Violet
Dethi

Tin tức thư viện

Khắc phục hiện tượng không xuất hiện menu Bộ công cụ Violet trên PowerPoint và Word

12099162 Kính chào các thầy, cô. Khi cài đặt phần mềm , trên PowerPoint và Word sẽ mặc định xuất hiện menu Bộ công cụ Violet để thầy, cô có thể sử dụng các tính năng đặc biệt của phần mềm ngay trên PowerPoint và Word. Tuy nhiên sau khi cài đặt phần mềm , với nhiều máy tính sẽ...
Xem tiếp

Quảng cáo

Hỗ trợ kĩ thuật

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra

Hướng dẫn giải đề ĐH 2008

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Internet
Người gửi: Lê Thái Trung (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:50' 10-07-2008
Dung lượng: 60.0 KB
Số lượt tải: 156
Số lượt thích: 0 người
ĐỀ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG NĂM 2008
Môn thi : L?CH S?, khối C

PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH
Câu I (2,5 điểm)
Trình bày tác động của hai sự kiện lịch sử sau đây đối với cách mạng Việt Nam thời kì 1939-1945:
- Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (9-1939);
- Phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh (8-1945).
Câu II (2,5 điểm)
Tại sao Đảng và Chính phủ phát động phong trào toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp vào ngày 19-12-1946? Nêu ngắn gọn đường lối kháng chiến do Đảng ta đề ra trong những năm 1946 - 1947.
Câu III (3,0 điểm)
Cuối năm 1974 - mùa Xuân 1975, sau mỗi thắng lợi lớn trên chiến trường, Đảng ta đã có những chủ trương, quyết định nào để sớm giải phóng hoàn toàn miền Nam?

