Giới thiệu sách tháng 1

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Văn Minh (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:47' 31-12-2024
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 5
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Văn Minh (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:47' 31-12-2024
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
TRƯỜNG TH THIỆN HƯNG C
BỘ PHẬN THƯ VIỆN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THƯ VIỆN
TRƯỜNG TH THIỆN HƯNG C
BÀI TUYÊN TRUYỀN, GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 01
NĂM HỌC: 2024 – 2025
Chủ đề: “Ngày Tết quê em”
Thời gian thực hiện: ngày 05 tháng 01 năm 2025
Địa điểm: Sân trường Trường Tiểu học Thiện Hưng C
Đối tượng: CB, GV, NV, HS Trường Tiểu học Thiện Hưng C
“Dù ai buôn bán đâu đâu
Nhớ ngày Tết đến rủ nhau mà về” (Ca dao)
Kính thưa quý thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn học sinh thân mến!
Tết Nguyên Đán là dịp lễ quan trọng nhất trong năm của người Việt,
được tính theo lịch âm, với ba ngày tết chính (3 ngày Tân Niên) là mùng 1,
mùng 2 và mùng 3 tháng Giêng âm lịch.
Tết Nguyên Đán bắt nguồn từ nền văn minh lúa nước Đông Á, do tập quán
canh tác bắt đầu vào mùa vào những ngày đầu năm, tức là tiết đầu tiên trong 24
tiết khí trong năm thường gọi là tiết Nguyên Đán, sau này gọi là Tết Nguyên
Đán.
Tết là dịp mọi người cùng nhau sum họp, quây quần bên nhau; để cầu chúc
cho mùa màng gieo cấy được thuận lợi, người dân thường chọn tiết khởi đầu
trong năm này để cúng lễ, ăn mừng, vui chơi nhằm gây dựng không khí vui
tươi, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng được bội thu.
Các hoạt động trong dịp Tết Nguyên Đán:
- Cúng ông Táo: Mua cá chép đem thả, làm cỗ cúng ông Táo ngày 23 tháng
Chạp.
- Cúng Tất Niên: Là một lễ cúng quan trọng và cần chuẩn bị tươm tất đủ đầy
với các món ăn truyền thống.
- Ngoài ra còn có lễ cúng Giao Thừa, lễ cúng trong 3 ngày Tân Niên.
2
- Đón giao thừa, chúc Tết: Trong những ngày tết mọi người thường có tục đến
thăm và chúc tết những người thân thiết.
- Đi chùa cầu may, lễ Phật, thể hiện một nét đẹp trong văn hóa tâm linh của
người Việt.
- Gói bánh chưng chuẩn bị ăn Tết những ngày cuối năm là một dấu ấn, một đặc
trưng không thể thiếu trong ngày Tết Nguyên Đán và cho đến ngày hôm nay nó
vẫn được duy trì như một phong tục đẹp đẽ.
Chúng mình cùng tiếp tục tìm hiểu về ngày Tết cổ truyền của dân tộc Việt
Nam nhé qua một số cuốn sách nhé!
Trong không khí rộn ràng đón Tết đang diễn ra trên khắp mọi miền trên đất
nước Việt Nam, hôm nay, thư viện Trường Tiểu học Thiện Hưng C xin được giới
thiệu cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo và các bạn học sinh một cuốn sách hay và ý
nghĩa viết về ngày Tết, đó là cuốn sách “Kể chuyện Tết Nguyên đán”.
“Kể chuyện Tết Nguyên Đán” do nhà văn Nguyễn Trương Quý biên soạn,
được Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành năm 2020. Gói gọn trong 40 trang sách là một
hệ sinh thái Tết vô cùng sinh động. Các bạn sẽ được tìm hiểu từ cội nguồn tâm linh
với các câu chuyện cổ tích, sự tích Táo quân, sự tích cây nêu ngày Tết, những tục lệ
đẹp như xông đất, mừng tuổi, xin chữ… đến văn hóa Tết với tranh Tết, câu đối Tết,
3
những lễ hội mùa xuân, gói bánh chưng, bày mâm ngũ quả… Đặc biệt là cuộc du
xuân ba miền trong sách sẽ giúp các bạn hiểu hơn về những nét khác biệt trong việc
đón năm mới ở từng nơi trên khắp Tổ quốc.
Không chỉ hấp dẫn ở nội dung với phong cách kể chuyện thủ thỉ, lời diễn giải
cặn kẽ, chi tiết, cuốn sách còn thu hút độc giả bởi bộ tranh minh họa. Nội dung cuốn
sách được minh họa bằng các bức tranh màu nước khổ lớn của họa sĩ Kim Duẩn. Màu
tranh rực rỡ, các bức tranh được họa sĩ nghiên cứu chi tiết, miêu tả chân thực rõ nét
nội dung mang đến một tác phẩm trọn vẹn cho mùa Xuân yêu thương, hạnh phúc,
quây quần bên người thân, gia đình.
4
Cuốn sách được chia làm ba phần:
Phần 1: Những ngày giáp Tết
Phần 2: Tục lễ ngày Tết.
5
Phần 3: Lễ hội.
Qua 40 trang sách “Kể chuyện Tết Nguyên đán” cho chúng ta được chiêm
nghiệm vào không gian và thời gian cổ xưa của người Việt và mọi vùng miền khác
nhau trên đất nước Việt Nam. Đó là những cảm xúc xốn xang phấn chấn, đắm chìm
vào những hương vị rất riêng biệt cùng hòa quyện vào không khí ấm cúng, rộn ràng
của những ngày Tết cổ truyền. Ẩn chứa trong đó một cách rõ nét những thuần phong
mỹ tục, văn hóa truyền thống từ ngàn đời để lại. Vậy lễ tết là lễ khiến lòng người ta
6
biết tôn trọng và sống hài hòa với thiên nhiên, tôn kính đất trời, tổ tiên cũng như tôn
kính cha mẹ.
Cuốn sách “Sự tích bánh chưng bánh giầy”
Không biết từ bao giờ, bánh chưng, bánh giầy đã trở thành thứ không thể thiếu
trên bàn thờ tổ tiên mỗi khi Tết đến, thể hiện quan niệm về vũ trụ, nhân sinh của
người xưa. Bánh chưng, bánh giầy là hình ảnh của quê hương với mầu xanh ruộng
đồng, sông núi, được làm ra từ những hạt "ngọc thực" quý nhất của thiên nhiên, sinh
sôi nảy nở trên những triền đất phù sa đồng bằng dưới sức lao động của con người.
Những sản vật giản dị, đậm đà hương vị không những ẩn chứa các giá trị văn hóa và
tâm linh mà còn mang ý nghĩa triết lý nhân sinh sâu sắc
Bánh chưng, bánh giầy được chế biến từ lúa nếp thơm, một sản phẩm tiêu biểu
của nghề trồng lúa nước có từ thời Vua Hùng. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, hai
sản vật này gắn với câu chuyện huyền sử về lòng hiếu thảo của chàng hoàng tử Lang
Liêu thời Hùng Vương dựng nước.
