Mạng nhện của Charlotte

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Lý
Ngày gửi: 20h:16' 05-04-2024
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Lý
Ngày gửi: 20h:16' 05-04-2024
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
1
Dự án thứ 1 của nhóm Dorakan:
Mạng nhện của Charlote.
E.B. White
2
GIỚI THIỆU
Mạng nhện của Charlote là một câu chuyện không chỉ dành cho
thiếu nhi. Đây là một câu chuyện không dài nhƣng đủ hấp dẫn, đủ lôi
cuốn… Các tình tiết bất ngờ xoay quanh một chú ỉn con ngây thơ tên
Wilbur và cô nhện đen tài giỏi Charlote. Một trang trại gia súc xôm tụ với
Ngỗng mẹ nói nhiều, Chuột Templeton cáu kỉnh và ranh mãnh… Và còn
nhiều, nhiều nữa các con vật. Mỗi con một tính, tạo nên trang trại sinh
động và nhiều màu sắc, lúc nào cũng rôm rả… Câu chuyện có kết cấu đơn
giản, nhẹ nhàng nhƣng cũng lắm suy nghĩ. Hãy đọc để giải trí. Nếu thích
thú, hãy mua một cuốn sách ủng hộ tác giả!
3
THÔNG TIN VỀ CUỐN SÁCH:
Tác giả: E.B. White.
Nhà xuất bản: Nxb Lao động
Ngày xuất bản: 09 - 2007
Giá bìa: 20.000 VNĐ
4
THÔNG TIN EBOOK:
Typer:
Chƣơng 1, 2: Lấy từ nguồn của TVE
Chƣơng 3, 4: Doraemon25
Chƣơng 5, 6: hanh_nguyen_bg
Chƣơng 7, 8: mejie
Chƣơng 9, 10: dhongtham123
Chƣơng 11, 12: o0o2712o0o
Chƣơng 13, 14: khicon2004
Chƣơng 15, 16: hoalytra
Chƣơng 17, 18: Bad_boy91
Chƣơng 19, 20: cobelala
Chƣơng 21, 22: another
Checker:
Chƣơng 3, 4, 5, 6, 19, 20: heo com
Chƣơng 7, 8, 9, 10, 21, 22: southsky2010
Chƣơng 1, 2, 11, 12, 13, 14: to you
Chƣơng 15, 16, 17, 18: iluvbook09
Editor & đóng ebook: memory882004
Ngày hoàn thành: 4/2011
Mục Lục
GIỚI THIỆU
THÔNG TIN VỀ CUỐN SÁCH
THÔNG TIN EBOOK
5
CHƢƠNG 1: TRƢỚC BỮA ĐIỂM TÂM
CHƢƠNG 2: CHÖ LỢN CON WILBUR
CHƢƠNG 3: TRỐN CHẠY
CHƢƠNG 4: CÔ ĐƠN
CHƢƠNG 5: CÔ NHỆN CHARLOTTE
CHƢƠNG 6: NHỮNG NGÀY HÈ
CHƢƠNG 7: TIN XẤU
CHƢƠNG 8: MỘT CUỘC TRÕ CHUYỆN Ở NHÀ
CHƢƠNG 9: SỰ KHOÁC LÁC CỦA WILBUR
CHƢƠNG 10: MỘT VỤ NỔ
CHƢƠNG 11: PHÉP LẠ
CHƢƠNG 12: MỘT CUỘC HỌP
6
CHƢƠNG 13: TIẾN TRIỂN TỐT
CHƢƠNG 14: BÁC SĨ DORIAN
CHƢƠNG 15: DẾ MÈN
CHƢƠNG 16: ĐI HỘI CHỢ
CHƢƠNG 17: NGƢỜI CHÖ
CHƢƠNG 18: ĐÊM MÁT MẺ
CHƢƠNG 19: BỌC TRỨNG
CHƢƠNG 20: GIỜ KHẮC VINH QUANG
CHƢƠNG 21: NGÀY CUỐI CÙNG
CHƢƠNG 22: MỘT LÀN GIÓ ẤM
CHƢƠNG 1: TRƢỚC BỮA ĐIỂM TÂM
- Bố mang rìu đi đâu thế? - Fern hỏi mẹ trong lúc hai mẹ con đang dọn bàn chuẩn bị
bữa sáng.
- Ra chuồng lợn con ạ - bà Arable trả lời. - Đêm qua có mấy con lợn con mới đẻ.
- Con không hiểu tại sao bố lại cần đến rìu? - Fern, cô bé mới lên tám tiếp tục hỏi.
7
- À, - bà mẹ đáp - có một con lợn bị còi. Nó rất nhỏ và yếu, sẽ chẳng đƣợc tích sự gì. Vì
vậy bố quyết định bỏ nó.
- Bỏ nó ƣ? - Fern kêu lên. - Mẹ định nói là giết nó ƣ? Chỉ vì nó nhỏ hơn các con khác
thôi sao?
Bà Arable đặt bình kem lên bàn.
- Đừng có la lối om sòm, Fern! - Bà nói. - Bố con làm thế là phải. Đằng nào thì con
lợn cũng chết.
Fern xô ghế sang một bên và chạy vụt ra ngoài. Cỏ ẩm ƣớt và đất tỏa hƣơng xuân. Khi
Fern đuổi kịp bố thì đôi giày vải của cô bé đã ƣớt đẫm.
- Bố đừng giết nó! - cô thổn thức. - Nhƣ thế là bất công.
Ông Arable dừng bƣớc.
- Fern, - ông dịu dàng nói - con phải học cách tự chủ mới đƣợc.
- Tự chủ ƣ? - Fern kêu lên - Đây là chuyện sống chết mà bố lại nói đến tự chủ. - Nƣớc
mắt lăn dài trên má Fern, cô bé níu lấy cái rìu, giằng khỏi tay bố.
- Fern - ông Arable nói, - bố biết nhiều hơn con về việc nuôi một lứa lợn nhỏ. Một
con yếu sẽ đẻ ra rất nhiều phiền phức. Giờ thì đi thôi!
- Nhƣng điều đó thật bất công - Fern kêu lên - con lợn biết làm thế nào khi sinh ra bị
nhỏ nhƣ vậy? Nếu khi mới đẻ con cũng bé nhƣ thế, liệu bố có giết con không?
Ông Arable mỉm cƣời:
- Tất nhiên là không rồi - ông âu yếm nhìn con và trả lời, - nhƣng điều này lại khác
đấy. Một cô bé là một chuyện, một con lợn còi lại là chuyện khác.
- Con chẳng thấy có gì khác cả! - Fern đáp lại, tiếp tục đu lên chiếc rìu. - Đây là
chuyện bất công khủng khiếp nhất mà con từng biết.
Một vẻ lạ lùng hiện trên nét mặt ông John Arable. Dƣờng nhƣ chính ông cũng sắp kêu
lên.
- Thôi đƣợc, - ông nói - Con về nhà đi và bố sẽ mang con lợn còi về. Bố sẽ để con nuôi
nó bằng bình sữa, giống nhƣ một em bé. Khi đó con sẽ thấy con lợn có thể gây ra bao rắc
rối. Khoảng nửa giờ sau ông Arable về nhà, ông cắp theo một chiếc hộp các-tông dƣới
nách. Fern đang thay giày trên gác. Bàn ăn đã đƣợc bày sẵn, cả gian phòng thơm nức mùi
cà phê, thịt muối, mùi vữa ẩm và khói củi tỏa ra từ bếp lò.
- Đặt nó lên ghế của con bé ấy! - Bà Arable nói. Ông Arable đặt chiếc hộp xuống chỗ
ngồi. Rồi ông đi rửa tay.
Fern chậm chạp xuống cầu thang. Mắt cô bé đỏ ngầu vì khóc. Khi đến gần ghế của
mình, cô thấy chiếc hộp lắc lƣ và từ đó phát ra tiếng sột soạt. Fern nhìn bố. Một con lợn
con mới đẻ đang giƣơng mắt nhìn cô. Thân nó màu trắng. Nắng chiếu rọi qua tai nó, biến
nó thành màu hồng.
- Nó là của con, - ông Arable nói - Con đã cứu nó khỏi chết yểu. Và có thể Chúa nhân từ
sẽ tha thứ cho sự ngu ngốc này của bố.
Fern không rời mắt khỏi con lợn tí hon. “Ồ - cô bé nghĩ thầm - Ồ, hãy nhìn xem này,
8
nó thật hoàn hảo”.
Cô bé cẩn thận đậy nắp hộp lại. Cô hôn bố, rồi hôn mẹ. Sau đó cô lại mở nắp hộp ra,
nâng con lợn lên, áp vào má mình. Vừa lúc đó Avery, anh của Fern, bƣớc vào phòng.
Avery lên mƣời. Tay cậu bé nặng trĩu, một bên ôm khẩu súng hơi, tay kia cầm con dao
bằng gỗ.
- Cái gì vậy? - Cậu hỏi - Fern có cái gì thế?
- Em con có một vị khách trong bữa sáng nay - bà Arable nói - Con đi rửa mặt rửa tay
đi.
Nhìn này! - Avery đặt súng xuống và nói. - Cả nhà gọi cái thứ khổn khổ này là con lợn ƣ?
Thật là 1 kiểu mẫu tuyệt đẹp cho một con lợn - nó không nhỉnh hơn một con chuột bạch.