PHẦN RIÊNG ------- Thí sinh chỉ được làm 1 trong 2 câu : IV.a hoặc IV.b -----
Câu IV.a Theo chương trình KHÔNG phân ban (2,0 điểm)
Sự ra đời và hoạt động của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên.
Câu IV.b. Theo chương trình phân ban (2,0 điểm)
Sự ra đời và hoạt động của Việt Nam quốc dân đảng.
BÀI GIẢI GỢI Ý
Câu I. Tác động của hai sự kiện lịch sử sau đây đối với cách mạng Việt Nam thời kì 1939-1945:
+ Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (9-1939):
Thực dân Pháp ở Đông Dương đứng trước hai nguy cơ: Một là ngọn lửa cách mạng giải phóng của nhân dân Đông Dương sớm muộn sẽ bùng lên thiêu đốt chúng; hai là sự đe dọa trắng trợn của phát xít Nhật đang lăm le hất cẳng chúng. Để đối phó lại tình hình khốn đốn đó, một mặt chúng đã thi hành chính sách thời chiến, trắng trợn phát xít hóa bộ máy thống trị, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân ta, chĩa mũi nhọn vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Hàng ngàn vụ khám xét, bắt bớ đã diễn ra khắp nơi, lệnh "tổng động viên" được ban bố cùng với chính sách "kinh tế chỉ huy "được thi hành nhằm tăng cường vơ vét sức người và sức của ở thuộc địa để cung ứng cho cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa. Chính sách phản động trên của thực dân Pháp đã đẩy nhân dân ta vào cảnh sống ngột ngạt về chính trị, bần cùng về kinh tế. Mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc Pháp và tay sai càng trở nên gay gắt hơn.
Mặt khác, thực dân Pháp đã chọn con đường thỏa hiệp với phát xít Nhật. Ngày 20-6-1940, Nhật buộc Pháp phải đóng cửa biên giới Việt Trung, không để đồng minh chuyên chở vũ khí, hàng hóa xuyên qua Bắc Kì vào nội địa Trung Quốc. Tháng 8 năm đó, bọn Pháp ở Đông Dương phải kí hiệp ước thừa nhận cho Nhật có những đặc quyền ở Đông Dương.
Chỉ một tháng sau, lại phải kí hiệp ước thuận cho Nhật dùng ba sân bay ở Bắc Kì (Gia Lâm, Cát Bi, Phủ Lạng Thương) đóng 6000 quân ở phía Bắc sông Hồng và dùng các con đường ở Bắc Kì để vận chuyển binh lính vào nội địa Trung Quốc. Phát xít Nhật vừa bắt ép thực dân Pháp đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác, vừ tìm cách lôi kéo một số phần tử cơ hội trong đám địa chủ và tư sản làm tay sai phục vụ cho mưu đồ xâm lược của chúng. Bọn này nấp dưới hình thức đảng phái chính trị (Đại Việt, Phục Quốc,.) hoặc tôn giáo để hoạt động, ra sức tuyên truyền lừa bịp về văn minh và sức mạnh của Nhật, về thuyết "Đại Đông Á", ráo riết dọn đường cho Nhật hất cẳng Pháp.
+ Phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh (8-1945):
- Quân Nhật ở Đông Dương bị tê liệt, chính phủ bù nhìn tay sai Trần Trọng Kim hoang mang cực độ.
- Trước sự biến chuyển mau lẹ của tình hình, ngay khi nghe tin chính phủ Nhật xin đầu hàng, từ ngày 13 đến 15-8-1945, hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương họp ở Tân Trào, (Tuyên Quang) quyết định phát động tổng khởi nghĩa trong cả nước, giành lấy chính quyền trước khi quân Đồng minh vào.
- Tiếp theo hội nghị toàn quốc của Đảng, Đại hội quốc dân cũng họp ở Tân Trào (16-8-1945), gồm đại biểu ba xứ thuộc đủ các giới, các đoàn thể, các dân tộc, tiêu biểu cho ý chí và nguyện vọng của toàn dân. Lần đầu tiên, lãnh tụ Hồ Chí Minh ra mắt các đại diện của quốc dân.
- Đại hội đã nhất trí tán thành quyết định tổng khởi nghĩa, thông qua 10 chính sách của Việt Minh, lập Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam (tức là Chính phủ lâm thời sau này) do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.
- Giành được chính quyền ở Hà Nội, từ sau ngày Nhật đảo chính Pháp, không khí cách mạng càng thêm sôi động. Sự kiện này có tác dụng cổ vũ to lớn đối với phong trào cả nước.
- Giành chính quyền trong toàn quốc.Ngay từ những ngày đầu tháng 8, một không khí gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa đã sục sôi trong cả nước.
- Từ ngày 14-8 đến ngày 18-8, nhiều xã, huyện thuộc các tỉnh từ Bắc vào Nam đã nối tiếp nhau chớp thời cơ nổi dậy giành chính quyền.
- Chỉ trong vòng 15 ngày (từ ngày 14 đến 28 -8), cuộc Tổng khởi nghĩa đã thành công hoàn toàn. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, chính quyền cả nước thật sự thuộc về tay nhân dân ta.
- Ngày 2-9-1945, tại quảng trường ba Đình, trước hàng chục vạn đồng bào thủ đô, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới rằng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ra đời.
Câu II. 1- Nguyên nhân dẫn đến việc Đảng và Chính phủ phát động phong trào toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp vào ngày 19-12-1946 là do sự bội ước của thực dân Pháp.
- Sau khi kí Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946 và Tạm ước 14-9-1946, thực dân Pháp tiếp tục tiến hành một loạt các hành động khiêu khích.
+ Tại Hải Phòng, ngày 20-11-1946, quân Pháp giành quyền thu thuế quan, gây xung đột với lực lượng vũ trang của ta; ngày 24-11, chúng bắn đại bác vào các khu phố và đến ngày 27-11-1946, quân Pháp chiếm đóng Hải Phòng, trên thực tế đã chính thức gây ra cuộc chiến tranh xâm lược miền Bắc nước ta.
+ Tại Hà Nội, từ đầu tháng 12-1946, quân Pháp nhiều lần xung đột với công an và tự vệ của ta. Ngày 17-12, chúng bắn đại bác và súng cối vào khu phố Hàng Bún, chiếm trụ sở Bộ Tài chính và một số cơ quan khác của ta; ngày 18-12, chúng gửi tối hậu thư buộc Chính phủ ta giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu, giao cho chúng quyền kiểm soát thủ đô.
+ Trước hành động xâm lược của thực dân Pháp, ngày 18 và 19-12-1946, hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định phát động toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp. Sáng 20-12, lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được truyền đi khắp cả nước. Ngay trong đêm 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
2- Đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và tự lực cánh sinh do Đảng ta đề ra trong những năm 1946-1947.
- Ngày 22-12-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị "Toàn dân kháng chiến". Bản chỉ thị nêu lên một cách khái quát những nội dung cơ bản về đường lối của cuộc kháng chiến như: mục đích, tính chất, chính sách, cách đánh, chương trình kháng chiến. Đó là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và tự lực cánh sinh.
- Đến tháng 3-1947, đồng chí Trường Chinh, Tổng bí thư Đảng, đã viết một loạt bài đăng trên báo "Sự thật" để giải thích rõ đường lối kháng chiến của Đảng như: Chúng ta đánh ai? Đánh để làm gì? Tính chất của cuộc kháng chiến: kháng chiến về mặt quân sự, kháng chiến về mặt chính trị, kháng chiến về mặt kinh tế, kháng chiến về mặt văn hóa... Những bài viết này được tập hợp lại và in thành sách "Kháng chiến nhất định thắng lợi" trong dịp kỉ niệm lần thứ hai ngày Nam Bộ kháng chiến.
Câu III. Cuối năm 1974 - mùa Xuân 1975, sau mỗi thắng lợi lớn trên chiến trường, Đảng ta đã có những chủ trương, quyết định nào để sớm giải phóng hoàn toàn miền Nam?
1- Chủ trương khắc phục hậu quả chiến tranh, đẩy mạnh sản xuất ở miền Bắc, ra sức chi viện cho chiến trường miền Nam
- Sau Hiệp định Pari 1973, miền Bắc trở lại hòa bình. Đảng ta chủ trương nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, đẩy mạnh sản xuất, khôi phục kinh tế, ra sức chi viện cho tiền tuyến. Đến cuối năm 1974, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp trên một số mặt quan trọng đạt và vượt mức năm 1964 và 1971 là hai năm đạt mức cao nhất trong 20 năm xây dựng CNXH ở miền Bắc; đời sống nhân dân ngày càng ổn định.
- Thực hiện chủ trương chi viện về sức người, sức của của miền Bắc cho miền Nam nhằm tiến hành tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, trong hai tháng đầu năm 1975, Đảng đã quyết định gấp rút đưa vào miền Nam 57.000 bộ đội (trong tổng số 108.000 bộ đội của kế hoạch động viên 1975), cùng nhiều vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng, xăng dầu, thuốc men, lương thực, thực phẩm. Đến đầu năm 1975, ta đã nâng cấp và mở rộng tuyến đường vận chuyển chiến lược Bắc - Nam, xây dựng được một hệ thống đường ống dẫn dầu tới Lộc Ninh và một hệ thống đường thông tin liên lạc hữu tuyến đến tận các chiến trường; chuẩn bị lực lượng tiếp quản vùng giải phóng trên tất cả các mặt: quốc phòng, kinh tế, giao thông vận tải, văn hóa, giáo dục, y tế sau khi chiến tranh kết thúc.
2. Quyết định tổng tiến công và nổi dậy, thực hiện kế hoạch giải phóng hoàn toàn mi?n Nam.
- C
 
Gửi ý kiến