bản tuyên ngôn khẳng
định chủ quyền).
+ Mỗi văn bản có thể có một hoặc nhiều chủ đề tùy quy mô, ý định của tác giả.
Th.s. TRỊNH THỊ HẰNG - TRỊNH THỊ TÚ - 0383902079
Page 1
TUYỂN CHỌN 105 ĐỀ - BÀI VĂN LUYỆN THI HSG THPT
MÔN: NGỮ VĂN
- Tư tưởng của văn bản là sự lí giải đối với chủ đề đã nêu lên, là nhận thức của tác giả
muốn trao đổi, nhắn gửi, đối thoại với người đọc. Tư tưởng là linh hồn của văn bản văn
học.
- Cảm hứng nghệ thuật là nội dung tình cảm chủ đạo của văn bản. Những trạng thái tâm
hồn, những cảm xúc được thể hiện đậm đà, nhuần nhuyễn trong văn bản sẽ truyền cảm và
hấp dẫn người đọc. Qua cảm hứng nghệ thuật, người đọc cảm nhận được tư tưởng, tình cảm
của tác giả nêu trong văn bản.
b. Các khái niệm thuộc về hình thức của tác phẩm văn học
- Ngôn từ là yếu tố đầu tiên, là vật liệu, công cụ, lớp vỏ đầu tiên của tác phẩm văn học.
Ngôn từ hiện diện trong từ ngữ, câu đoạn, hình ảnh, giọng điệu của văn bản được nhà văn
chọn lọc hàm súc, đa nghĩa... mang dấu ấn của tác giả.
- Kết cấu là sự sắp xếp tổ chức các thành tố của văn bản thành một đơn vị thống nhất chặt
chẽ, hoàn chỉnh, có ý nghĩa.
+ Kết cấu hàm chứa dụng ý của tác giả sao cho phù hợp với nội dung văn bản.
+ Có nhiều cách kết cấu như kết cấu hoành tráng của sử thi, đầy yếu tố bất ngờ của truyện
trinh thám, kết cấu mở theo dòng suy nghĩ của tùy bút, tạp văn…
- Thể loại là những quy tắc tổ chức hình thức văn bản phù hợp với nội dung văn bản, hoặc
có chất thơ, tiểu thuyết, kịch… thể loại có cải biến, đổi mới theo thời đại và mang sắc thái
riêng của tác giả.
- Cần lưu ý, không có hình thức nào là "hình thức thuần túy" mà hình thức bao giờ cũng
"mang tính nội dung”. Vì vậy, trong quá trình tìm hiểu và phân tích tác phẩm, cầm chú ý
mối quan hệ hữu cơ, logic giữa hai mặt nội dung và hình thức của một tác phẩm một cách
thống nhất, toàn vẹn.
3. Ý NGHĨA QUAN TRỌNG CỦA NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC CỦA TÁC PHẨM
VĂN HỌC
- Nội dung có giá trị là nội dung mang tư tưởng nhân văn sâu sắc, hướng con người tới chân
- thiện - mĩ và tự do dân chủ.
- Hình thức có giá trị là hình thức phù hợp với nội dung, hình thức cần mới mẻ, hấp dẫn, có
giá trị cao.
- Nội dung và hình thức không thể tách rời mà thống nhất chặt chẽ trong tác phẩm văn học,
nội dung tư tưởng cao đẹp biểu hiện trong hình thức hoàn mĩ.
II. BẢN CHẤT CỦA VĂN HỌC
1. VĂN CHƯƠNG BAO GIỜ CŨNG PHẢI BẮT NGUỒN TỪ CUỘC SỐNG
Grandi từng khẳng định: “Không có nghệ thuật nào là không hiện thực”. Cuộc sống là nơi
bắt đầu và là nơi đi tới của văn chương. Hơn bất cứ một loại hình nghệ thuật nào, văn học
gắn chặt với hiện thực cuộc sống và hút mật ngọt từ nguồn sống dồi dào đó. Ai đó đằ từng
ví văn học và cuộc sống như thần Ăng-Tê và Đất Mẹ. Thần trở nên vô địch khi đặt hai chân
Th.s. TRỊNH THỊ HẰNG - TRỊNH THỊ TÚ - 0383902079
Page 2
TUYỂN CHỌN 105 ĐỀ - BÀI VĂN LUYỆN THI HSG THPT
MÔN: NGỮ VĂN
lên Đất Mẹ cũng như văn học chỉ cường tráng và dũng mãnh khi gắn liền với hiện thực đời
sống. Đầu tiên và trên hết, văn chương đòi hỏi tác phẩm nghệ thuật chất hiện thực.