- Rửa ráy và săn sáng đi, - bà Arable nói - Nửa giờ nữa ô tô buýt của trƣờng sẽ qua
đây!
- Bố ơi, con muốn có một con lợn đƣợc không? - Avery hỏi
- Không, bố chỉ tặng lợn cho những ngƣời dậy sớm, - ông Arable nói - Fern dậy từ lúc
tảng sáng, và kết quả là giờ đây em con có 1 con lợn. Nó nhỏ thôi, hẳn là thế, nhƣng dầu
sao thì cũng vẫn cứ là một con lợn. Sự việc này cho thấy nếu ngƣời ta dậy sớm thì ích lợi
biết bao. Nào chúng ta ăn thôi!
Nhƣng Fern không sao nuốt nổi chừng nào con lợn của cô chƣa uống đƣợc sữa. Bà
Arable tìm đƣợc một cái bình sữa của trẻ em và một núm vú cao su. Bà rót sữa ấm vào rồi
lắp núm lên trên miệng bình và đƣa cho Fern. “Cho nó ăn sáng đi!” - bà nói.
Một phút sau, Fern ngồi bệt dƣới sàn trong góc bếp bế bé lợn vào lòng, dạy nó cách
bú. Con lợn mặc dầu nhỏ xíu, rất háu ăn và nhanh chóng chén sạch. Ngoài đƣờng, tiếng
còi ô tô buýt của trƣờng vọng vào.
- Rảo chân lên! - bà Arable ra lện. Bà đón lấy con lợn từ tay Fern và giúi vào tay cô
bé một chiếc bánh rán, Avery chộp lấy khẩu súng và vớ một chiếc bánh khác.
Bọn trẻ chạy ra đƣờng, leo lên ô tô buýt. Fern không hề để ý đến ai ở trên xe. Cô bé
chỉ ngồi nhìn ra ngoài cửa sổ, thầm nghĩ thế giới mới hạnh phúc biết bao và cô mới may
mắn làm sao khi có một con lợn hoàn toàn của riêng mình. Khi xe buýt dừng lại trƣớc
cổng trƣờng thì Fern đã chọn xong tên cho cục cƣng của mình, một cái tên đẹp nhất mà
cô có thể nghĩ ra.
- Tên nó là Wilbur - cô bé thì thầm một mình.
Cô còn đang mải nghĩ về con lợn thì thầy giáo hỏi:
- Fern, thủ đô của Pensnylvinia là gì?
- Wilbur ạ, - Fern lơ mơ trả lời. Bọn học sinh khúc khích cƣời. Fern
9
[1]
đỏ bừng mặt.
CHƢƠNG 2: CHÖ LỢN CON WILBUR
Fern yêu Wilbur hơn mọi thứ trên đời. Cô bé thích vuốt ve nó, cho nó ăn, cho nó ngủ.
Sáng sáng, ngay khi vừa tỉnh giấc, cô bé hâm sữa nóng, đeo yếm cho lợn và cầm chai sữa
cho lợn bú. Chiều chiều, khi ô tô buýt của trƣờng dừng lại trƣớc cổng nhà, cô nhảy ra
khỏi xe và chạy vào bếp để chuẩn bị một chai sữa khác. Cô cho lợn ăn vào giờ ăn tối và
một lần nữa ngay trƣớc giờ đi ngủ. Mỗi ngày bà Arable cho lợn ăn một lần vào buổi trƣa,
khi Fern đang ở trƣờng. Wilbur thích sữa và sung sƣớng nhất là lúc Fern hâm nóng một
chai sữa cho nó, nó đứng đó nhìn cô bé với đôi mắt tha thiết.
Những ngày đầu tiên mới ra đời Wilbur đƣợc nuôi trong một cái hộp để gần bếp lò tại
nhà bếp. Rồi khi bà Arable ca cẩm thì nó đƣợc chuyển sang cái hộp lớn hơn trong kho
củi. Khi đƣợc hai tuần tuổi, nó đƣợc chuyển ra ngoài. Đó là thời kỳ hoa táo nở và trời trở
nên ấm áp hơn. Ông Arable thu xếp khoảng sân nhỏ đặc biệt dành riêng cho Wilbur dƣới
một cây táo và làm cho nó một cái hộp gỗ lớn lót đầy rơm, có cửa để nó có thể đi ra, đi
vào tùy thích.
- Ban đêm nó sẽ không bị lạnh chứ? - Fern hỏi.
- Không, - bố nói. - Con nhìn xem xem nó làm gì.
Fern ngồi dƣới gốc táo trong sân, tay cầm chai sữa. Wilbur chạy tới chỗ cô bé và cô
cầm chai cho nó bú. Mút hết giọt sữa cuối cùng, nó ủn ỉn, mắt nhắm mắt mở đi vào trong
hộp. Fern chăm chú nhìn qua ô cửa. Wilbur đang dùng mũi dũi vào đống rơm. Chỉ một lát
sau nó đã đào đƣợc một đƣờng hầm trong đống rơm. Nó bò vào trong đƣờng hầm và biến
mất, rơm phủ kín lên mình. Fern say sƣa nhìn. Cô bé nhẹ cả ngƣời, vì biết rằng “em bé”
của cô ngủ kín và sẽ đƣợc ấm áp.
Sáng sáng sau bữa điểm tâm, Wilbur đi ra đƣờng với Fern và cùng cô đợi xe buýt tới. Cô
bé vẫy tay chào tạm biệt nó và nó đứng nhìn theo xe buýt cho đến lúc khuất hẳn sau khúc
quành. Trong lúc Fern ở trƣờng, Wilbur bị nhốt trong sân. Nhƣng buổi chiều ngay khi cô
bé về đến nhà, cô thả lợn ra và nó loanh quanh theo cô mọi chỗ. Nếu cô đi lên gác,
Wilbur sẽ đợi ở bậc thang thấp nhất cho đến khi cô đi xuống. Nếu cô bé cho búp bê đi
dạo trong một chiếc nôi đồ chơi, Wilbur đi theo bên cạnh. Thỉnh thoảng, trong những
chuyến đi này, nó mệt thì Fern bế nó lên và đặt vào xe nôi cạnh búp bê. Nó thích vậy và
nếu rất mệt, nó nhắm mắt lại ngủ trong chăn của búp bê. Khi nhắm mắt, trông nó thật
xinh xắn, bởi vì lông mi của nó rất dài. Búp bê cũng nhắm nghiền mắt, và Fern đẩy xe nôi
chầm chậm, nhẹ nhàng để khỏi đánh thức lũ nhóc của mình.
Vào một buổi chiều ấm áp, ông Arable và Avery mặc áo tắm rồi đi ra suối bơi. Wilbur
bám theo sát gót Fern. Khi cô bé lội xuống suối, Wilbur lội xuống với cô. Nó thấy nƣớc
thật lạnh - quá lạnh đối với nó. Vì vậy trong lúc bọn trẻ bơi lội, chơi đùa, té nƣớc vào
nhau, nó giải trí trong vũng bùn dọc theo bờ suối, nơi ấy ấm áp, ẩm ƣớt, dính nhớp và bùn
lầy thật dễ chịu.
Từng ngày trôi qua hạnh phúc và từng đêm trôi qua thanh bình.
Wilbur đƣợc các chủ trại gọi là chú lợn mùa xuân, đơn giản là vì nó sinh ra vào mùa
xuân. Khi nó đƣợc 5 tuần tuổi, ông Arable nói là nó có thể lớn để đem bán rồi, và phải bán
10
đi thôi. Fern bị hẫng và khóc lóc. Nhƣng bố cô bé quyết định dứt khoát. Wilbur ăn khỏe
thật, nó bắt đầu ăn thêm cả thức ăn thừa cùng với sữa. Ông Arable không muốn nuôi chú
lâu hơn nữa, ông đã bán mƣời anh chị em của Wilbur rồi.
- Nó phải đi thôi, Fern. - ông nói - Con đã có thú vui đƣợc nuôi một con lợn con rồi,
nhƣng nó không còn bé bỏng nữa và phải bán đi thôi.
- Hãy gọi cho nhà Zuckerman. - bà Arable gợi ý. - Thỉnh thoảng chú Homer của con
có nuôi một con lợn con đấy. Và nếu Wilbur đến sống ở đó, con có thể tùy ý đến thăm nó
thƣờng xuyên.
- Con nên lấy chú bao nhiêu tiền? Fern muốn biết.
- À! - Bố cô bé nói, - Nó là một con lợn còi. Hãy nói với chú Homer là con có một
con lợn định
bán với giá sáu đô-la, xem chú ấy nói gì.
Mọi việc đƣợc thu xếp chóng vánh. Fern gọi điện và gặp cô Edith, cô kêu to gọi chú
Homer. Chú Homer từ sân kho đi vào nói chuyện với Fern. Khi ngƣời chủ biết giá tiền
chỉ có sáu đô-la, ông nói là ông sẽ nuôi con lợn. Ngày hôm sau Wilbur đƣợc đƣa từ nhà
của nó dƣới gốc cây táo đến sống ở đống phân ủ trong hầm chứa tại chuồng gia súc nhà
chú Homer.