Truyện kể ràng: ngày xưa ở nước ta, trong số các con của Vua Hùng Vương
thứ 6 có một hoàng tử tên là Lang Liêu. Các hoàng tử khác đều văn hay võ giỏi,
nhưng đều không thích lao động chân tay, chỉ riêng có hoàng tử Lang Liêu là chăm
chỉ và yêu thích trồng trọt. Chàng thường cùng vợ con về quê hương vỡ ruộng, cuốc
bãi, cùng bà con nông dân trồng lúa gạo, hoa màu. Khi vua Hùng đã già yếu, muốn
kén chọn người kế vị, Vua phán truyền “ Đến ngày hội lớn đầu năm, ai dâng được của
ngon vật lạ nhất để cúng trời đất sẽ được ta truyền ngôi cho”.
Vào ngày hội lớn đầu năm, mọi người nô nức mang sản vật mà mình đã chuẩn
bị để dâng lên vua cha. Các hoàng tử mang của ngon vật lạ các nơi về đông đủ. Bên
cạnh những thứ đó, lễ vật của Lang Liêu lại rất đơn giản. Nhưng sau khi nghe Lang
Liêu tâu trình về cách làm và ý nghĩa của hai loại bánh. Nhà Vua bèn chọn lễ vật
Lang Liêu dâng để tế trời đất và đặt tên cho bánh hình vuông là bánh chưng và bánh
hình tròn là bánh giầy. Ông cũng chọn Lang Liêu là người nối ngôi báu. Từ đó nhân
dân ta có tục gói bánh chưng và giã bánh giầy trong dịp tết, chọn những cái ngon nhất
đẹp nhất bày lên bàn thờ cúng tổ tiên.
Cuốn sách “Sự tích hoa
đào hoa mai”
Đông qua là xuân tới,
khi từng đàn chim én chao
liệng trên bầu trời mang
thông điệp mùa xuân đang
về, vạn vật chuyển mình,
7
muôn hoa khoe sắc đua nhau nở. Không như mùa đông lạnh giá, mùa hè oi ả, mùa thu
buồn với những chiếc lá vàng rơi, mùa xuân mang tới cho chúng ta một không khí ấm
áp dịu hiền.
Mùa xuân được ví như một nàng công chúa xinh đẹp mà thượng đế đã ban tặng
cho loài người. Tô điểm cho cảnh đẹp mùa xuân là những loài hoa sặc sỡ và đặc biệt
không thể thiếu là hoa đào và hoa mai. Những loài hoa đó đã trở thành biểu tượng đặc
sắc nhất trong những ngày Tết cổ truyền hàng năm.
Hoa đào là hoa đặc trưng của mùa xuân miền Bắc, hoa mai là hoa đặc trưng của
mùa xuân miền Nam. Từ lâu, hoa đào và hoa mai đã trở thành loài hoa quen thuộc
trong ngày Tết cổ truyền Việt Nam. Thế nhưng vì sao hoa đào, hoa mai lại được nhắc
nhiều nhất trong mỗi dịp Tết đến, xuân về thì không phải ai cũng biết. Để giúp các em
hiểu rõ được điều đó, thư viện trường Tiểu học Thiện Hưng C trân trọng giới
thiệu cuốn sách "Sự tích Hoa Đào, Hoa Mai”. Biên soạn: Hiếu Minh, tranh: Chu
Minh Hoàng, sách do nhà xuất bản Kim Đồng phát hành năm 2016, dày 31 trang, in
trên khổ giấy 14,5x20,5cm, mỗi trang đều có hình ảnh minh họa hấp dẫn người đọc.
Nội dung cuốn sách chia làm 2 phần:
Phần một: Sự Tích Hoa Đào Ngày Tết (từ trang số 3 đến trang số 11)
Phần hai: Sự Tích Hoa Mai (từ trang số 12 đến trang số 31)
Phần một của cuốn sách là câu chuyện xuất phát từ một vùng phía đông núi
Sóc Sơn thuộc miền bắc nước ta “ngày xưa ở phía đông núi Sóc Sơn có một cây đào
cổ thụ, cành lá xum xuê khác thường, bóng râm che phủ cả một vùng”. Cây đào cổ
thụ ấy là nơi trú ngụ của 2 vị thần: thần Trà và thần Uất Lũy. Hai vị thần này sức vóc
phi thường, lại tinh thông nhiều phép thuật. Thuở ấy, làng nào cũng bị ma quỷ vào
quấy phá, cướp bóc làm dân lành vô cùng khổ sở và điêu đứng nhưng riêng ở vùng
núi Sóc Sơn thì chẳng ma quỷ nào dám bén mảng. Vì chúng biết rằng thần Trà và
thần Uất Lũy sức mạnh phi thường, quyền uy lừng lẫy. Nếu đặt chân đến đó thì không
tránh được sự trừng phạt của hai vị thần. Bọn ma quỷ khiếp sợ uy vũ sấm sét của hai
thần đến nỗi sợ luôn cả cây đào. Vì thế khi chỉ thấy cành hoa đào là chúng đã hoảng
sợ mà chạy xa. Cho nên những ngày hai vị thần bận lên chầu Ngọc Hoàng thì dân
làng bảo nhau chặt những cành hoa đào về cắm trong nhà để bọn ma quỷ thấy mà
tránh xa, không dám tác oai, tác quái. Cũng từ đó câu chuyện được lan rộng khắp nơi,
lâu dần việc ấy trở thành phong tục đẹp. Cứ mỗi dịp năm hết Tết đến nhà nhà đều có
cành đào tươi thắm.
Và cô bé tên Mai trong phần hai “ Sự Tích Hoa Mai” có gì bí ẩn, để tìm hiểu
điều bí ẩn đó, xin mời quý thầy cô và các em học sinh hãy đến thư viện của trường,
tận tay cầm cuốn sách này lên và đọc nhé.
Cuốn sách “Mười hai con giáp”
8
Mỗi khi bóc tờ lịch để xem ngày, ta có bao giờ cảm nhận được đó là công trình
vĩ đại của nhân loại, qua bao nhiêu thời đại?
Đối mặt với thời gian vô tận, vô biên thì
có lẽ con người dễ cảm thấy choáng ngợp,
nên phải tìm cách chia thời gian ra từng
khoảng bằng các khái niệm giờ, ngày,
tuần, tháng, năm, thế kỷ... Người Việt
Nam chúng ta, cũng như nhiều nước ở
châu Á, từ xưa đã dùng lịch vạn niên, tức
là âm lịch phổ biến trong dân gian hiện
nay. Và chia theo 12 cung, đặt tên cho mỗi
năm: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ,
Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, ứng với 12
con vật.
Ngày bé, được bà hoặc mẹ ru ta ngủ trên
chiếc võng trong xóm thôn: “...Tuổi Mẹo
là con mèo quao/ Hay cấu, hay cào, ăn
vụng thành tinh/ Tuổi Thìn Rồng ở thiên đình…” Sau này lớn lên, dần dần mới thấy
bằng mắt từng con vật ở mỗi con giáp. Có con ở ngay trong nhà như một thành viên
của gia đình, có con sống hoang dã ngoài đồng bãi, rừng núi... Biết thì biết vậy,
nhưng đặc tính của từng con ra sao, tại sao người xưa chọn nó thành biểu tượng cho
một năm? Và tại sao không phải 10 con giáp, 15 con giáp hay 20 con giáp mà là 12,
một chu kỳ “lục thập Hoa Giáp (60 năm)”?