Hiện thực xã hội là mảnh đất sống của văn chương, là chất mật làm nên tính chân thực, tính
tự nhiên, tính đúng đắn, tính thực tế của tác phẩm văn học. Một tác phẩm có giá trị hiện
thực baọ giờ cũng giúp người ta nhận thức được tính quy luật của hiện thực và chân lý đời
sống.
Những tác phẩm kinh điển bao giờ chở đi được những tư tưởng lớn của thời đại trên đôi
cánh của hiện thực cuộc sống. Cánh diều văn học dù bay cao bay xa đến đâu vẫn gắn với
mảnh đất cuộc sống bằng sợi dây hiện thực mỏng manh mà vồ cùng bền chắc. “Nghệ thuật
có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp người lầm than”, “Nó ca ngợi tình
thương, lòng bác ái, sự công bình, nó làm người gần người hơn” (Nam Cao)
Văn chương của người nghệ sĩ sẽ có gì nếu nó không mang dáng dấp cuộc đời? Có chăng
chỉ là những dòng chữ rời rạc bị bẻ vụn mà thôi. Song có phải người nghệ sĩ phản ánh toàn
bộ những biến đổi, những sự việc của nhân tình thế thái vào tác phẩm thì tác phẩm sẽ trở
thành kiệt tác? Thành tác phẩm chân chính giữa cuộc đời? “Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết
nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả, nếu nó không phải là tiếng thét khổ đau hay lời ca
tụng hân hoan, nếu nó không đặt ra những câu hỏi hoặc trả lời những câu hỏi đó”
(Belinxky).
2. VĂN CHƯƠNG CẦN PHẢI CÓ SỰ SÁNG TẠO
Sáng tạo là quy luật đặc thù của văn học, là điều kiện tiên quyết của văn học. Theo Tề Bạch
Thạch: “Nghệ thuật vừa giống vừa không giống với cuộc đời. Nếu hoàn toàn giống cuộc
đời thì đó là nghệ thuật mị đời. Còn nếu hoàn toàn không giống cuộc đời thì đó là nghệ
thuật dối đời”. “Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo, vì vậy nó đòi hỏi người sáng tác
phải có phong cách nổi bật, tức là có nét gì đó rất riêng, mới lạ thể hiện trong tác phẩm của
mình” (Nam Cao)
Nghệ thuật thường vừa hư vừa thực, vừa hiện thực vừa lãng mạn, vừa bình thường vừa phi
thường. Mỗi tác phẩm văn học, mỗi nhân vật, mỗi câu chữ trong tác phẩm phải tạo được sự
bất ngờ, lý thú đối với người đọc.
Tác phẩm văn học là tấm gương soi chiếu hiện thực cuộc sống nhưng phải qua lăng kính
chủ quan của nhà văn. Chính vì vậy, hiện thực trong tác phẩm còn thực hơn hiện thực ngoài
đời sống vì nó đã được nhào nặn qua bàn tay nghệ thuật của người nghệ sĩ, được thổi vào
đó không chỉ hơi thở của thời đại mà cả sức sống tư tưởng và tâm hồn người viết. Hiện thực
đời sống không phải chỉ là những hiện tượng, những sự kiện nằm thẳng đơ trên trang giấy
mà phải hòa tan vào trong câu chữ, trở thành máu thịt của tác phẩm. Chất hiện thực làm nên
sức sống cho tác phẩm và chính tài năng người nghệ sĩ đã bất tử hóa sức sống ấy.
Ví dụ: Cùng viết về số phận, cảnh người nông dân trước cách mạng tháng Tám nhưng Ngô
Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Kim Lân, Nam Cao,., đều có những cách
nhìn, cách khám phá khác nhau:
Th.s. TRỊNH THỊ HẰNG - TRỊNH THỊ TÚ - 0383902079
Page 3
TUYỂN CHỌN 105 ĐỀ - BÀI VĂN LUYỆN THI HSG THPT
MÔN: NGỮ VĂN
– Ngô Tất Tố đi sâu vào phản ánh nỗi thống khổ của những người nông dân nghèo trước
nạn sưu thuế.
– Nguyễn Công Hoan khai thác nạn cướp ruộng đất.
– Vũ Trọng Phụng nhìn thấy nỗi khổ của người dân bởi nạn vỡ đê.
– Kim Lân đau đớn trước thảm cảnh nạn đói 1945 – hậu quả của chế độ thực dân phát xít.