11
CHƢƠNG 3: TRỐN CHẠY
Chuồng gia súc rất rộng. Nó cũ lắm rồi. Ở đó tỏa ra mùi cỏ và mùi phân. Nó có mùi
mồ hôi của những con ngựa mệt nhọc và hơi thở ngọt ngào kỳ diệu của những con bò
nhẫn nại. Nó thƣờng có một thứ mùi vị yên bình – nhƣ thể chẳng có điều gì xấu xa có thể
xảy ra trên đời đƣợc. Nó có mùi thóc lúa, mùi yên cƣơng ngựa, mùi dầu nhờn trục xe,
mùi ủng cao su và mùi dây thừng mới. Và hễ khi ta ném một cái đầu cá cho mèo gặm, thì
chuồng gia súc có mùi cá. Nhƣng chủ yếu là nó có mùi cỏ khô, vì luôn luôn có cỏ khô
chất ở tầng mái phía trên đầu và luôn đƣợc kéo xuống cho bò, ngựa và cừu.
Chuồng gia súc ấm áp dễ chịu vào mùa đông và mát mẻ, dễ chịu vào mùa hè khi
những cánh đồng lớn mở toang đón gió. Chuồng gia súc có các ngăn ở khu vực chính
dành cho những con ngựa làm việc, có các cột ở đó để buộc bò, có một bãi rào nhốt cừu ở
phía sau, tiếp đó là chuồng lợn. Nơi đây còn chất đầy mọi thứ đồ mà bạn thấy ở một sân
kho: thang, đá mài, chĩa hất rơm, hái hớt cỏ, máy cắt cỏ, xẻng xúc tuyết, cán rìu, xô lấy
vữa, gầu nƣớc, những vỏ bao gạo và những chiếc bẫy chuột đã gỉ. Nó là loại chuồng trại
mà chim én thích làm tổ. Nó là loại sân kho mà trẻ con thích chơi, và chú của Fern, ông
Homer là chủ sở hữu toàn bộ mọi thứ.
Nhà mới của Wilbur ở phần thấp hơn trong chuồng gia súc, thấp hơn cả chuồng bò. Ông
Zukerman biết rằng một đống phân ủ là một chỗ tốt để chăn một con lợn con. Lợn cần ấm
áp, và ở dƣới đó, trong hầm chứa ở phía nam chuồng gia súc thật ấm áp và tiện lợi.
Hầu nhƣ ngày nào Fern cũng đến thăm Wilbur. Cô bé tìm thấy một cái ghế đẩu ngồi
vắt sữa đã cũ bị vứt đi. Đặt ghế trong bãi rào chăn cừu cạnh chuồng của Wilbur. Đàn cừu
nhanh chóng quen với cô bé và tin cậy cô. Bầy ngỗng sống chung với lũ cừu cũng thế.
Tất cả gia súc đều tin cậy cô bé, cô quá lặng lẽ và thân thiện. Ông Zukerman không cho
phép cô vào chuồng lợn. Nhƣng ông bảo cô có thể ngồi ghế đẩu và ngắm nhìn bao lâu tùy
ý. Chỉ đƣợc ở gần con lợn thôi cũng đủ làm cô bé hạnh phúc, và Wilbur thì vui sƣớng biết
rằng cô đang ngồi đó, ngay ngoài chuồng của nó, nhƣng nó không bao giờ có trò gì vui
cả. Không còn những cuộc đi dạo, không còn những lúc nằm trên xe nôi, không còn bơi
lội nữa.
Một chiều tháng sáu, khi Wilbur gần đƣợc hai tháng tuổi, nó thơ thẩn đi ra khoảng sân
nhỏ bên ngoài khu chuồng. Fern không đến thăm chú nhƣ thƣờng lệ. Wilbur đứng dƣới
ánh nắng, cảm thấy cô đơn và buồn chán.
- Quanh đây chẳng bao giờ có gì để làm, - nó nghĩ. Nó lững thững đi đến máng ăn và
hít hít để xem liệu còn gì lại sau bữa trƣa không. Nó thấy một mẩu vỏ khoai tây và chén
luôn. Lƣng nó ngứa ngáy nên nó dựa vào hàng rào và cọ lƣng vào những tấm gỗ. Khi đã
chán trò này rồi, nó đi vào chuồng, trèo lên đống phân và nằm xuống. Nó không muốn
ngủ, không muốn đào bới, nó chán đứng yên, chán nằm. “Mình chƣa đầy hai tháng tuổi
mà đã ngán sống rồi” – nó nói, sau đó lại đi ra sân.
- Khi mình ở ngoài này, - nó nói, - chẳng có chỗ nào để đi trừ phi đi vào. Khi mình ở
trong chuồng, chẳng có chỗ nào để đi trừ phi đi ra sân.
12
- Đấy là chỗ cậu sai đấy, bạn của tôi, bạn của tôi ạ, - một giọng nói cất
lên. Wilbur nhìn qua hàng rào và thấy ngỗng cái đang đứng đó.
- Cậu không bắt buộc phải ở trong cái khoảng sân bé tí, bẩn… bẩn… bẩn… thỉu đó. –
Ngỗng cái nói khá nhanh. – Một trong những tấm ván đã bị long. Đẩy nó sang, đẩy – đẩy
– đẩy nó sang, và ra ngoài.
- Cái gì cơ? – Wilbur nói. – Chị nói chậm hơn xem nào!
- Với – với – với… mình nhắc lại, - ngỗng nói – mình bảo là cậu nên ra ngoài. Ở
ngoài này thật tuyệt diệu.
- Chị đã nói là một tấm ván bị long ra phải không?
- Tôi đã bảo, tôi đã bảo – ngỗng nói.
Wilbur đi đến hàng rào và thấy là ngỗng cái nói đúng – một tấm ván đã long ra. Nói
chúi đầu xuống, nhắm nghiền mắt lại và đẩy. Tấm ván tuột sang một bên. Phút chốc nó
đã chui qua hàng rào và đứng ở bãi cỏ bên ngoài khoảng sân của mình. Ngỗng khúc khích
cƣời.
- Cảm thấy sao khi đƣợc tự do? – Ngỗng hỏi.
- Em thấy thích lắm, - Wilbur nói.
Ở bên ngoài hàng rào, khi chẳng có gì ngăn nó với thế giới rộng lớn, nó cảm thấy là
lạ. - Chị bảo là em nên đi đâu?
- Bất kỳ chỗ nào cậu thích, bất kỳ chỗ nào cậu thích – ngỗng nói – Hãy đi xuống vƣờn
quả và dũi cỏ non. Hãy xuống vƣờn cây và bới củ cải! Hãy dũi mọi thứ lên! Hãy ăn cỏ!
Hãy tìm bắp ngô! Hãy kiếm lúa mạch! Hãy chạy khắp mọi nơi! Hãy nhảy nhót khiêu vũ
và nhảy tâng tâng! Hãy qua vƣờn quả và đi dạo trong rừng! Thế giới là một chốn tuyệt
vời khi cậu còn đang trẻ.
- Em hiểu rồi, - Wilbur đáp. Nó nhảy bật lên không trung, xoay một vòng, chạy mấy
bƣớc, dừng lại, nhìn xung quanh hít hít hƣơng vị của buổi chiều rồi bắt đầu đi xuống
vƣờn quả. Nó nghỉ chân dƣới bóng mát một cây táo, rồi chúi cái mõm khỏe khoắn xuống
đất, bắt đầu ủi, đào và dũi đất lên. Nó cảm thấy thật hạnh phúc. Nó xới bật hẳn một
khoảng đất lên thì có ngƣời để ý đến nó. Bà Zukerman là ngƣời đầu tiên trông thấy nó. Bà
thấy chú từ cửa sổ nhà bếp và ngay lập tức gọi cánh đàn ông.
- Ông Homer ơi! – Bà la to, - lợn xổng rồi! Lurvy ơi, lợn xổng! Lợn xổng chuồng. Nó
ở đằng kia, dƣới gốc táo ấy.
“Giờ thì rắc rối bắt đầu rồi, - Wilbur nghĩ thầm. – Giờ thì mình sẽ gặp hạn đây.”
Ngỗng cái nghe tiếng om sòm cũng bắt đầu hò hét:
- Hãy – hãy chạy đi – chạy – chạy xuống, hãy chạy vào rừng, vào rừng. Wilbur! Họ
sẽ không bao giờ - không bao giờ - không bao giờ bắt đƣợc cậu ở trong rừng đâu.
Thấy huyên náo, chó Cốc từ sân kho lao ra tham gia cuộc đuổi bắt. Ông Zukerman
nghe thấy tiếng ồn chui ra khỏi xƣởng máy nhỏ nơi ông đang chữa một thứ đồ dùng.
Lurvy, anh chàng làm công nghe tiếng ồn ào liền từ luống măng tây, nơi anh đang nhổ cỏ
13
dại, đi lên. Mọi ngƣời đều đổ về phía Wilbur và nó chẳng biết làm gì. Rừng dƣờng nhƣ ở
xa lắm, vả lại, nó chƣa bao giờ đi vào rừng, không biết liệu nó có thích hay không.
- Chạy vòng ra phía sau nó, Lurvy! – ông Zukerman nói, và dồn nó về phía khu
chuồng trại! – Cứ bình tĩnh, đừng lao vào nó! Tôi sẽ đi lấy một xô cám lợn.