Hơn nửa thế kỷ cầm bút trong nghề báo, hai tác giả đã để tâm về chuyện 12 con
giáp mà lưu giữ được một ít tư liệu của đồng nghiệp đăng rải rác trên các báo trong
Nam ngoài Bắc. Tất cả những tư liệu ấy được hai tác giả sắp xếp cho nên hình, nên
dạng một quyển sách mang tên “Chuyện 12 con giáp” gửi tới quý bạn đọc. Như
những gì tựa sách thể hiện, nội dung sách chỉ tập trung nói về 12 con vật, mà chủ yếu
bàn về những đức tính tốt của chúng.
Cuốn sách “Nắng xuân trên rẻo cao”
“Nắng xuân trên rẻo cao”của tác giả
Định Hải biên soạn, được in ấn tại Nhà xuất
bản Kim Đồng năm 2015 , với 40 trang sách,
được in trên khổ 14,5x20,5cm.
Bìa cuốn sách với gam màu trắng tựa
như vẻ đẹp của tuổi học trò, trên đó có vẽ hình
những ngọn núi có những đám mây uốn quanh,
chứa đựng bên trong rất nhiều lời thơ thật sâu
9
sắc cũng là những câu chuyện kể về nỗi khó khăn vất vả của một cô giáo dạy học trên
vùng cao:
Quê em đây
Giữa ngàn cây
Núi dựng núi
Mây trùm mây
Đi mấy ngày
Cô mới tới?
Cô giáo Tô Thị Rỉnh là người dân tộc Tày tình nguyện rời bản làng lên dạy học
cho trẻ em người Mông trên đỉnh núi cao tại xã Tân Việt, huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao
Bằng. Xã Tân Việt lúc bấy giớ có 33 gia đình, chia thành 4 bản để làm ăn sinh sống.
Đường đi lối lại ở đâu cũng lắm dốc nhiều đèo, cỏ cây rậm rạp, từ bản này sang bản
khác có khi phải đi đến cả ngày đường để vận động các gia đình cho con đi học, bước
đầu cô gặp muôn vàn khó khăn vì ở đây người ta không muốn cho con đi học bởi
cuộc sống còn nghèo và những suy nghĩ còn nhiều mê tín, lạc hậu. Cô giáo trẻ Tô Thị
Rỉnh đã học tiếng Mông để nói chuyện với đồng bào, các em học sinh, đi bộ cả ngày
đường để đến các bản làng vận động đồng bào cho con em đi học. Cô cùng lao động
làm việc giúp đỡ các gia đình để tạo cảm tình với nhân dân, vận động nhân dân cùng
mình xây dựng trường lớp. Để hấp dẫn thu hút đám trẻ nhỏ đến lớp cô đã mang theo
chiếc đàn tính là loại đàn người Tày vẫn thường dùng để đánh cho học sinh nghe. Rồi
sau buổi học cô còn tắm giặt cho các em nhỏ. Đêm đêm bên ngọn đèn khuya cô lại
ngồi vá quần áo cho các em, cô còn dành dụm số tiền lương ít ỏi để mua sách vở cho
các em. Thời gian qua đi dần dần cô đã thực sự trở thành như một người mẹ, người
cô, người chị ruột chị của những em học trò nhỏ ở một xã vùng cao tỉnh Cao Bằng.
Từ những buổi đầu người dân trên núi cao không cho con đi học, dần dần cô đã
thuyết phục được và họ còn giao con cho cô chăm sóc.
Với những thành tích trên tại Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua chống Mĩ cứu
nước tháng 1/1967 cô giáo Tô Thị Rỉnh đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu
Chiến sĩ thi đua ngành Giáo dục. Đất nước có nhiều đổi thay, sự nghiệp giáo dục nói
chung và sự nghiệp giáo dục đối với các con em dân tộc miền núi nói riêng luôn được
Đảng và Chính phủ quan tâm đặc biệt. Tại xã Tân Việt, huyện Bảo Lộc, tỉnh Lào Cao
Bằng nơi cô giáo trẻ Tô Thị Rỉnh dạy học năm xưa nay đã mọc lên nhiều ngôi trường
mới với nhiều trang thiết bị cần thiết dành cho học tập và các con đường về bản làng
phục vụ cho bà con và các em học sinh đi lại dễ dàng. Tấm gương vượt khó của cô
giáo để đem cái chữ đến với con em đồng bào các dân tộc vùng cao mãi để cho các
thế hệ hôm nay noi gương và học tập.
10
Để hiểu rõ hơn về con đường gian nan đem cái chữ đến với vùng cao như thế
nào, mời thầy cô và các bạn tìm đọc cuốn sách “Nắng xuân trên rẻo cao” ở thư viện
trường mình nhé.
Cuốn sách “ sự tích trầu cau”
ăn trầu.
Đây là một tác phẩm trong kho tàng truyện
cổ tích Việt Nam, có từ khoảng năm 2000
trước công nguyên thời vua Hùng và được
ghi lại trong sử thi "Lĩnh Nam Chích Quái"
Câu chuyện này nhân cách hóa nguồn gốc
của cây cau, cây trầu không và tảng đá vôi là
những thứ được sử dụng để ăn trầu cũng như
giải thích tục lệ sử dụng trầu cau trong các
đám cưới. Cho đến ngày nay, trầu cau vẫn là
thứ không thể thiếu trong việc giao hiếu, kết
thân và cưới hỏi của người Việt. Bình vôi ăn
trầu từng là một vật không thể thiếu trong
việc giao tế cũng như lễ nghi gắn liền với tục
Sự tích thuộc dạng văn học truyền miệng và có nhiều dị bản. Câu chuyện kể là
vào đời vua Hùng Vương thứ ba có hai anh em Tân và Lang rất thương yêu nhau. Tân
sau khi có vợ thì không còn chăm sóc đến em như trước nữa. Lang lấy làm buồn rầu
và bỏ nhà ra đi. Tới bên bờ suối thì Lang mệt quá, gục xuống chết và hóa thành tảng
đá vôi. Tân, không thấy em về, vì thương em nên quyết đi tìm. Đi đến bờ suối thì Tân
mệt lả và chết, biến thành cây cau bên tảng đá vôi. Vợ Tân không thấy chồng cũng bỏ
đi tìm. Nàng tìm đến bờ suối, ngồi dựa vào thân cau mà chết, biến thành dây trầu
không. Trầu, cau và vôi khi quyện lại với nhau tạo ra sắc đỏ như máu nên sau có vua
Hùng Vương đi tuần qua đó, nghe thấy câu chuyện trên mà dạy cho dân Việt hãy
dùng ba thứ vôi, cau và trầu làm biểu tượng tình nghĩa thắm thiết anh em, vợ
chồng. Ngôi đền thờ ba người hiện nay là đền Tam Khương ở làng Nam Hoa,
huyện Nam Đàn (Nghệ An) mà các triều đại
phong kiến vẫn có sắc phong tặng.
Cuốn sách “ Tập tục quê em. Cúng giỗ
Tổ tiên”
“Tập tục quê em. Cúng giỗ tổ tiên” của
nhà xuất bản Kim đồng. Cuốn sách dày 20tr, khổ
sách nhỏ gọn rất thuận tiện cho bạn đọc. bìa sách
được trình bày với màu sắc rất trang nhã kết hợp
11
với hình ảnh mâm cỗ cúng trên ban thờ phần nào đã thể hiện được nội dung của câu
chuyện.