– Nam Cao – sâu sắc và lạnh lùng khi khám phá ra con đường tha hóa về nhân hình In nhân
tính của người nông dân. Tác phẩm của Nam Cao là tiếng chuông: hãy cứu lấv con người.
Nam Cao là nhà văn có cái nhìn sắc bén về hiện thực xã hội.
Trong sáng tạo văn học, nhà văn luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng bởi văn học không chỉ
phản ánh đời sống mà còn biểu hiện thế giới quan của nhà văn: “Văn học là hình ảnh chủ
quan của thế giới khách quan. Tất cả những gì hiện diện trong sáng tác của nhà văn dường
như đều được lọc qua lăng kính chủ quan của họ”.
III. CHỨC NĂNG CỦA VĂN HỌC
Có rất nhiều tiêu chí phân biệt sự khác nhau giữa văn học và các môn khoa học khác.
Nhưng có lẽ M. Gorki đã từng nói rất đứng đặc thù của bộ môn: “Văn học là nhân
học”. Văn học là khoa học, khám phá thế giới tâm hồn, tính cách con người, văn học có
chức năng riêng, biểu hiện trên ba mặt chính : nhận thức – giáo dục – thấm mĩ
1. CHỨC NĂNG NHẬN THỨC
Văn học có chức năng khám phá những quy luật khách quan của đời sống xã hội và đời
sống tâm hồn của con người. Nó có khả năng đáp ứng nhu cầu của con người muốn hiểu
biết về thế giới xung quanh và chính bản thân mình. Không phải ngẫu nhiên đã có người
cho rằng: “Văn học là cuốn sách giáo khoa của đời sống”. Chính cuốn sách ấy đã thể hiện
một cách tinh tế và sắc sảo từng đổi thay, từng bước vận động của xã hội. Nó tựa
như “chiếc chìa khoá vàng mở ra muôn cánh cửa bí ẩn, đưa con người tới ngưỡng cửa mới
của sự hiểu biết thế giới xung quanh.
Văn học giúp phản ánh hiện thực để đem lại những kiến thức mênh mông về đời sống vật
chất lẫn tinh thần của con người. Bởi thế mà có người cho rằng văn học chẳng khác gì bách
khoa toàn thư của cuộc sống. Ta từng thấy Ăng-ghen nhận xét khi đọc về tiểu thuyết của
Ban-zắc – đó là giúp người đọc hiểu hơn về xã hội của nước Pháp.
Bên cạnh đó, chức năng nhận thức của văn học còn thể hiện ở việc giúp người đọc hiểu
được bản chất của con người nói chung và tự nhận thức về bản thân mình. Những câu hỏi
về sự tự nhận thức bản thân cũng được văn học giải đáp một cách chi tiết nhất.
2. CHỨC NĂNG GIÁO DỤC
Nghệ thuật là hình thái đặc trưng, hình thành từ những tìm tòi, khám phá của người nghệ sĩ
về hiện thực đời sống. Nghệ thuật mang đến cái nhìn toàn diện và đầy đủ hơn về xã hội, thể
hiện những quan điểm của người nghệ sĩ, từ đó tác động mạnh mẽ đến nhận thức, tình cảm,
cảm xúc của người tiếp nhận.
Th.s. TRỊNH THỊ HẰNG - TRỊNH THỊ TÚ - 0383902079
Page 4
TUYỂN CHỌN 105 ĐỀ - BÀI VĂN LUYỆN THI HSG THPT
MÔN: NGỮ VĂN
Chính vì vậy, nghệ thuật luôn ẩn chứa sử mệnh cao cả và thiêng liêng, góp phần làm đẹp
cho cuộc đời. Tố Hữu đã từng phát biểu: “Nghệ thuật là câu trả lời đầy thẩm mĩ cho con
người; thay đổi, cải thiện thế giới tinh thần của con người, nâng con người lên”. Còn
Nguyên Ngọc thì khẳng định: “Nghệ thuật là sự vươn tới, sự hướng về, sự níu giữ mãi mãi
tính người cho con người”. VH giáo dục con người bằng con đường từ cảm xúc đến nhận
thức bằng cái thật, cái đúng, cái đẹp của những hình tượng sinh động. Văn học giúp con
người rèn luyện bản thân mình ngày một tốt đẹp hơn, có thái độ và lẽ sống đúng đắn.