Tin về cuộc bỏ trốn của Wilbur nhanh chóng lan ra trong đám gia súc ở trại. Hễ bao
giờ có một sinh vật nào trốn ra khỏi trang trại Zukerman, sự kiện ấy đều đƣợc những con
khác hết sức quan tâm. Ngỗng cái hét to với con bò đứng gần đó rằng Wilbur đã tự do, và
cả đàn bò nhanh chóng biết tin. Rồi một con cừu nghe thấy và cả bầy cừu nhanh chóng
biết tin. Lũ cừu con biết tin từ mẹ chúng. Đàn ngựa, trong gian chuồng của chúng ở khu
trại, vểnh tai lên nghe tiếng chị ngỗng hò hét; và đàn ngựa nhanh chóng hiểu đƣợc chuyện
gì đang xảy ra. “Wilbur trốn rồi”, - chúng nói. Mọi con vật đều ngúc ngoắc đầu và trở nên
phấn khích khi biết rằng một trong những ngƣời bạn của chúng đã đƣợc tự do, không còn
bị nhốt trong chuồng hay bị trói chặt nữa.
Wilbur không biết làm gì hay chạy theo ngả nào. Dƣờng nhƣ tất cả mọi ngƣời đều
dồn đuổi nó. “Nếu đƣợc tự do mà nhƣ thế này, nó nghĩ, thì thà bị nhốt trong khoảng sân
của riêng mình còn hơn”.
Chó Cốc đang lẻn đến gần nó từ một phía, còn Lurvy đang rón rén lại gần nó từ phía
bên kia. Bà Zukerman đứng sẵn để chặn đầu nó nếu nó chạy vào vƣờn, và giờ thì ông
Zukerman đang đi về phía nó, tay xách một chiếc xô. “Điều này thật khủng khiếp” –
Wilbur nghĩ. – “Tại sao Fern lại không đến nhỉ?” – Nó bắt đầu khóc.
Ngỗng cái nắm quyền chỉ huy bắt đầu ra lệnh.
- Đừng có đứng ỳ ra đó, Wilbur. Hãy chạy ngoắt ngoéo, chạy ngoắt ngoéo đi! –
Ngỗng kêu lên. – Hãy nhảy quanh, hãy chạy về phía tôi, hãy lẫn vào và ra, vào và ra, vào
và ra! Hãy chạy vào rừng! Hãy lƣợn vòng và rẽ quanh!
Chó Cốc chồm tới chân sau của Wilbur. Wilbur nhảy bật lên và chạy. Lurvy vƣơn tay
ra và vồ. Bà Zukerman hét Lurvy. Ngỗng cái cổ vũ Wilbur. Wilbur luồn qua chân Lurvy.
Lurvy vồ hụt Wilbur thay vì thế lại chộp trúng chó Cốc.
- Khá đấy, khá đấy! – ngỗng kêu lên. – Làm lại xem nào! Làm lại xem nào!
- Hãy chạy xuống dốc! – đàn bò gợi ý.
- Chạy đến chỗ anh! – ngỗng đực la to.
- Hãy chạy lên dốc! – đàn cừu be lên.
- Hãy rẽ quanh và lƣợn vòng! – ngỗng cái hò reo.
- Hãy nhảy nhót và khiêu vũ! – gà trống nói.
- Hãy đề phòng Zukerman! – ngỗng đực gào.
- Hãy coi chừng con chó! – cừu kêu to.
- Hãy nghe tôi, hãy nghe tôi! – ngỗng cái hét ầm lên.
Wilbur khốn khổ mê mụ và hoảng sợ bởi những tiếng la ó om sòm đó. Nó không thích
trở thành trung tâm của tất cả chuyện ầm ĩ này. Nó cố gắng làm theo những lời chỉ dẫn mà
14
bạn bè đang mách bảo, nhƣng không thể chạy xuống dốc và lên dốc cùng một lúc, và
không thể rẽ quanh và lƣợn vòng trong khi đang nhảy nhót và khiêu vũ đƣợc, nó khóc to
đến nỗi hầu nhƣ chẳng nhìn thấy những gì đang diễn ra nữa. Vả lại, Wilbur là một con
lợn con không lớn hơn một em bé là bao. Nó ƣớc gì có Fern ở đây để ôm nó trong tay và
an ủi nó. Khi nó ngẩng lên thấy ông Zukerman đang đứng ngay bên cạnh, tay xách một
xô cám âm ấm, nó cảm thấy nhẹ nhõm. Nó hếch mũi lên và ngửi. Mùi vị tỏa ra thật ngon
– nào sữa nóng, nào vỏ khoai tây, hạt mì tấm, mẩu vụn ngô nƣớng và cả một chiếc bánh
nƣớng xốp còn sót lại sau bữa điểm tâm của gia đình Zukerman.
- Đến đây nào, lợn con! – ông Zukerman vỗ vỗ vào chiếc xô và nói, - đến đây nào, lợn
con!
Wilbur bƣớc một bƣớc về phía chiếc xô.
- Đừng, đừng, đừng đến! – chị ngỗng nói – Đó là mẹo lừa bằng chiếc xô cũ rích đấy
Wilbur. Đừng có để bị bịp, đừng có để bị bịp! Ông ta đang cố bẫy cậu vào tù, - tù lại đấy.
Ông ta đang quyến rũ cái bụng cậu đấy.
Wilbur chẳng quan tâm. Đồ ăn tỏa mùi vị ngon lành. Nó tiến một bƣớc nữa về phía cái
xô.
- Lợn con, lợn con! – ông Zukerman ân cần và bắt đầu đi chầm chậm về phía sân kho,
nhìn tất cả xung quanh tỏ vẻ ngây thơ, nhƣ thể ông ta không biết rằng một cậu lợn trắng
bé con đang đi theo sau ông.
- Cậu sẽ hối tiếc – hối tiếc – hối tiếc! – Ngỗng cái gọi.
Wilbur chẳng quan tâm. Nó vẫn đi về phía xô cám.
- Cậu sẽ bỏ lỡ tự do của cậu – ngỗng cái la lên. – Một giờ tự do đáng giá bằng một
thùng cám.
Wilbur chẳng quan tâm.
Tới chuồng lợn, ông Zukerman trèo qua hàng rào và đổ cám vào máng ăn. Rồi ông
kéo tấm ván long ra khỏi hàng rào để có một lỗ hổng lớn cho Wilbur đi qua.
- Hãy cân nhắc lại, cân nhắc lại! – chị ngỗng kêu lên.
Wilbur chẳng hề để ý. Nó chui qua rào vào khoảng sân của mình. Nó đi tới máng và
tợp một hớp cám rõ dài, sục vào sữa một cách háu đói và nhai bánh nƣớng xốp. Lại đƣợc
về nhà, thật là thích.
Trong khi Wilbur ăn, Lurvy tìm đƣợc một cái búa với mấy chiếc đinh con đóng tấm
ván lại chỗ cũ. Rồi anh ta cùng ông Zukerman uể oải tựa vào hàng rào, ông Zukerman
cầm một chiếc gậy gãi gãi vào lƣng Wilbur.
- Nó thật đúng là một con lợn. – Lurvy nói.
- Phải, nó sẽ thành một con lợn tốt. – ông Zukerman nói.
Wilbur nghe những lời khen đó. Nó cảm thấy sữa ấm chảy trong bụng. Nó cảm thấy
sự gãi gãi dễ chịu của chiếc gậy dọc theo cái lƣng ngứa ngáy của nó. Nó cảm thấy bình
yên, hạnh phúc và buồn ngủ. Một buổi chiều thật mệt nhọc. Mới khoảng bốn giờ thôi
nhƣng Wilbur đã tính chuyện đi ngủ.
15
“Mình thực sự còn quá trẻ để đi ra ngoài thế giới một mình”, - vừa nằm xuống nó vừa
thầm nghĩ nhƣ vậy.
16
CHƢƠNG 4: CÔ ĐƠN
Ngày hôm sau mƣa và tối tăm. Mƣa rơi trên mái của khu chuồng trại và tí tách rỏ
xuống từ mái hiên. Mƣa rơi trong sân trại và chảy theo đƣờng vòng xuống con hẻm nơi
những cây kế vu và cỏ dại mọc đầy. Mƣa hắt vào cánh cửa sổ bếp của bà Zukerman và
chảy xuống thành dòng. Mƣa rơi trên lƣng bầy cừu trong lúc chúng đang gặm cỏ ngoài
đồng. Khi đàn cừu đã chán đứng trong mƣa, chúng chậm chạp leo lên con hẻm đi vào
chuồng.
Mƣa làm hỏng hết kế hoạch của Wilbur. Hôm nay nó đã đặt kế hoạch đi ra ngoài và
đào một cái hố mới trong sân của nó. Nó cũng có những dự định khác. Kế hoạch trong
ngày của nó đại loại nhƣ sau:
Điểm tâm lúc 6 giờ 30 có váng sữa, vỏ bánh, hạt tấm, mấy mẩu bánh rán, bánh lúa mì
có dính những giọt siro, vỏ khoai tây, những mẩu bánh pút – đinh sữa trứng với những
hạt nho khô sót lại và vụn mì.
Dùng bữa điểm tâm xong lúc 7 giờ.
Từ 7 đến 8 giờ, nó dự định trò chuyện với Templeton, gã chuột cống ở bên dƣới máng
ăn của nó, chuyện trò với gã này chẳng phải là việc hay ho nhất trên đời, nhƣng cũng còn
hơn là không có gì.
Từ 8 đến 9 giờ, nó định sẽ chợp mắt một lát ở ngoài cửa dƣới ánh nắng mặt trời.
