Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Lăng Dục Đức

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Bùi Văn Khắc (trang riêng)
Ngày gửi: 23h:05' 10-08-2009
Dung lượng: 59.5 KB
Số lượt tải: 24
Số lượt thích: 0 người
LĂNG DỤC ĐỨC (AN LĂNG)  






Dân gian có câu: “Sướng như vua”, quả có như vậy, nhưng không chính xác hoàn toàn bởi vì có những ông vua như vua Dục Đức là minh chứng xác đáng để phủ nhận thành ngữ trên. Lên ngôi trong một bối cảnh chính trị-xã hội rối rắm, ông hoàng Ưng Chân, con trai của Thoại Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Y và là con nuôi của vua Tự Đức, đã sớm bị phế bỏ khỏi ván cờ chính trị lúc bấy giờ. Sau khi vua Tự Đức băng hà, triều thần đã đưa Ưng Chân lên ngai vàng vào ngày 19-7-1883, y theo di chiếu truyền ngôi của vua Tự Đức. Chưa kịp đặt niên hiệu, vị vua trẻ được gọi tên dựa theo tư thất của mình là Dục Đức Đường. Nhưng chỉ ba ngày sau, vua Dục Đức đã bị truất phế vì tội dám lược bỏ một đoạn văn trong di chiếu truyền ngôi của tiên đế và bị tống ngục. Ngày 24-10-1884, ông vua bất hạnh này đã chết đói trong nhà ngục, thi hài được gói vào một chiếc chiếu giao cho hai tên lính và một viên quyền suất đội gánh đi chôn. “Đám tang” của ông vua xấu số này được đưa về An Cựu để mai táng trong địa phận chùa Tường Quang (chùa do một người thân bên vợ của vua Dục Đức lập ra năm 1871). Gần đến nơi thì thi hài nhà vua bị rớt giữa đường do đứt dây, một người lính đã chạy vào chùa Tường Quang mời nhà sư trụ trì ra giải quyết. Cuối cùng, mọi người nhất trí chọn mảnh đất “thiên táng” đó làm nơi yên nghỉ đời đời của vua Dục Đức nên mai táng qua loa cho xong chuyện. Ba ngày sau, vợ con của nhà vua mới được thông báo để làm lễ chịu tang.
Sáu năm sau, do một hoàn cảnh bất ngờ, con trai của Dục Đức là Bửu Lân lại được đưa lên làm vua. Sau khi tức vị, Bửu Lân đặt niên hiệu là Thành Thái (1889-1907) và bắt đầu cho xây đắp lăng mộ của vua cha ngay trên nấm mồ “Thiên táng” đó. Lăng được xây dựng vào đầu năm 1890, đặt tên là An Lăng nhưng chưa có điện thờ. Mọi lễ nghi thờ cúng vua Dục Đức đều được tổ chức ở chùa Tường Quang, cách đó 200m. Năm 1892, chùa được vua Thành Thái đổi tên là Kim Quang và được ban tấm hoành phi đề 5 chữ “Sắc tứ Kim Quang tự”, được coi là của báu của vương triều Thành Thái và cả vương triều Duy Tân sau này.
Vào năm Thành Thái thứ 11 (1899), nhà vua cho xây dựng điện Long Ân phía hữu lăng mộ, làm nơi thờ cúng vua cha. Ngoài điện Long Ân, nhà vua còn cho xây cất các công trình phụ như Tả, Hữu Phối Đường (trước); Tả, Hữu Tùng Viện (sau) dành cho bảy bà vợ thứ của vua cha ăn ở, lo việc thờ phụng hương khói.
Sau khi bà Từ Minh, vợ chính của vua Dục Đức tạ thế, triều đình mai táng thi hài của bà bên phải mộ vua Dục Đức theo thế “Càn, Khôn hiệp đức” như ở lăng Gia Long.
Làm vua được 18 năm (1889-1907), Thành Thái có những tư tưởng và hoạt động chống Pháp nên bị truất ngôi. Con trai vua Thành Thái là Hoàng tử Vĩnh San được đưa lên ngai vàng, đặt niên hiệu Duy Tân, trị vì được 8 năm (1907-1916) thì bị Pháp bắt vì tội “tham gia vào cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Thái Phiên và Trần Cao Vân”. Chính phủ bảo hộ và Nam triều đã đày hai ông vua yêu nước Thành Thái, Duy Tân sang đảo Réunion với án lưu đày biệt xứ. Năm 1953, vua Thành Thái được trở về nước, sống ở Sài Gòn. Ông mất vào năm 1954 và được hoàng tộc rước thi hài về chôn trong khuôn viên của lăng Dục Đức.
Sau khi vua Duy Tân chết bởi một tai nạn máy bay rất khó hiểu ở Trung Phi (1945), thi hài của ông được chôn cất ở đó. Năm 1987, hài cốt nhà vua được cải táng từ Trung Phi đưa về chôn cạnh mộ vua Thành Thái. Hiện giờ An Lăng là khu mộ chung của ba thế hệ làm vua: Dục Đức (cha), Thành Thái (con) và Duy Tân (cháu).
So với lăng tẩm khác của các vua nhà Nguyễn, lăng Dục Đức có kiến trúc đơn giản và khiêm tốn hơn. Lăng gồm hai khu vực: điện Long Ân và lăng mộ vua cùng Hoàng hậu, đều lấy cồn Phước Quả ở đàng trước làm tiền án, khe Mụ Niệm chảy qua trước mặt làm yếu tố minh đường và dùng ngọn núi Tam Thai ở đằng sau làm hậu chẩm.






Khu vực lăng mộ hình chữ nhật, có diện tích 3.445m2, bên trong không có Bi Đình và
 
Gửi ý kiến