Nội dung: cuốn sách sẽ giới thiệu cho các em biết được một số quốc gia và
vùng lãnh thổ trên thế giới cũng đón tết cổ truyền theo lịch âm, tuy nhiên thời điểm
và phong tục khác nhau, như: Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Triều Tiên,
Singapore, Campuchia, Lào, Thái Lan, Mông Cổ, Ấn Độ, Bhutan và Việt Nam.
Cuốn sách tuy không giày nhưng chứa đựng vô vàn nội dung phong phú và bổ
ích sẽ giúp các em hiểu hơn về tập tục của quê hương mình như tại sao ngày giỗ lại
khác ngày sinh nhật, cha mẹ mất đi thì ai là người thờ cúng và cúng vào những ngày,
dịp nào? Đặc biệt là cuốn sách sẽ cho chúng ta biết về: Cây phả hệ (ba đời) của một
gia đình, vị trí của trang thờ (ảnh thờ), cách sửa soạn bàn thờ, bày biện mâm ngũ quả,
đồ nấu để dâng lên bàn thờ…
Bài viết: “Nguồn gốc Tết cổ truyên Việt Nam” trên Website của thư viện trường.
Nguồn gốc Tết cổ truyền Việt Nam
Đến nay, nhiều người trong
chúng ta vẫn chưa biết dân tộc Việt
bắt đầu ăn Tết từ bao giờ và tại sao
có ngày Tết. Sách “Việt sử đại toàn”
đã ghi lại việc này, tuy không cụ thể
nhưng qua phân tích ta có thể suy
đoán một cách tương đối về thời
gian hình thành mỹ tục ăn Tết cổ
truyền của dân tộc Việt.
Truyền thuyết và lịch sử cho
thấy: Họ Hồng Bàng dựng nước
Văn Lang từ năm Nhâm Tuất 2879
trước công nguyên, trị vì cả 2.622 năm. Kinh Dương Vương sinh ra Lạc Long Quân,
sau khi nối ngôi, vị vua hiền đức này kết hôn cùng bà Âu Cơ sinh ra Hùng Vương. Từ
thời đó, người Việt ta đã ăn Tết. Bắt đầu có bánh chưng, bánh dầy nhờ sáng kiến của
Lang Liêu - con trai thứ 18 của vua Hùng Vương 6. Có thể nói nước ta sớm hình
thành một nền văn hoá truyền thống mang bản sắc riêng của người Việt. Nền văn hoá
với những đặc trưng của nền nông nghiệp lúa nước, cùng những sản vật từ lúa gạo.
Gạo - thứ thực phẩm chính nuôi sống con người, trong đó gạo nếp là thứ ngon nhất,
thơm, dẻo, nhiều chất. Chính vì lẽ đó, gạo nếp được chọn để làm thành các thứ bánh
dành cho việc cúng tế tổ tiên trong ngày đầu năm. Thực ra, cho đến nay, nói một cách
chính xác dân ta ăn Tết bắt đầu từ khi nào không ai nắm rõ. Lịch sử Trung Hoa viết,
từ thế kỷ thứ nhất, Nhâm Diên và Tích Quang - quan nước Tàu sang nước ta, truyền
cho dân ta biết làm ruộng và các sinh hoạt văn hoá khác, trong đó có cả việc ăn Tết cổ
12
truyền. Song thực tế đã chứng minh rằng: Trước khi người Trung Hoa sang đô hộ,
dân tộc Việt đã có sinh hoạt văn hoá nền nếp và đặc sắc.
Thứ nhất:
Vua Hùng không giống các vị hoàng đế Trung Hoa - nhất nhất theo Khổng
giáo. Việc truyền ngôi cho con trai thứ 18 đã chứng tỏ sự khác biệt của dân tộc Việt
với dân tộc Hoa. Thông thường các hoàng đế truyền lại ngôi cho vị hoàng tử cả
nhưng Hùng Vương thứ 6 của nước Văn Lang không theo nguyên tắc đó, ông chọn
người kế vị trị vì đất nước thay mình là người hiền đức, bất luận đó là cả hay thứ.
Thứ hai:
Lang Liêu là một hoàng tử, đương nhiên phải là người được tiếp thu, thấm
nhuần văn hoá dân tộc và tư duy theo cách của đồng bào mình. Theo đó, thấy rằng,
dân tộc Việt ta có cách nghĩ thực tế hơn so với người Hoa. Bánh chưng vuông tượng
trưng cho đất. Đất ở đây không có nghĩa là trái đất, mà là những mảnh ruộng vuông
vắn - nơi người dân trồng cây lúa nước nuôi sống chính mình. Bánh giày tượng trưng
cho trời tròn không có nghĩa là bầu trời hình tròn, mà là hệ vòng quay 4 mùa: xuân,
hạ, thu, đông liên tiếp. Người Hoa thường giải thích vạn vật qua những hệ số, bói
toán trừu tượng, đôi khi như ma thuật rất xa xôi, khó hình dung.
Như vậy, có thể nói Tết cổ truyền của Việt Nam phải hình thành từ trước thế kỷ
thứ nhất, không phải do người Hoa khai hoá hay đồng hoá. Tuy nhiên, do cùng nằm
chung vùng lục địa, lại nằm kề nhau nên không thể không mang những ảnh hưởng
của nhau. Sau này, khi Trung Hoa đô hộ nước ta nhiều năm liền những ảnh hưởng đó
càng lớn hơn. Song về cơ bản bánh chưng, bánh dày là đặc trưng của dân tộc Việt.
Trong ngày Tết cổ truyền có thể thiếu câu đối đỏ song không thể không có bánh
chưng xanh để cúng tế tổ tiên./.
Các cuốn sách trên hiện đang có mặt tại thư viện nhà trường rất mong được các
em đón đọc.
Ngoài ra, Thầy cô và các em học sinh có thể đọc hoặc nghe qua sách nói, thư
viện số của nhà trường.
STT
Tên truyện
Đường link thư viện số
1
Chợ tết
https://th-thienhunga-binhphuoc.violet.vn/present/cho-tet-14321592.html
2
Tết ơi là tết
th-thienhunga-binhphuoc.violet.vn/present/tet-oi-tet-a-14321573.html
3
Mùi của tết
https://th-thienhunga-binhphuoc.violet.vn/present/mui-cua-tet14321409.html
13
4
Nguồn gốc tế cổ truyền Việt
Nam
https://th-thienhunga-binhphuoc.violet.vn/entry/nguon-goc-tet-co-truyenviet-nam-14321369.html
5
Bé yêu ngày tết
https://th-thienhunga-binhphuoc.violet.vn/present/be-yeu-ngay-tet14321536.html
Các bạn thân mến! Sách đã có tại thư viện nhà trường, hoặc các bạn hãy tìm
đọc trên website nhà trường và đọc trên kho sách online, sách nói thiếu nhi, hy vọng
cuốn sách sẽ mang lại cho các em những kiến thức bổ ích và thiết thực về phong tục
của dân tộc Việt Nam. Bài tuyên truyền giới thiệu sách đến đây là hết rồi hẹn gặp lại
các bạn học sinh trong buổi tuyên truyền giới thiệu sách mới lần sau. Chúc các bạn có
một cái tết vui vẻ đầm ấm bên gia đình, thêm một tuổi mới luôn chăm ngoan học giỏi!
Xin chào và hẹn gặp lại!