Từ 9 đến 11 giờ, nó dự định đào một cái hố, hoặc một đƣờng hào và có thể sẽ tìm
thấy cái gì đó ngon bị vùi dƣới bụi đất để chén.
Từ 11 đến 12 giờ nó trù định sẽ đứng yên lặng và ngắm lũ ruồi trên những tấm ván,
ngắm đàn ong trong đám cỏ ba lá và ngắm én liệng trên không.
12 giờ - giờ ăn trƣa. Hạt tấm, nƣớc ấm, những mẩu táo, nƣớc sốt thịt, cà rốt nạo,
những mẩu thịt vụn, cháo ngô chớm ôi, và giấy bọc một gói pho mát đã hết. Bữa trƣa sẽ
xong lúc 1 giờ.
Từ 1 đến 2 giờ, nó có kế hoạch gãi những chỗ ngứa bằng cách cọ vào hàng rào.
Từ 3 đến 4 giờ, nó dự định sẽ đứng im lìm, nghĩ ngợi chuyện đời và đợi Fern.
4 giờ thì lại đến bữa chiều. Váng sữa, những mẩu bánh mỳ kẹp thịt còn sót lại từ hộp
thức ăn trƣa của Lurvy, vỏ mận, khoai tây rán, mấy giọt mứt cam, thêm một chút thức
này, thêm một tí thức kia, một mẩu táo nƣớng, một mẩu bánh bơ.
Wilbur đi ngủ với những dự định này. Nó tỉnh dậy lúc 6 giờ và nhìn mƣa, dƣờng nhƣ
nó không thể chịu đựng nổi điều đó nữa.
“Mình đã đặt kế hoạch cho tất cả mọi việc một cách tốt đẹp mà trời thì lại mƣa thế
này” – chú tự nhủ.
Chú đứng rầu rĩ trong chuồng một lúc. Rồi chú đi tới cửa và nhìn ra ngoài, những giọt
nƣớc mƣa bắn lên mặt chú. Khoảng sân lạnh và ƣớt. Trong máng ăn của chú nƣớc mƣa
17
[2]
ngập tới một inh . Chẳng thấy chuột xám Templeton ở đâu cả.
- Anh có ở ngoài đó không, anh chuột ơi! – Wilbur gọi. Không có tiếng trả lời.
- Bỗng dƣng Wilbur cảm thấy cô đơn và thiếu bạn.
- Một ngày giống hệt nhƣ một ngày khác – chú rên rỉ. – Mình còn rất nhỏ, mình chẳng
có ngƣời bạn thực sự nào ở khu chuồng này cả, trời thì mƣa suốt ngày và Fern sẽ chẳng
đến lúc thời tiết tồi tệ nhƣ vậy. Ôi, trời ơi! – và Wilbur lại khóc, lần thứ hai trong vòng
hai ngày.
Vào lúc 6 giờ 30, Wilbur nghe thấy tiếng đập mạnh của một chiếc xô. Lurvy đứng
dƣới mƣa đang khuấy bữa sáng.
- Đến đây, chú lợn! – Lurvy nói.
Wilbur không động đậy. Lurvy trút cám vào, vét sạch chiếc xô và bỏ đi. Anh ta để ý
thấy có điều gì không ổn với chú lợn.
Wilbur không thiết ăn, chú muốn đƣợc yêu thƣơng. Chú muốn có một ngƣời bạn, một
ai đó có thể chơi với chú. Chú đề cập việc này với ngỗng cái đang nằm lặng lẽ ở một góc
trong chuồng cừu.
- Chị sẽ đến đây và chơi với em chứ? – Chú hỏi.
- Xin lỗi, xin lỗi, xin lỗi – ngỗng nói. – Tôi đang nằm ấp trứng. Có tám quả. Phải giữ cho
chúng đƣợc sƣởi – sƣởi – sƣởi ấm. Tôi phải nằm ngay tại đây. Tôi không phải là kẻ ba
– ba – hoa. Tôi không chơi đùa khi ấp trứng. Tôi đang mong đợi ngỗng con ra đời.
- Hừ, em không hề nghĩ là chị đang mong đợi chim gõ kiến. – Wilbur cay đắng
nói. Sau đó Wilbur quay sang nói với một con cừu con.
- Anh làm ơn chơi với tôi chứ? – Chú hỏi.
- Tất nhiên là không – cừu con nói. – Lý do trƣớc tiên là tôi không thể vào chuồng
anh đƣợc, vì tôi chƣa đủ lớn để nhảy qua hàng rào. Lý do thứ hai là tôi không thích loài
lợn. Đối với tôi, lợn có nghĩa là “còn ít hơn cả không có gì”.
- Anh định nói ít hơn cả không có gì nghĩa là gì? – Wilbur hỏi. – Tôi không nghĩ là có
một cái gì lại còn ít hơn cả không có gì đƣợc. Không có gì là giới hạn tuyệt đối của sự
không có gì. Nó là mức thấp nhất rồi. Nó là tận cùng của con đƣờng rồi. Làm sao mà một
cái gì đó lại còn có thể ít hơn không có gì? Nếu có một cái gì mà ít hơn không có gì, khi
ấy không có gì không còn là không có gì nữa, nó sẽ là một cái gì đó – cho dù chỉ là một tí
tẹo của cái gì đó. Nhƣng nếu không có gì là chẳng có cái gì, khi đó không có gì sẽ chẳng
có cái gì mà ít hơn bản thân nó đƣợc.
- Ồ, im đi! – cừu con nói. – Hãy tự chơi một mình! Tôi không chơi với lợn!
Wilbur buồn bã nằm xuống và lắng nghe mƣa. Một thoáng sau chú thấy gã chuột bò
dọc xuống tấm ván nghiêng mà gã dùng làm thang.
- Anh sẽ chơi với tôi chứ, Templeton? – Wilbur hỏi.
- Chơi ƣ? – Templeton vừa vân vê ria mép và nói. – Chơi ƣ? Ta hầu nhƣ chả biết
nghĩa của từ đó nữa cơ.
18
- À – Wilbur nói, - nghĩa là chơi, là đùa giỡn, là chạy, nhảy và vui vẻ ấy mà.
- Ta chẳng bao giờ làm những gì mà ta có thể tránh đƣợc. – Gã chuột chanh chua đáp.
– Ta thích sử dụng thời gian của mình để ăn, để gặm nhấm, để thám thính và lẩn trốn còn
hơn. Ta là một kẻ ham ăn chứ không phải là một kẻ ham vui. Ngay bây giờ ta đang trên
đƣờng tới máng ăn của chú mày để chén bữa điểm tâm, vì chú mày không thiết ăn mà.
Và gã chuột Templeton lén lút bò dọc theo tƣờng rồi biến vào một đƣờng hầm riêng
mà gã tự đào ở giữa cửa và máng ăn trong khoảng sân của Wilbur. Templeton là một gã
chuột lắm mánh khóe, và gã có cách riêng của mình. Đƣờng hầm là một ví dụ về sự khéo
léo và xảo quyệt của gã. Đƣờng hầm khiến cho gã có thể đi từ khu chuồng đến nơi ẩn nấp
của gã bên dƣới máng lợn mà không xuất đầu lộ diện. Gã có những đƣờng hầm và lối đi ở
khắp mọi nơi trong trang trại nhà Zukerman và có thể đi từ chỗ này đến chỗ khác mà
không bị trông thấy. Thƣờng thì gã ngủ suốt ngày và chỉ đi ra ngoài sau khi trời tối.
Wilbur dõi nhìn gã biến vào trong đƣờng hầm. Một thoáng sau chú thấy cái mõm
nhọn hoắt của gã chuột nhô ra từ bên dƣới máng gỗ. Templeton thận trọng đu qua thành
máng. Điều này dƣờng nhƣ vƣợt quá sức chịu đựng của Wilbur: vào cái ngày mƣa gió ảm
đạm này phải nhìn ngƣời khác ăn mất bữa điểm tâm của mình. Chú biết rằng ở ngoài đó
Templeton đang bị ƣớt sũng nƣớc dƣới trời mƣa nhƣ trút, nhƣng thậm chí cả điều đó
cũng chẳng an ủi đƣợc chú. Không bạn bè, buồn nản và đói, chú gieo mình xuống đống
phân ủ và thổn thức.
Cuối buổi chiều hôm ấy, Lurvy đến gặp ông Zukerman:
- Tôi nghĩ là có điều gì không ổn với chú lợn ấy của ông. Nó không hề động đến thức
ăn.
- Hãy cho nó uống hai thìa đầy lƣu huỳnh và một chút mật mía, - ông Zukerman nói.
Wilbur không thể tin nổi điều đang xảy ra với mình khi Lurvy tóm lấy chú và tống
thuốc xuống cổ họng chú. Hôm nay chắc chắn là ngày tồi tệ nhất trong đời chú. Chú
không biết liệu chú còn có thể chịu nỗi cô đơn khủng khiếp nữa không.