3. CHỨC NĂNG THẨM MĨ
Văn học đem đến cho con người những cảm nhận chân thực, sâu sắc và tinh tế nhất. Nghệ
thuật sáng tạo trên nguyên tắc cái đẹp, vì thế không thể thoát khỏi quy luật của cái đẹp. Cụ
thể:
- Văn học mang đến cho con người vẻ đẹp muôn màu của cuộc đời (vẻ đẹp của thiên nhiên,
đất nước, con người...)
- Miêu tả, thể hiện cái đẹp của con người từ ngoại hình đến thế giới nội tâm phong phú tinh
tế bên trong.
- Cái đẹp trong văn học không chỉ thể hiện ở nội dung mà còn ở hình thức nghệ thuật tác
phẩm : kết cấu, ngôn từ chặt chẽ, mới mẻ, độc đáo.
4. MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CHỨC NĂNG VĂN HỌC
Bên cạnh việc chuyển tải nội dung thẩm mĩ, tác phẩm nghệ thuật còn tác động đến nhận
thức của con người, đánh thức những tình cảm, cảm xúc, bản năng của con người, khơi dậy
sức sống và niềm tin yêu, hi vọng vào thế giới ấy.
Một tác phẩm dù lớn hay nhỏ đều ẩn chứa những giá trị nhận thức riêng biệt. Một Xuân
Diệu nồng nàn, tươi trẻ với những bước chân vội vàng, cuống quýt, vồ vập trong tình yêu;
một Huy Cận mang mang thiên cổ sầu; một Hàn Mặc Tử yêu đời, yêu cuộc sống đến tha
thiết nhưng đành “bó tay nhìn thể phách và linh hồn tan rã”… Những nhà thơ Mới mỗi
người một vẻ, một sắc thái nhưng đã hòa cùng dòng chảy của văn học, mang đến những
cảm nhận mới lạ, tinh tể, tác động mạnh mẽ tới tri giác, đánh thức những bản năng khát
yêu, khát sống trong mỗi con người.
Còn dòng văn học hiện thực lại tác động vào con người theo những hình tượng nhân vật.
Một chị Dậu giàu đức hi sinh đã kiên cường đấu tranh với kẻ thống trị để bảo vệ gia đình;
một Chí Phèo bước ra từ những trang văn lạnh lùng nhưng ẩn chứa nhiều đớn đau của Nam
Cao; một Xuân Tóc Đỏ với bộ mặt “chó đểu” của xã hội… Tất cả đã tác động lên người đọc
nhận thức đầy đủ, phong phú về xã hội. Từ đó khơi dậy ý thức đấu tranh giai cấp để giành
lại quyền sống, ý thức cải tạo xã hội và y thức về giá trị con người.
Trên hành trình kiếm tìm, vươn tới nghệ thuật, mỗi người nghệ sĩ lại tìm cho mình một định
nghĩa, một chuẩn mực để đánh giá văn chương, nghệ thuật. Có người cho rằng giá trị cao
nhất của văn chương là vì con người. Có người lại quý văn chương ở sự đồng điệu tri
âm: “Thơ ca giúp ta đi từ chân trời một người đến với chân trời triệu người”. Còn có người
lại coi văn chương nghệ thuật là “một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để
Th.s. TRỊNH THỊ HẰNG - TRỊNH THỊ TÚ - 0383902079
Page 5
TUYỂN CHỌN 105 ĐỀ - BÀI VĂN LUYỆN THI HSG THPT
MÔN: NGỮ VĂN
vừa tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người trong sạch và
phong phú thêm” (Thạch Lam). Nguyên Ngọc cũng từng khẳng định: “nghệ thuật là
phương thức tồn tại của con người”…
Tất cả những quan điểm các nhà nghệ sĩ đã giúp cho chúng ta nhận ra văn học là một yêu
cầu thiết yếu, một nhu cầu không thể thiếu của con người. Ta tự hỏi con người sẽ sống như
thế nào nếu mai kia chẳng còn văn chương? Có lẽ tâm hồn con người sẽ khô cằn, chai sạn
lắm bởi văn chương cho ta được là CON NGƯỜI với hai chữ viết hoa, với đầy đủ những ý
nghĩa cao đẹp.
“Văn chương giữ cho con người mãi mãi là con người, không sa xuống thành con vật”.
Văn chương nâng con người lớn dậy, thanh lọc tâm hồn con người. Bởi vậy, hành
trình đến với văn chương là hành trình kiếm tìm, vươn tới. “Nghệ thuật là sự vươn
tới, sự hướng về, sự níu giữ mãi mãi tính người cho con người”. Xét đến cùng, hành
trình của một tác phẩm văn chương là hướng con người đến con đường CHÂN –
THIỆN – MĨ.