Thiện Hưng, ngày 02 tháng 01 năm 2024
NHÂN VIÊN THƯ VIỆN
Hoàng Đức Vinh
BỘ PHẬN THƯ VIỆN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THƯ VIỆN
TRƯỜNG TH THIỆN HƯNG C
BÀI TUYÊN TRUYỀN, GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 01
NĂM HỌC: 2024 – 2025
Chủ đề: “Ngày Tết quê em”
Thời gian thực hiện: ngày 05 tháng 01 năm 2025
Địa điểm: Sân trường Trường Tiểu học Thiện Hưng C
Đối tượng: CB, GV, NV, HS Trường Tiểu học Thiện Hưng C
“Dù ai buôn bán đâu đâu
Nhớ ngày Tết đến rủ nhau mà về” (Ca dao)
Kính thưa quý thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn học sinh thân mến!
Tết Nguyên Đán là dịp lễ quan trọng nhất trong năm của người Việt,
được tính theo lịch âm, với ba ngày tết chính (3 ngày Tân Niên) là mùng 1,
mùng 2 và mùng 3 tháng Giêng âm lịch.
Tết Nguyên Đán bắt nguồn từ nền văn minh lúa nước Đông Á, do tập quán
canh tác bắt đầu vào mùa vào những ngày đầu năm, tức là tiết đầu tiên trong 24
tiết khí trong năm thường gọi là tiết Nguyên Đán, sau này gọi là Tết Nguyên
Đán.
Tết là dịp mọi người cùng nhau sum họp, quây quần bên nhau; để cầu chúc
cho mùa màng gieo cấy được thuận lợi, người dân thường chọn tiết khởi đầu
trong năm này để cúng lễ, ăn mừng, vui chơi nhằm gây dựng không khí vui
tươi, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng được bội thu.
Các hoạt động trong dịp Tết Nguyên Đán:
- Cúng ông Táo: Mua cá chép đem thả, làm cỗ cúng ông Táo ngày 23 tháng
Chạp.
- Cúng Tất Niên: Là một lễ cúng quan trọng và cần chuẩn bị tươm tất đủ đầy
với các món ăn truyền thống.
- Ngoài ra còn có lễ cúng Giao Thừa, lễ cúng trong 3 ngày Tân Niên.
2
- Đón giao thừa, chúc Tết: Trong những ngày tết mọi người thường có tục đến
thăm và chúc tết những người thân thiết.
- Đi chùa cầu may, lễ Phật, thể hiện một nét đẹp trong văn hóa tâm linh của
người Việt.
- Gói bánh chưng chuẩn bị ăn Tết những ngày cuối năm là một dấu ấn, một đặc
trưng không thể thiếu trong ngày Tết Nguyên Đán và cho đến ngày hôm nay nó
vẫn được duy trì như một phong tục đẹp đẽ.
Chúng mình cùng tiếp tục tìm hiểu về ngày Tết cổ truyền của dân tộc Việt
Nam nhé qua một số cuốn sách nhé!
Trong không khí rộn ràng đón Tết đang diễn ra trên khắp mọi miền trên đất
nước Việt Nam, hôm nay, thư viện Trường Tiểu học Thiện Hưng C xin được giới
thiệu cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo và các bạn học sinh một cuốn sách hay và ý
nghĩa viết về ngày Tết, đó là cuốn sách “Kể chuyện Tết Nguyên đán”.
“Kể chuyện Tết Nguyên Đán” do nhà văn Nguyễn Trương Quý biên soạn,
được Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành năm 2020. Gói gọn trong 40 trang sách là một
hệ sinh thái Tết vô cùng sinh động. Các bạn sẽ được tìm hiểu từ cội nguồn tâm linh
với các câu chuyện cổ tích, sự tích Táo quân, sự tích cây nêu ngày Tết, những tục lệ
đẹp như xông đất, mừng tuổi, xin chữ… đến văn hóa Tết với tranh Tết, câu đối Tết,
3
những lễ hội mùa xuân, gói bánh chưng, bày mâm ngũ quả… Đặc biệt là cuộc du
xuân ba miền trong sách sẽ giúp các bạn hiểu hơn về những nét khác biệt trong việc
đón năm mới ở từng nơi trên khắp Tổ quốc.
Không chỉ hấp dẫn ở nội dung với phong cách kể chuyện thủ thỉ, lời diễn giải
cặn kẽ, chi tiết, cuốn sách còn thu hút độc giả bởi bộ tranh minh họa. Nội dung cuốn
sách được minh họa bằng các bức tranh màu nước khổ lớn của họa sĩ Kim Duẩn. Màu
tranh rực rỡ, các bức tranh được họa sĩ nghiên cứu chi tiết, miêu tả chân thực rõ nét
nội dung mang đến một tác phẩm trọn vẹn cho mùa Xuân yêu thương, hạnh phúc,
quây quần bên người thân, gia đình.
4
Cuốn sách được chia làm ba phần:
Phần 1: Những ngày giáp Tết
Phần 2: Tục lễ ngày Tết.
5
Phần 3: Lễ hội.
Qua 40 trang sách “Kể chuyện Tết Nguyên đán” cho chúng ta được chiêm
nghiệm vào không gian và thời gian cổ xưa của người Việt và mọi vùng miền khác
nhau trên đất nước Việt Nam. Đó là những cảm xúc xốn xang phấn chấn, đắm chìm
vào những hương vị rất riêng biệt cùng hòa quyện vào không khí ấm cúng, rộn ràng
của những ngày Tết cổ truyền. Ẩn chứa trong đó một cách rõ nét những thuần phong
mỹ tục, văn hóa truyền thống từ ngàn đời để lại. Vậy lễ tết là lễ khiến lòng người ta
6
biết tôn trọng và sống hài hòa với thiên nhiên, tôn kính đất trời, tổ tiên cũng như tôn
kính cha mẹ.
Cuốn sách “Sự tích bánh chưng bánh giầy”
Không biết từ bao giờ, bánh chưng, bánh giầy đã trở thành thứ không thể thiếu
trên bàn thờ tổ tiên mỗi khi Tết đến, thể hiện quan niệm về vũ trụ, nhân sinh của
người xưa. Bánh chưng, bánh giầy là hình ảnh của quê hương với mầu xanh ruộng
đồng, sông núi, được làm ra từ những hạt "ngọc thực" quý nhất của thiên nhiên, sinh
sôi nảy nở trên những triền đất phù sa đồng bằng dưới sức lao động của con người.
Những sản vật giản dị, đậm đà hương vị không những ẩn chứa các giá trị văn hóa và
tâm linh mà còn mang ý nghĩa triết lý nhân sinh sâu sắc
Bánh chưng, bánh giầy được chế biến từ lúa nếp thơm, một sản phẩm tiêu biểu
của nghề trồng lúa nước có từ thời Vua Hùng. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, hai
sản vật này gắn với câu chuyện huyền sử về lòng hiếu thảo của chàng hoàng tử Lang
Liêu thời Hùng Vương dựng nước.
Truyện kể ràng: ngày xưa ở nước ta, trong số các con của Vua Hùng Vương
thứ 6 có một hoàng tử tên là Lang Liêu. Các hoàng tử khác đều văn hay võ giỏi,
nhưng đều không thích lao động chân tay, chỉ riêng có hoàng tử Lang Liêu là chăm
chỉ và yêu thích trồng trọt. Chàng thường cùng vợ con về quê hương vỡ ruộng, cuốc
bãi, cùng bà con nông dân trồng lúa gạo, hoa màu. Khi vua Hùng đã già yếu, muốn
kén chọn người kế vị, Vua phán truyền “ Đến ngày hội lớn đầu năm, ai dâng được của
ngon vật lạ nhất để cúng trời đất sẽ được ta truyền ngôi cho”.