Màn đêm bao trùm lên mọi vật. Chẳng mất chốc chỉ có những cái bóng và tiếng động
của những con cừu nhai lại thức ăn, và thỉnh thoảng có tiếng lạch cạch của dây buộc bò ở
phía trên đầu. Bạn có thể tƣởng tƣợng ra sự kinh ngạc của Wilbur nhƣ thế nào khi một
giọng nói nhỏ mà trƣớc đó chú chƣa từng nghe, cất lên trong bóng tối. Giọng nghe khá
lảnh lót nhƣng vui vẻ:
- Bạn muốn có một ngƣời bạn không, Wilbur? – Giọng đó nói. – mình sẽ là một
ngƣời bạn của bạn. Mình quan sát bạn suốt cả ngày và mình thích bạn!
- Nhƣng mình không nhìn thấy bạn. – Wilbur nhảy dựng lên và nói. – Bạn ở đâu? Và
bạn là ai vậy?
- Mình ở ngay trên này thôi, - giọng đó nói. – Hãy ngủ đi. Sáng ra bạn sẽ thấy mình!
19
CHƢƠNG 5: CÔ NHỆN CHARLOTTE
Đêm dƣờng nhƣ quá dài. Bụng Wilbur rỗng không, trong đầu ngổn ngang bao ý nghĩ.
Và khi mà bụng của bạn rỗng mà đầu bạn lại đầy ắp những suy nghĩ thì thật khó mà ngủ
đƣợc.
Đêm đó có đến hàng chục lần Wilbur tỉnh giấc, chú nhìn chằm chằm vào bóng đêm
và cố thử đoán xem đã mấy giờ rồi. Sân trại không bao giờ có sự yên tĩnh tuyệt đối. Thậm
chí vào lúc nửa đêm cũng vẫn có điều gì đó xao động. Lần đầu tiên thức giấc, chú nghe
thấy tiếng Templeton đang gặm một lỗ nơi thùng gạo. Răng T...
Dự án thứ 1 của nhóm Dorakan:
Mạng nhện của Charlote.
E.B. White
2
GIỚI THIỆU
Mạng nhện của Charlote là một câu chuyện không chỉ dành cho
thiếu nhi. Đây là một câu chuyện không dài nhƣng đủ hấp dẫn, đủ lôi
cuốn… Các tình tiết bất ngờ xoay quanh một chú ỉn con ngây thơ tên
Wilbur và cô nhện đen tài giỏi Charlote. Một trang trại gia súc xôm tụ với
Ngỗng mẹ nói nhiều, Chuột Templeton cáu kỉnh và ranh mãnh… Và còn
nhiều, nhiều nữa các con vật. Mỗi con một tính, tạo nên trang trại sinh
động và nhiều màu sắc, lúc nào cũng rôm rả… Câu chuyện có kết cấu đơn
giản, nhẹ nhàng nhƣng cũng lắm suy nghĩ. Hãy đọc để giải trí. Nếu thích
thú, hãy mua một cuốn sách ủng hộ tác giả!
3
THÔNG TIN VỀ CUỐN SÁCH:
Tác giả: E.B. White.
Nhà xuất bản: Nxb Lao động
Ngày xuất bản: 09 - 2007
Giá bìa: 20.000 VNĐ
4
THÔNG TIN EBOOK:
Typer:
Chƣơng 1, 2: Lấy từ nguồn của TVE
Chƣơng 3, 4: Doraemon25
Chƣơng 5, 6: hanh_nguyen_bg
Chƣơng 7, 8: mejie
Chƣơng 9, 10: dhongtham123
Chƣơng 11, 12: o0o2712o0o
Chƣơng 13, 14: khicon2004
Chƣơng 15, 16: hoalytra
Chƣơng 17, 18: Bad_boy91
Chƣơng 19, 20: cobelala
Chƣơng 21, 22: another
Checker:
Chƣơng 3, 4, 5, 6, 19, 20: heo com
Chƣơng 7, 8, 9, 10, 21, 22: southsky2010
Chƣơng 1, 2, 11, 12, 13, 14: to you
Chƣơng 15, 16, 17, 18: iluvbook09
Editor & đóng ebook: memory882004
Ngày hoàn thành: 4/2011
Mục Lục
GIỚI THIỆU
THÔNG TIN VỀ CUỐN SÁCH
THÔNG TIN EBOOK
5
CHƢƠNG 1: TRƢỚC BỮA ĐIỂM TÂM
CHƢƠNG 2: CHÖ LỢN CON WILBUR
CHƢƠNG 3: TRỐN CHẠY
CHƢƠNG 4: CÔ ĐƠN
CHƢƠNG 5: CÔ NHỆN CHARLOTTE
CHƢƠNG 6: NHỮNG NGÀY HÈ
CHƢƠNG 7: TIN XẤU
CHƢƠNG 8: MỘT CUỘC TRÕ CHUYỆN Ở NHÀ
CHƢƠNG 9: SỰ KHOÁC LÁC CỦA WILBUR
CHƢƠNG 10: MỘT VỤ NỔ
CHƢƠNG 11: PHÉP LẠ
CHƢƠNG 12: MỘT CUỘC HỌP
6
CHƢƠNG 13: TIẾN TRIỂN TỐT
CHƢƠNG 14: BÁC SĨ DORIAN
CHƢƠNG 15: DẾ MÈN
CHƢƠNG 16: ĐI HỘI CHỢ
CHƢƠNG 17: NGƢỜI CHÖ
CHƢƠNG 18: ĐÊM MÁT MẺ
CHƢƠNG 19: BỌC TRỨNG
CHƢƠNG 20: GIỜ KHẮC VINH QUANG
CHƢƠNG 21: NGÀY CUỐI CÙNG
CHƢƠNG 22: MỘT LÀN GIÓ ẤM
CHƢƠNG 1: TRƢỚC BỮA ĐIỂM TÂM
- Bố mang rìu đi đâu thế? - Fern hỏi mẹ trong lúc hai mẹ con đang dọn bàn chuẩn bị
bữa sáng.
- Ra chuồng lợn con ạ - bà Arable trả lời. - Đêm qua có mấy con lợn con mới đẻ.
- Con không hiểu tại sao bố lại cần đến rìu? - Fern, cô bé mới lên tám tiếp tục hỏi.
7
- À, - bà mẹ đáp - có một con lợn bị còi. Nó rất nhỏ và yếu, sẽ chẳng đƣợc tích sự gì. Vì
vậy bố quyết định bỏ nó.
- Bỏ nó ƣ? - Fern kêu lên. - Mẹ định nói là giết nó ƣ? Chỉ vì nó nhỏ hơn các con khác
thôi sao?
Bà Arable đặt bình kem lên bàn.
- Đừng có la lối om sòm, Fern! - Bà nói. - Bố con làm thế là phải. Đằng nào thì con
lợn cũng chết.
Fern xô ghế sang một bên và chạy vụt ra ngoài. Cỏ ẩm ƣớt và đất tỏa hƣơng xuân. Khi
Fern đuổi kịp bố thì đôi giày vải của cô bé đã ƣớt đẫm.
- Bố đừng giết nó! - cô thổn thức. - Nhƣ thế là bất công.
Ông Arable dừng bƣớc.
- Fern, - ông dịu dàng nói - con phải học cách tự chủ mới đƣợc.
- Tự chủ ƣ? - Fern kêu lên - Đây là chuyện sống chết mà bố lại nói đến tự chủ. - Nƣớc
mắt lăn dài trên má Fern, cô bé níu lấy cái rìu, giằng khỏi tay bố.
- Fern - ông Arable nói, - bố biết nhiều hơn con về việc nuôi một lứa lợn nhỏ. Một
con yếu sẽ đẻ ra rất nhiều phiền phức. Giờ thì đi thôi!
- Nhƣng điều đó thật bất công - Fern kêu lên - con lợn biết làm thế nào khi sinh ra bị
nhỏ nhƣ vậy? Nếu khi mới đẻ con cũng bé nhƣ thế, liệu bố có giết con không?
Ông Arable mỉm cƣời:
- Tất nhiên là không rồi - ông âu yếm nhìn con và trả lời, - nhƣng điều này lại khác
đấy. Một cô bé là một chuyện, một con lợn còi lại là chuyện khác.
- Con chẳng thấy có gì khác cả! - Fern đáp lại, tiếp tục đu lên chiếc rìu. - Đây là
chuyện bất công khủng khiếp nhất mà con từng biết.
Một vẻ lạ lùng hiện trên nét mặt ông John Arable. Dƣờng nhƣ chính ông cũng sắp kêu
lên.
- Thôi đƣợc, - ông nói - Con về nhà đi và bố sẽ mang con lợn còi về. Bố sẽ để con nuôi
nó bằng bình sữa, giống nhƣ một em bé. Khi đó con sẽ thấy con lợn có thể gây ra bao rắc
rối. Khoảng nửa giờ sau ông Arable về nhà, ông cắp theo một chiếc hộp các-tông dƣới
nách. Fern đang thay giày trên gác. Bàn ăn đã đƣợc bày sẵn, cả gian phòng thơm nức mùi
cà phê, thịt muối, mùi vữa ẩm và khói củi tỏa ra từ bếp lò.
- Đặt nó lên ghế của con bé ấy! - Bà Arable nói. Ông Arable đặt chiếc hộp xuống chỗ
ngồi. Rồi ông đi rửa tay.
Fern chậm chạp xuống cầu thang. Mắt cô bé đỏ ngầu vì khóc. Khi đến gần ghế của
mình, cô thấy chiếc hộp lắc lƣ và từ đó phát ra tiếng sột soạt. Fern nhìn bố. Một con lợn
con mới đẻ đang giƣơng mắt nhìn cô. Thân nó màu trắng. Nắng chiếu rọi qua tai nó, biến
nó thành màu hồng.