Một tác phẩm văn chương đích thực bao giờ cũng là sự hòa quyện của chức năng. Chức
năng thẩm mĩ là đặc trưng của nghệ thuật. Chức năng giáo dục là nhiệm vụ của nghệ thuật.
Chức năng nhận thức là bản chất của văn chương.
Ba chức năng của văn chương có quan hệ khăng khít và xuyên thấu vào nhau để cùng tác
động vào con ngươi. Chức năng này đồng thời biểu hiện chức năng kia và ngược lại.
IV. CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC
Đối tượng phản ánh của văn học chính là con người. Gorki nói: “Văn học là nhân học”.
Nguyễn Minh Châu thì cho rằng: “Văn học và hiện thực là hai vòng tròn đồng tâm và tâm
điểm là con người”.
Tuy vậy, cái mà văn học quan tâm, không phải chỉ đơn thuần là con người xét về phương
cái văn học quan tâm chính là tư cách xã hội của con người. Marx từng nói: “Con người là
tổng hòa các mối quan hệ xã hội”. Nếu ngành sinh học nghiên cứu về giải phẫu con người,
nghiên cứu về tế bào con người, nói chung là nghiên cứu mối quan hệ giữa con người với
thiên nhiên, thì văn học nghiên cứu con người trên phương diện xã hội, qua việc đặt con
người trong một bối cảnh xã hội, thông qua những mối quan hệ để khám phá bản chất tâm
hồn con người cũng như phát hiện ra những vấn đề mang tính khái quát, cấp thiết về con
người, về cuộc đời.
Vậy đâu là điểm khác biệt giữa văn học với lịch sử, triết học, xã hội học, những ngành
khoa học khác cũng nghiên cứu con người trên phương diện xã hội? Thời xưa từng có quan
điểm “văn, sử, triết” bất phân, đúng như vậy, trong một vài thời kì, sự phân biệt giữa văn
học, lịch sử, và triết học rất khó phân định. Văn học phải thể hiện đời sống, tức văn học
phải gắn với lịch sử. Đỉnh của một tác phẩm văn học chính là tính tư tưởng, là bức thông
điệp của nhà văn với các vấn đề về con người, cuộc đời, vậy văn học gắn với triết học.
Nhưng văn học vẫn có một đặc điểm riêng biệt: Văn học phản ánh con người trên phương
diện thẩm mỹ. Một nhà phê bình từng nhận định: “Tác phẩm nghệ thuật chân chính là tác
Th.s. TRỊNH THỊ HẰNG - TRỊNH THỊ TÚ - 0383902079
Page 6
TUYỂN CHỌN 105 ĐỀ - BÀI VĂN LUYỆN THI HSG THPT
MÔN: NGỮ VĂN
phẩm tôn vinh con người”. Dovtoepxki từng nói: “Cái đẹp cứu chuộc thế giới”. Sự khu biệt
rõ ràng nhất giữa văn học và lịch sử, triết học chính là cái nhìn con người trên phương diện
của cái đẹp.
Lịch sử loại trừ cái nhìn chủ quan, triết học chỉ quan tâm đến những vấn đề cốt lõi, còn văn
học, sự phản ánh nhất thiết phải gắn với cái đẹp. Ngay cả khi miêu tả một tên trộm, một cái
gì đó xấu xa, giả dối, thì văn học vẫn đi theo cây kim của la bàn mang tên cái đẹp, mục đích
cuối cùng, mục đích cốt lõi của văn học vẫn là hướng con người đến cái đẹp, đến những giá
trị chân thiện, mỹ. Văn học không thể không phản ánh cái xấu xa, cái giá dối, cái bất nhân,
nhưng mục đích vẫn phải là để tôn vinh cái đẹp, ca ngợi cái đẹp; phê phán, tố cáo, lên án
cái xấu, cái ác để người đọc thêm trân trọng cái tốt, cái đẹp.
1. KHÁI NIỆM NHÂN VẬT VĂN HỌC
Nhà văn người Đức W. Goethe có nói: “Con người là điều thú vị nhất đối với con người, và
con người cũng chủ hứng thú với con người”. Con người là nội dung quan trọng nhất của
văn học. Nhân vật văn học là khái niệm dùng để chỉ hình tượng các cá thể con người trong
tác phẩm văn học – cái đã được nhà văn nhận thức, tái tạo, thể hiện bằng các phương tiện
riêng của nghệ thuật ngôn từ.