Vào ngày hội lớn đầu năm, mọi người nô nức mang sản vật mà mình đã chuẩn
bị để dâng lên vua cha. Các hoàng tử mang của ngon vật lạ các nơi về đông đủ. Bên
cạnh những thứ đó, lễ vật của Lang Liêu lại rất đơn giản. Nhưng sau khi nghe Lang
Liêu tâu trình về cách làm và ý nghĩa của hai loại bánh. Nhà Vua bèn chọn lễ vật
Lang Liêu dâng để tế trời đất và đặt tên cho bánh hình vuông là bánh chưng và bánh
hình tròn là bánh giầy. Ông cũng chọn Lang Liêu là người nối ngôi báu. Từ đó nhân
dân ta có tục gói bánh chưng và giã bánh giầy trong dịp tết, chọn những cái ngon nhất
đẹp nhất bày lên bàn thờ cúng tổ tiên.
Cuốn sách “Sự tích hoa
đào hoa mai”
Đông qua là xuân tới,
khi từng đàn chim én chao
liệng trên bầu trời mang
thông điệp mùa xuân đang
về, vạn vật chuyển mình,
7
muôn hoa khoe sắc đua nhau nở. Không như mùa đông lạnh giá, mùa hè oi ả, mùa thu
buồn với những chiếc lá vàng rơi, mùa xuân mang tới cho chúng ta một không khí ấm
áp dịu hiền.
Mùa xuân được ví như một nàng công chúa xinh đẹp mà thượng đế đã ban tặng
cho loài người. Tô điểm cho cảnh đẹp mùa xuân là những loài hoa sặc sỡ và đặc biệt
không thể thiếu là hoa đào và hoa mai. Những loài hoa đó đã trở thành biểu tượng đặc
sắc nhất trong những ngày Tết cổ truyền hàng năm.
Hoa đào là hoa đặc trưng của mùa xuân miền Bắc, hoa mai là hoa đặc trưng của
mùa xuân miền Nam. Từ lâu, hoa đào và hoa mai đã trở thành loài hoa quen thuộc
trong ngày Tết cổ truyền Việt Nam. Thế nhưng vì sao hoa đào, hoa mai lại được nhắc
nhiều nhất trong mỗi dịp Tết đến, xuân về thì không phải ai cũng biết. Để giúp các em
hiểu rõ được điều đó, thư viện trường Tiểu học Thiện Hưng C trân trọng giới
thiệu cuốn sách "Sự tích Hoa Đào, Hoa Mai”. Biên soạn: Hiếu Minh, tranh: Chu
Minh Hoàng, sách do nhà xuất bản Kim Đồng phát hành năm 2016, dày 31 trang, in
trên khổ giấy 14,5x20,5cm, mỗi trang đều có hình ảnh minh họa hấp dẫn người đọc.
Nội dung cuốn sách chia làm 2 phần:
Phần một: Sự Tích Hoa Đào Ngày Tết (từ trang số 3 đến trang số 11)
Phần hai: Sự Tích Hoa Mai (từ trang số 12 đến trang số 31)
Phần một của cuốn sách là câu chuyện xuất phát từ một vùng phía đông núi
Sóc Sơn thuộc miền bắc nước ta “ngày xưa ở phía đông núi Sóc Sơn có một cây đào
cổ thụ, cành lá xum xuê khác thường, bóng râm che phủ cả một vùng”. Cây đào cổ
thụ ấy là nơi trú ngụ của 2 vị thần: thần Trà và thần Uất Lũy. Hai vị thần này sức vóc
phi thường, lại tinh thông nhiều phép thuật. Thuở ấy, làng nào cũng bị ma quỷ vào
quấy phá, cướp bóc làm dân lành vô cùng khổ sở và điêu đứng nhưng riêng ở vùng
núi Sóc Sơn thì chẳng ma quỷ nào dám bén mảng. Vì chúng biết rằng thần Trà và
thần Uất Lũy sức mạnh phi thường, quyền uy lừng lẫy. Nếu đặt chân đến đó thì không
tránh được sự trừng phạt của hai vị thần. Bọn ma quỷ khiếp sợ uy vũ sấm sét của hai
thần đến nỗi sợ luôn cả cây đào. Vì thế khi chỉ thấy cành hoa đào là chúng đã hoảng
sợ mà chạy xa. Cho nên những ngày hai vị thần bận lên chầu Ngọc Hoàng thì dân
làng bảo nhau chặt những cành hoa đào về cắm trong nhà để bọn ma quỷ thấy mà
tránh xa, không dám tác oai, tác quái. Cũng từ đó câu chuyện được lan rộng khắp nơi,
lâu dần việc ấy trở thành phong tục đẹp. Cứ mỗi dịp năm hết Tết đến nhà nhà đều có
cành đào tươi thắm.
Và cô bé tên Mai trong phần hai “ Sự Tích Hoa Mai” có gì bí ẩn, để tìm hiểu
điều bí ẩn đó, xin mời quý thầy cô và các em học sinh hãy đến thư viện của trường,
tận tay cầm cuốn sách này lên và đọc nhé.
Cuốn sách “Mười hai con giáp”
8
Mỗi khi bóc tờ lịch để xem ngày, ta có bao giờ cảm nhận được đó là công trình
vĩ đại của nhân loại, qua bao nhiêu thời đại?
Đối mặt với thời gian vô tận, vô biên thì
có lẽ con người dễ cảm thấy choáng ngợp,
nên phải tìm cách chia thời gian ra từng
khoảng bằng các khái niệm giờ, ngày,
tuần, tháng, năm, thế kỷ... Người Việt
Nam chúng ta, cũng như nhiều nước ở
châu Á, từ xưa đã dùng lịch vạn niên, tức
là âm lịch phổ biến trong dân gian hiện
nay. Và chia theo 12 cung, đặt tên cho mỗi
năm: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ,
Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, ứng với 12
con vật.
Ngày bé, được bà hoặc mẹ ru ta ngủ trên
chiếc võng trong xóm thôn: “...Tuổi Mẹo
là con mèo quao/ Hay cấu, hay cào, ăn
vụng thành tinh/ Tuổi Thìn Rồng ở thiên đình…” Sau này lớn lên, dần dần mới thấy
bằng mắt từng con vật ở mỗi con giáp. Có con ở ngay trong nhà như một thành viên
của gia đình, có con sống hoang dã ngoài đồng bãi, rừng núi... Biết thì biết vậy,
nhưng đặc tính của từng con ra sao, tại sao người xưa chọn nó thành biểu tượng cho
một năm? Và tại sao không phải 10 con giáp, 15 con giáp hay 20 con giáp mà là 12,
một chu kỳ “lục thập Hoa Giáp (60 năm)”?