- Nó là của con, - ông Arable nói - Con đã cứu nó khỏi chết yểu. Và có thể Chúa nhân từ
sẽ tha thứ cho sự ngu ngốc này của bố.
Fern không rời mắt khỏi con lợn tí hon. “Ồ - cô bé nghĩ thầm - Ồ, hãy nhìn xem này,
8
nó thật hoàn hảo”.
Cô bé cẩn thận đậy nắp hộp lại. Cô hôn bố, rồi hôn mẹ. Sau đó cô lại mở nắp hộp ra,
nâng con lợn lên, áp vào má mình. Vừa lúc đó Avery, anh của Fern, bƣớc vào phòng.
Avery lên mƣời. Tay cậu bé nặng trĩu, một bên ôm khẩu súng hơi, tay kia cầm con dao
bằng gỗ.
- Cái gì vậy? - Cậu hỏi - Fern có cái gì thế?
- Em con có một vị khách trong bữa sáng nay - bà Arable nói - Con đi rửa mặt rửa tay
đi.
Nhìn này! - Avery đặt súng xuống và nói. - Cả nhà gọi cái thứ khổn khổ này là con lợn ƣ?
Thật là 1 kiểu mẫu tuyệt đẹp cho một con lợn - nó không nhỉnh hơn một con chuột bạch.
- Rửa ráy và săn sáng đi, - bà Arable nói - Nửa giờ nữa ô tô buýt của trƣờng sẽ qua
đây!
- Bố ơi, con muốn có một con lợn đƣợc không? - Avery hỏi
- Không, bố chỉ tặng lợn cho những ngƣời dậy sớm, - ông Arable nói - Fern dậy từ lúc
tảng sáng, và kết quả là giờ đây em con có 1 con lợn. Nó nhỏ thôi, hẳn là thế, nhƣng dầu
sao thì cũng vẫn cứ là một con lợn. Sự việc này cho thấy nếu ngƣời ta dậy sớm thì ích lợi
biết bao. Nào chúng ta ăn thôi!
Nhƣng Fern không sao nuốt nổi chừng nào con lợn của cô chƣa uống đƣợc sữa. Bà
Arable tìm đƣợc một cái bình sữa của trẻ em và một núm vú cao su. Bà rót sữa ấm vào rồi
lắp núm lên trên miệng bình và đƣa cho Fern. “Cho nó ăn sáng đi!” - bà nói.
Một phút sau, Fern ngồi bệt dƣới sàn trong góc bếp bế bé lợn vào lòng, dạy nó cách
bú. Con lợn mặc dầu nhỏ xíu, rất háu ăn và nhanh chóng chén sạch. Ngoài đƣờng, tiếng
còi ô tô buýt của trƣờng vọng vào.
- Rảo chân lên! - bà Arable ra lện. Bà đón lấy con lợn từ tay Fern và giúi vào tay cô
bé một chiếc bánh rán, Avery chộp lấy khẩu súng và vớ một chiếc bánh khác.
Bọn trẻ chạy ra đƣờng, leo lên ô tô buýt. Fern không hề để ý đến ai ở trên xe. Cô bé
chỉ ngồi nhìn ra ngoài cửa sổ, thầm nghĩ thế giới mới hạnh phúc biết bao và cô mới may
mắn làm sao khi có một con lợn hoàn toàn của riêng mình. Khi xe buýt dừng lại trƣớc
cổng trƣờng thì Fern đã chọn xong tên cho cục cƣng của mình, một cái tên đẹp nhất mà
cô có thể nghĩ ra.
- Tên nó là Wilbur - cô bé thì thầm một mình.
Cô còn đang mải nghĩ về con lợn thì thầy giáo hỏi:
- Fern, thủ đô của Pensnylvinia là gì?
- Wilbur ạ, - Fern lơ mơ trả lời. Bọn học sinh khúc khích cƣời. Fern
9
[1]
đỏ bừng mặt.
CHƢƠNG 2: CHÖ LỢN CON WILBUR
Fern yêu Wilbur hơn mọi thứ trên đời. Cô bé thích vuốt ve nó, cho nó ăn, cho nó ngủ.
Sáng sáng, ngay khi vừa tỉnh giấc, cô bé hâm sữa nóng, đeo yếm cho lợn và cầm chai sữa
cho lợn bú. Chiều chiều, khi ô tô buýt của trƣờng dừng lại trƣớc cổng nhà, cô nhảy ra
khỏi xe và chạy vào bếp để chuẩn bị một chai sữa khác. Cô cho lợn ăn vào giờ ăn tối và
một lần nữa ngay trƣớc giờ đi ngủ. Mỗi ngày bà Arable cho lợn ăn một lần vào buổi trƣa,
khi Fern đang ở trƣờng. Wilbur thích sữa và sung sƣớng nhất là lúc Fern hâm nóng một
chai sữa cho nó, nó đứng đó nhìn cô bé với đôi mắt tha thiết.
Những ngày đầu tiên mới ra đời Wilbur đƣợc nuôi trong một cái hộp để gần bếp lò tại
nhà bếp. Rồi khi bà Arable ca cẩm thì nó đƣợc chuyển sang cái hộp lớn hơn trong kho
củi. Khi đƣợc hai tuần tuổi, nó đƣợc chuyển ra ngoài. Đó là thời kỳ hoa táo nở và trời trở
nên ấm áp hơn. Ông Arable thu xếp khoảng sân nhỏ đặc biệt dành riêng cho Wilbur dƣới
một cây táo và làm cho nó một cái hộp gỗ lớn lót đầy rơm, có cửa để nó có thể đi ra, đi
vào tùy thích.
- Ban đêm nó sẽ không bị lạnh chứ? - Fern hỏi.
- Không, - bố nói. - Con nhìn xem xem nó làm gì.
Fern ngồi dƣới gốc táo trong sân, tay cầm chai sữa. Wilbur chạy tới chỗ cô bé và cô
cầm chai cho nó bú. Mút hết giọt sữa cuối cùng, nó ủn ỉn, mắt nhắm mắt mở đi vào trong
hộp. Fern chăm chú nhìn qua ô cửa. Wilbur đang dùng mũi dũi vào đống rơm. Chỉ một lát
sau nó đã đào đƣợc một đƣờng hầm trong đống rơm. Nó bò vào trong đƣờng hầm và biến
mất, rơm phủ kín lên mình. Fern say sƣa nhìn. Cô bé nhẹ cả ngƣời, vì biết rằng “em bé”
của cô ngủ kín và sẽ đƣợc ấm áp.
Sáng sáng sau bữa điểm tâm, Wilbur đi ra đƣờng với Fern và cùng cô đợi xe buýt tới. Cô
bé vẫy tay chào tạm biệt nó và nó đứng nhìn theo xe buýt cho đến lúc khuất hẳn sau khúc
quành. Trong lúc Fern ở trƣờng, Wilbur bị nhốt trong sân. Nhƣng buổi chiều ngay khi cô
bé về đến nhà, cô thả lợn ra và nó loanh quanh theo cô mọi chỗ. Nếu cô đi lên gác,
Wilbur sẽ đợi ở bậc thang thấp nhất cho đến khi cô đi xuống. Nếu cô bé cho búp bê đi
dạo trong một chiếc nôi đồ chơi, Wilbur đi theo bên cạnh. Thỉnh thoảng, trong những
chuyến đi này, nó mệt thì Fern bế nó lên và đặt vào xe nôi cạnh búp bê. Nó thích vậy và
nếu rất mệt, nó nhắm mắt lại ngủ trong chăn của búp bê. Khi nhắm mắt, trông nó thật
xinh xắn, bởi vì lông mi của nó rất dài. Búp bê cũng nhắm nghiền mắt, và Fern đẩy xe nôi
chầm chậm, nhẹ nhàng để khỏi đánh thức lũ nhóc của mình.
Vào một buổi chiều ấm áp, ông Arable và Avery mặc áo tắm rồi đi ra suối bơi. Wilbur
bám theo sát gót Fern. Khi cô bé lội xuống suối, Wilbur lội xuống với cô. Nó thấy nƣớc
thật lạnh - quá lạnh đối với nó. Vì vậy trong lúc bọn trẻ bơi lội, chơi đùa, té nƣớc vào
nhau, nó giải trí trong vũng bùn dọc theo bờ suối, nơi ấy ấm áp, ẩm ƣớt, dính nhớp và bùn
lầy thật dễ chịu.
Từng ngày trôi qua hạnh phúc và từng đêm trôi qua thanh bình.
Wilbur đƣợc các chủ trại gọi là chú lợn mùa xuân, đơn giản là vì nó sinh ra vào mùa
xuân. Khi nó đƣợc 5 tuần tuổi, ông Arable nói là nó có thể lớn để đem bán rồi, và phải bán
10
đi thôi. Fern bị hẫng và khóc lóc. Nhƣng bố cô bé quyết định dứt khoát. Wilbur ăn khỏe
thật, nó bắt đầu ăn thêm cả thức ăn thừa cùng với sữa. Ông Arable không muốn nuôi chú
lâu hơn nữa, ông đã bán mƣời anh chị em của Wilbur rồi.
- Nó phải đi thôi, Fern. - ông nói - Con đã có thú vui đƣợc nuôi một con lợn con rồi,
nhƣng nó không còn bé bỏng nữa và phải bán đi thôi.