Ðối tượng chung của văn học là cuộc đời nhưng trong đó con người luôn giữ vị trí trung
tâm. Những sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, những bức tranh thiên nhiên, những lời bình
luận…đều góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng cho tác phẩm nhưng cái quyết định chất
lượng tác phẩm văn học chính là việc xây dựng nhân vật. Ðọc một tác phẩm, cái đọng lại
sâu sắc nhất trong tâm hồn người đọc thường là số phận, tình cảm, cảm xúc, suy tư của
những con người được nhà văn thể hiện. Vì vậy, Tô Hoài đã có lí khi cho rằng “Nhân vật là
nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác”
“Văn học là nhân học” (M. Gorki). Văn học bao giờ cũng thể hiện cuộc sống của con
người. Nói đến nhân vật văn học là nói đến con người được nhà văn miêu tả thể hiện trong
tác phẩm, bằng phương tiện văn học. Nhân vật văn học có khi là những con người có họ tên
như: Từ Hải, Thúy Kiều, Lục Vân Tiên, Chị Dậu, anh Pha, … Khi là những người không
họ không tên như: tên lính lệ, người hầu gái, một số nhân vật xưng “tôi” trong các truyện
ngắn, tiểu thuyết hiện đại, như mình – ta trong ca dao. Khái niệm con người này cũng cần
được hiểu một cách rộng rãi trên hai phương diện: số lượng và chất lượng. Về số lượng, hầu
hết các tác phẩm từ văn học dân gian đến văn học hiện đại đều tập trung miêu tả số phận
của con người. Về chất lượng, dù nhà văn miêu tả thần linh, ma quỉ, đồ vật, … nhưng lại
gán cho nó những phẩm chất của con người. Nhân vật trong văn học có khi là một loài vật,
một đồ vật hoặc một hiện tượng nào đó của thế giới tự nhiên, mang ý nghĩa biểu trưng cho
số phận, cho tư tưởng, tình cảm của con người. Có thể nói nhân vật là phương tiện để phản
ánh đời sống, khái quát hiện thực.
Miêu tả con người, chính là việc xây dựng nhân vật của nhà văn. Ở đây, cần chú ý rằng
nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không là sự sao chép
đầy mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc
Th.s. TRỊNH THỊ HẰNG - TRỊNH THỊ TÚ - 0383902079
Page 7
TUYỂN CHỌN 105 ĐỀ - BÀI VĂN LUYỆN THI HSG THPT
MÔN: NGỮ VĂN
điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách. Nói đến văn học thì không thể thiếu nhân
vật, vì đó chính là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng.
Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó, về một
loại người nào đó, về một vấn đề nào đó của hiện thực. Những con người này có thể được
miêu tả kỹ hay sơ lược, sinh động hay không rõ nét, xuất hiện một hay nhiều lần, thường
xuyên hay từng lúc, giữ vai trò quan trọng nhiều, ít hoặc không ảnh hưởng nhiều lắm đối
với tác phẩm.
Có thể nói, “nhân vật là phương tiện để phản ánh đời sống, khái quát hiện thực. Chức năng
của nhân vật là khái quát những quy luật của cuộc sống và của con người, thể hiện những
hiểu biết, những ước mơ, kì vọng về đời sống”. Các vị thần như thần Trụ trời, thần Gió,
thần Mưa thể hiện nhận thức của người nguyên thuỷ về sức mạnh của tự nhiên mà con
người chưa giải thích được. Truyền thuyết về Lạc Long Quân và Âu Cơ thể hiện niềm tự
hào về nòi giống dân tộc Việt. Nhân vật lí tưởng của văn học cổ Hi – La là những anh hùng
chưa có ý thức về đời sống cá nhân, tìm lẽ sống trong việc phục vụ quyền lợi bộ tộc, thành
bang, quốc gia, đó là những Asin, Hécto trong Iliát, Uylítxơ trong Ôđixê, Prômêtê trong
Prômêtê bị xiềng. Nhà văn sáng tạo nên nhân vật là để thể hiện những cá nhân xã hội nhất
định và quan niệm về các cá nhân đó.
Nhân vật văn học được tạo nên bởi nhiều thành tố gồm hạt nhân tinh thần của cá nhân như:
ý chí, khát vọng, lí tưởng, các biểu hiện của thế giới cảm xúc, các lợi ích đời sống, các hình
thái ý thức, các hành động trong quá trình sống. Nhân vật văn học
 









Các ý kiến mới nhất