Hơn nửa thế kỷ cầm bút trong nghề báo, hai tác giả đã để tâm về chuyện 12 con
giáp mà lưu giữ được một ít tư liệu của đồng nghiệp đăng rải rác trên các báo trong
Nam ngoài Bắc. Tất cả những tư liệu ấy được hai tác giả sắp xếp cho nên hình, nên
dạng một quyển sách mang tên “Chuyện 12 con giáp” gửi tới quý bạn đọc. Như
những gì tựa sách thể hiện, nội dung sách chỉ tập trung nói về 12 con vật, mà chủ yếu
bàn về những đức tính tốt của chúng.
Cuốn sách “Nắng xuân trên rẻo cao”
“Nắng xuân trên rẻo cao”của tác giả
Định Hải biên soạn, được in ấn tại Nhà xuất
bản Kim Đồng năm 2015 , với 40 trang sách,
được in trên khổ 14,5x20,5cm.
Bìa cuốn sách với gam màu trắng tựa
như vẻ đẹp của tuổi học trò, trên đó có vẽ hình
những ngọn núi có những đám mây uốn quanh,
chứa đựng bên trong rất nhiều lời thơ thật sâu
9
sắc cũng là những câu chuyện kể về nỗi khó khăn vất vả của một cô giáo dạy học trên
vùng cao:
Quê em đây
Giữa ngàn cây
Núi dựng núi
Mây trùm mây
Đi mấy ngày
Cô mới tới?
Cô giáo Tô Thị Rỉnh là người dân tộc Tày tình nguyện rời bản làng lên dạy học
cho trẻ em người Mông trên đỉnh núi cao tại xã Tân Việt, huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao
Bằng. Xã Tân Việt lúc bấy giớ có 33 gia đình, chia thành 4 bản để làm ăn sinh sống.
Đường đi lối lại ở đâu cũng lắm dốc nhiều đèo, cỏ cây rậm rạp, từ bản này sang bản
khác có khi phải đi đến cả ngày đường để vận động các gia đình cho con đi học, bước
đầu cô gặp muôn vàn khó khăn vì ở đây người ta không muốn cho con đi học bởi
cuộc sống còn nghèo và những suy nghĩ còn nhiều mê tín, lạc hậu. Cô giáo trẻ Tô Thị
Rỉnh đã học tiếng Mông để nói chuyện với đồng bào, các em học sinh, đi bộ cả ngày
đường để đến các bản làng vận động đồng bào cho con em đi học. Cô cùng lao động
làm việc giúp đỡ các gia đình để tạo cảm tình với nhân dân, vận động nhân dân cùng
mình xây dựng trường lớp. Để hấp dẫn thu hút đám trẻ nhỏ đến lớp cô đã mang theo
chiếc đàn tính là loại đàn người Tày vẫn thường dùng để đánh cho học sinh nghe. Rồi
sau buổi học cô còn tắm giặt cho các em nhỏ. Đêm đêm bên ngọn đèn khuya cô lại
ngồi vá quần áo cho các em, cô còn dành dụm số tiền lương ít ỏi để mua sách vở cho
các em. Thời gian qua đi dần dần cô đã thực sự trở thành như một người mẹ, người
cô, người chị ruột chị của những em học trò nhỏ ở một xã vùng cao tỉnh Cao Bằng.
Từ những buổi đầu người dân trên núi cao không cho con đi học, dần dần cô đã
thuyết phục được và họ còn giao con cho cô chăm sóc.
Với những thành tích trên tại Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua chống Mĩ cứu
nước tháng 1/1967 cô giáo Tô Thị Rỉnh đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu
Chiến sĩ thi đua ngành Giáo dục. Đất nước có nhiều đổi thay, sự nghiệp giáo dục nói
chung và sự nghiệp giáo dục đối với các con em dân tộc miền núi nói riêng luôn được
Đảng và Chính phủ quan tâm đặc biệt. Tại xã Tân Việt, huyện Bảo Lộc, tỉnh Lào Cao
Bằng nơi cô giáo trẻ Tô Thị Rỉnh dạy học năm xưa nay đã mọc lên nhiều ngôi trường
mới với nhiều trang thiết bị cần thiết dành cho học tập và các con đường về bản làng
phục vụ cho bà con và các em học sinh đi lại dễ dàng. Tấm gương vượt khó của cô
giáo để đem cái chữ đến với con em đồng bào các dân tộc vùng cao mãi để cho các
thế hệ hôm nay noi gương và học tập.
10
Để hiểu rõ hơn về con đường gian nan đem cái chữ đến với vùng cao như thế
nào, mời thầy cô và các bạn tìm đọc cuốn sách “Nắng xuân trên rẻo cao” ở thư viện
trường mình nhé.
Cuốn sách “ sự tích trầu cau”
ăn trầu.
Đây là một tác phẩm trong kho tàng truyện
cổ tích Việt Nam, có từ khoảng năm 2000
trước công nguyên thời vua Hùng và được
ghi lại trong sử thi "Lĩnh Nam Chích Quái"
Câu chuyện này nhân cách hóa nguồn gốc
của cây cau, cây trầu không và tảng đá vôi là
những thứ được sử dụng để ăn trầu cũng như
giải thích tục lệ sử dụng trầu cau trong các
đám cưới. Cho đến ngày nay, trầu cau vẫn là
thứ không thể thiếu trong việc giao hiếu, kết
thân và cưới hỏi của người Việt. Bình vôi ăn
trầu từng là một vật không thể thiếu trong
việc giao tế cũng như lễ nghi gắn liền với tục
Sự tích thuộc dạng văn học truyền miệng và có nhiều dị bản. Câu chuyện kể là
vào đời vua Hùng Vương thứ ba có hai anh em Tân và Lang rất thương yêu nhau. Tân
sau khi có vợ thì không còn chăm sóc đến em như trước nữa. Lang lấy làm buồn rầu
và bỏ nhà ra đi. Tới bên bờ suối thì Lang mệt quá, gục xuống chết và hóa thành tảng
đá vôi. Tân, không thấy em về, vì thương em nên quyết đi tìm. Đi đến bờ suối thì Tân
mệt lả và chết, biến thành cây cau bên tảng đá vôi. Vợ Tân không thấy chồng cũng bỏ
đi tìm. Nàng tìm đến bờ suối, ngồi dựa vào thân cau mà chết, biến thành dây trầu
không. Trầu, cau và vôi khi quyện lại với nhau tạo ra sắc đỏ như máu nên sau có vua
Hùng Vương đi tuần qua đó, nghe thấy câu chuyện trên mà dạy cho dân Việt hãy
dùng ba thứ vôi, cau và trầu làm biểu tượng tình nghĩa thắm thiết anh em, vợ
chồng. Ngôi đền thờ ba người hiện nay là đền Tam Khương ở làng Nam Hoa,
huyện Nam Đàn (Nghệ An) mà các triều đại
phong kiến vẫn có sắc phong tặng.
Cuốn sách “ Tập tục quê em. Cúng giỗ
Tổ tiên”
“Tập tục quê em. Cúng giỗ tổ tiên” của
nhà xuất bản Kim đồng. Cuốn sách dày 20tr, khổ
sách nhỏ gọn rất thuận tiện cho bạn đọc. bìa sách
được trình bày với màu sắc rất trang nhã kết hợp
11
với hình ảnh mâm cỗ cúng trên ban thờ phần nào đã thể hiện được nội dung của câu
chuyện.
Nội dung: cuốn sách sẽ giới thiệu cho các em biết được một số quốc gia và
vùng lãnh thổ trên thế giới cũng đón tết cổ truyền theo lịch âm, tuy nhiên thời điểm
và phong tục khác nhau, như: Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Triều Tiên,
Singapore, Campuchia, Lào, Thái Lan, Mông Cổ, Ấn Độ, Bhutan và Việt Nam.
Cuốn sách tuy không giày nhưng chứa đựng vô vàn nội dung phong phú và bổ
ích sẽ giúp các em hiểu hơn về tập tục của quê hương mình như tại sao ngày giỗ lại
khác ngày sinh nhật, cha mẹ mất đi thì ai là người thờ cúng và cúng vào những ngày,
dịp nào? Đặc biệt là cuốn sách sẽ cho chúng ta biết về: Cây phả hệ (ba đời) của một
gia đình, vị trí của trang thờ (ảnh thờ), cách sửa soạn bàn thờ, bày biện mâm ngũ quả,
đồ nấu để dâng lên bàn thờ…
Bài viết: “Nguồn gốc Tết cổ truyên Việt Nam” trên Website của thư viện trường.
Nguồn gốc Tết cổ truyền Việt Nam
Đến nay, nhiều người trong
chúng ta vẫn chưa biết dân tộc Việt
bắt đầu ăn Tết từ bao giờ và tại sao
có ngày Tết. Sách “Việt sử đại toàn”
đã ghi lại việc này, tuy không cụ thể
nhưng qua phân tích ta có thể suy
đoán một cách tương đối về thời
gian hình thành mỹ tục ăn Tết cổ
truyền của dân tộc Việt.
Truyền thuyết và lịch sử cho
thấy: Họ Hồng Bàng dựng nước
Văn Lang từ năm Nhâm Tuất 2879
trước công nguyên, trị vì cả 2.622 năm. Kinh Dương Vương sinh ra Lạc Long Quân,
sau khi nối ngôi, vị vua hiền đức này kết hôn cùng bà Âu Cơ sinh ra Hùng Vương. Từ
thời đó, người Việt ta đã ăn Tết. Bắt đầu có bánh chưng, bánh dầy nhờ sáng kiến của
Lang Liêu - con trai thứ 18 của vua Hùng Vương 6. Có thể nói nước ta sớm hình
thành một nền văn hoá truyền thống mang bản sắc riêng của người Việt. Nền văn hoá
với những đặc trưng của nền nông nghiệp lúa nước, cùng những sản vật từ lúa gạo.
Gạo - thứ thực phẩm chính nuôi sống con người, trong đó gạo nếp là thứ ngon nhất,
thơm, dẻo, nhiều chất. Chính vì lẽ đó, gạo nếp được chọn để làm thành các thứ bánh
dành cho việc cúng tế tổ tiên trong ngày đầu năm. Thực ra, cho đến nay, nói một cách
chính xác dân ta ăn Tết bắt đầu từ khi nào không ai nắm rõ. Lịch sử Trung Hoa viết,
từ thế kỷ thứ nhất, Nhâm Diên và Tích Quang - quan nước Tàu sang nước ta, truyền
cho dân ta biết làm ruộng và các sinh hoạt văn hoá khác, trong đó có cả việc ăn Tết cổ
12
truyền. Song thực tế đã chứng minh rằng: Trước khi người Trung Hoa sang đô hộ,
dân tộc Việt đã có sinh hoạt văn hoá nền nếp và đặc sắc.
Thứ nhất:
Vua Hùng không giống các vị hoàng đế Trung Hoa - nhất nhất theo Khổng
giáo. Việc truyền ngôi cho con trai thứ 18 đã chứng tỏ sự khác biệt của dân tộc Việt
với dân tộc Hoa. Thông thường các hoàng đế truyền lại ngôi cho vị hoàng tử cả
nhưng Hùng Vương thứ 6 của nước Văn Lang không theo nguyên tắc đó, ông chọn
người kế vị trị vì đất nước thay mình là người hiền đức, bất luận đó là cả hay thứ.
Thứ hai:
Lang Liêu là một hoàng tử, đương nhiên phải là người được tiếp thu, thấm
nhuần văn hoá dân tộc và tư duy theo cách của đồng bào mình. Theo đó, thấy rằng,
dân tộc Việt ta có cách nghĩ thực tế hơn so với người Hoa. Bánh chưng vuông tượng
trưng cho đất. Đất ở đây không có nghĩa là trái đất, mà là những mảnh ruộng vuông
vắn - nơi người dân trồng cây lúa nước nuôi sống chính mình. Bánh giày tượng trưng
cho trời tròn không có nghĩa là bầu trời hình tròn, mà là hệ vòng quay 4 mùa: xuân,
hạ, thu, đông liên tiếp. Người Hoa thường giải thích vạn vật qua những hệ số, bói
toán trừu tượng, đôi khi như ma thuật rất xa xôi, khó hình dung.
Như vậy, có thể nói Tết cổ truyền của Việt Nam phải hình thành từ trước thế kỷ
thứ nhất, không phải do người Hoa khai hoá hay đồng hoá. Tuy nhiên, do cùng nằm
chung vùng lục địa, lại nằm kề nhau nên không thể không mang những ảnh hưởng
của nhau. Sau này, khi Trung Hoa đô hộ nước ta nhiều năm liền những ảnh hưởng đó
càng lớn hơn. Song về cơ bản bánh chưng, bánh dày là đặc trưng của dân tộc Việt.
Trong ngày Tết cổ truyền có thể thiếu câu đối đỏ song không thể không có bánh
chưng xanh để cúng tế tổ tiên./.
Các cuốn sách trên hiện đang có mặt tại thư viện nhà trường rất mong được các
em đón đọc.
Ngoài ra, Thầy cô và các em học sinh có thể đọc hoặc nghe qua sách nói, thư
viện số của nhà trường.
STT
Tên truyện
Đường link thư viện số
1
Chợ tết
https://th-thienhunga-binhphuoc.violet.vn/present/cho-tet-14321592.html
2
Tết ơi là tết
th-thienhunga-binhphuoc.violet.vn/present/tet-oi-tet-a-14321573.html
3
Mùi của tết
https://th-thienhunga-binhphuoc.violet.vn/present/mui-cua-tet14321409.html
13
4
Nguồn gốc tế cổ truyền Việt
Nam
https://th-thienhunga-binhphuoc.violet.vn/entry/nguon-goc-tet-co-truyenviet-nam-14321369.html
5
Bé yêu ngày tết
https://th-thienhunga-binhphuoc.violet.vn/present/be-yeu-ngay-tet14321536.html
Các bạn thân mến! Sách đã có tại thư viện nhà trường, hoặc các bạn hãy tìm
đọc trên website nhà trường và đọc trên kho sách online, sách nói thiếu nhi, hy vọng
cuốn sách sẽ mang lại cho các em những kiến thức bổ ích và thiết thực về phong tục
của dân tộc Việt Nam. Bài tuyên truyền giới thiệu sách đến đây là hết rồi hẹn gặp lại
các bạn học sinh trong buổi tuyên truyền giới thiệu sách mới lần sau. Chúc các bạn có
một cái tết vui vẻ đầm ấm bên gia đình, thêm một tuổi mới luôn chăm ngoan học giỏi!
Xin chào và hẹn gặp lại!
Thiện Hưng, ngày 02 tháng 01 năm 2024
NHÂN VIÊN THƯ VIỆN
Hoàng Đức Vinh
 









Các ý kiến mới nhất