- Hãy gọi cho nhà Zuckerman. - bà Arable gợi ý. - Thỉnh thoảng chú Homer của con
có nuôi một con lợn con đấy. Và nếu Wilbur đến sống ở đó, con có thể tùy ý đến thăm nó
thƣờng xuyên.
- Con nên lấy chú bao nhiêu tiền? Fern muốn biết.
- À! - Bố cô bé nói, - Nó là một con lợn còi. Hãy nói với chú Homer là con có một
con lợn định
bán với giá sáu đô-la, xem chú ấy nói gì.
Mọi việc đƣợc thu xếp chóng vánh. Fern gọi điện và gặp cô Edith, cô kêu to gọi chú
Homer. Chú Homer từ sân kho đi vào nói chuyện với Fern. Khi ngƣời chủ biết giá tiền
chỉ có sáu đô-la, ông nói là ông sẽ nuôi con lợn. Ngày hôm sau Wilbur đƣợc đƣa từ nhà
của nó dƣới gốc cây táo đến sống ở đống phân ủ trong hầm chứa tại chuồng gia súc nhà
chú Homer.
11
CHƢƠNG 3: TRỐN CHẠY
Chuồng gia súc rất rộng. Nó cũ lắm rồi. Ở đó tỏa ra mùi cỏ và mùi phân. Nó có mùi
mồ hôi của những con ngựa mệt nhọc và hơi thở ngọt ngào kỳ diệu của những con bò
nhẫn nại. Nó thƣờng có một thứ mùi vị yên bình – nhƣ thể chẳng có điều gì xấu xa có thể
xảy ra trên đời đƣợc. Nó có mùi thóc lúa, mùi yên cƣơng ngựa, mùi dầu nhờn trục xe,
mùi ủng cao su và mùi dây thừng mới. Và hễ khi ta ném một cái đầu cá cho mèo gặm, thì
chuồng gia súc có mùi cá. Nhƣng chủ yếu là nó có mùi cỏ khô, vì luôn luôn có cỏ khô
chất ở tầng mái phía trên đầu và luôn đƣợc kéo xuống cho bò, ngựa và cừu.
Chuồng gia súc ấm áp dễ chịu vào mùa đông và mát mẻ, dễ chịu vào mùa hè khi
những cánh đồng lớn mở toang đón gió. Chuồng gia súc có các ngăn ở khu vực chính
dành cho những con ngựa làm việc, có các cột ở đó để buộc bò, có một bãi rào nhốt cừu ở
phía sau, tiếp đó là chuồng lợn. Nơi đây còn chất đầy mọi thứ đồ mà bạn thấy ở một sân
kho: thang, đá mài, chĩa hất rơm, hái hớt cỏ, máy cắt cỏ, xẻng xúc tuyết, cán rìu, xô lấy
vữa, gầu nƣớc, những vỏ bao gạo và những chiếc bẫy chuột đã gỉ. Nó là loại chuồng trại
mà chim én thích làm tổ. Nó là loại sân kho mà trẻ con thích chơi, và chú của Fern, ông
Homer là chủ sở hữu toàn bộ mọi thứ.
Nhà mới của Wilbur ở phần thấp hơn trong chuồng gia súc, thấp hơn cả chuồng bò. Ông
Zukerman biết rằng một đống phân ủ là một chỗ tốt để chăn một con lợn con. Lợn cần ấm
áp, và ở dƣới đó, trong hầm chứa ở phía nam chuồng gia súc thật ấm áp và tiện lợi.
Hầu nhƣ ngày nào Fern cũng đến thăm Wilbur. Cô bé tìm thấy một cái ghế đẩu ngồi
vắt sữa đã cũ bị vứt đi. Đặt ghế trong bãi rào chăn cừu cạnh chuồng của Wilbur. Đàn cừu
nhanh chóng quen với cô bé và tin cậy cô. Bầy ngỗng sống chung với lũ cừu cũng thế.
Tất cả gia súc đều tin cậy cô bé, cô quá lặng lẽ và thân thiện. Ông Zukerman không cho
phép cô vào chuồng lợn. Nhƣng ông bảo cô có thể ngồi ghế đẩu và ngắm nhìn bao lâu tùy
ý. Chỉ đƣợc ở gần con lợn thôi cũng đủ làm cô bé hạnh phúc, và Wilbur thì vui sƣớng biết
rằng cô đang ngồi đó, ngay ngoài chuồng của nó, nhƣng nó không bao giờ có trò gì vui
cả. Không còn những cuộc đi dạo, không còn những lúc nằm trên xe nôi, không còn bơi
lội nữa.
Một chiều tháng sáu, khi Wilbur gần đƣợc hai tháng tuổi, nó thơ thẩn đi ra khoảng sân
nhỏ bên ngoài khu chuồng. Fern không đến thăm chú nhƣ thƣờng lệ. Wilbur đứng dƣới
ánh nắng, cảm thấy cô đơn và buồn chán.
- Quanh đây chẳng bao giờ có gì để làm, - nó nghĩ. Nó lững thững đi đến máng ăn và
hít hít để xem liệu còn gì lại sau bữa trƣa không. Nó thấy một mẩu vỏ khoai tây và chén
luôn. Lƣng nó ngứa ngáy nên nó dựa vào hàng rào và cọ lƣng vào những tấm gỗ. Khi đã
chán trò này rồi, nó đi vào chuồng, trèo lên đống phân và nằm xuống. Nó không muốn
ngủ, không muốn đào bới, nó chán đứng yên, chán nằm. “Mình chƣa đầy hai tháng tuổi
mà đã ngán sống rồi” – nó nói, sau đó lại đi ra sân.
- Khi mình ở ngoài này, - nó nói, - chẳng có chỗ nào để đi trừ phi đi vào. Khi mình ở
trong chuồng, chẳng có chỗ nào để đi trừ phi đi ra sân.
12
- Đấy là chỗ cậu sai đấy, bạn của tôi, bạn của tôi ạ, - một giọng nói cất
lên. Wilbur nhìn qua hàng rào và thấy ngỗng cái đang đứng đó.
- Cậu không bắt buộc phải ở trong cái khoảng sân bé tí, bẩn… bẩn… bẩn… thỉu đó. –
Ngỗng cái nói khá nhanh. – Một trong những tấm ván đã bị long. Đẩy nó sang, đẩy – đẩy
– đẩy nó sang, và ra ngoài.
- Cái gì cơ? – Wilbur nói. – Chị nói chậm hơn xem nào!
- Với – với – với… mình nhắc lại, - ngỗng nói – mình bảo là cậu nên ra ngoài. Ở
ngoài này thật tuyệt diệu.
- Chị đã nói là một tấm ván bị long ra phải không?
- Tôi đã bảo, tôi đã bảo – ngỗng nói.
Wilbur đi đến hàng rào và thấy là ngỗng cái nói đúng – một tấm ván đã long ra. Nói
chúi đầu xuống, nhắm nghiền mắt lại và đẩy. Tấm ván tuột sang một bên. Phút chốc nó
đã chui qua hàng rào và đứng ở bãi cỏ bên ngoài khoảng sân của mình. Ngỗng khúc khích
cƣời.
- Cảm thấy sao khi đƣợc tự do? – Ngỗng hỏi.
- Em thấy thích lắm, - Wilbur nói.
Ở bên ngoài hàng rào, khi chẳng có gì ngăn nó với thế giới rộng lớn, nó cảm thấy là
lạ. - Chị bảo là em nên đi đâu?
- Bất kỳ chỗ nào cậu thích, bất kỳ chỗ nào cậu thích – ngỗng nói – Hãy đi xuống vƣờn
quả và dũi cỏ non. Hãy xuống vƣờn cây và bới củ cải! Hãy dũi mọi thứ lên! Hãy ăn cỏ!
Hãy tìm bắp ngô! Hãy kiếm lúa mạch! Hãy chạy khắp mọi nơi! Hãy nhảy nhót khiêu vũ
và nhảy tâng tâng! Hãy qua vƣờn quả và đi dạo trong rừng! Thế giới là một chốn tuyệt
vời khi cậu còn đang trẻ.
- Em hiểu rồi, - Wilbur đáp. Nó nhảy bật lên không trung, xoay một vòng, chạy mấy
bƣớc, dừng lại, nhìn xung quanh hít hít hƣơng vị của buổi chiều rồi bắt đầu đi xuống
vƣờn quả. Nó nghỉ chân dƣới bóng mát một cây táo, rồi chúi cái mõm khỏe khoắn xuống
đất, bắt đầu ủi, đào và dũi đất lên. Nó cảm thấy thật hạnh phúc. Nó xới bật hẳn một
khoảng đất lên thì có ngƣời để ý đến nó. Bà Zukerman là ngƣời đầu tiên trông thấy nó. Bà
thấy chú từ cửa sổ nhà bếp và ngay lập tức gọi cánh đàn ông.
- Ông Homer ơi! – Bà la to, - lợn xổng rồi! Lurvy ơi, lợn xổng! Lợn xổng chuồng. Nó
ở đằng kia, dƣới gốc táo ấy.
“Giờ thì rắc rối bắt đầu rồi, - Wilbur nghĩ thầm. – Giờ thì mình sẽ gặp hạn đây.”
Ngỗng cái nghe tiếng om sòm cũng bắt đầu hò hét:
- Hãy – hãy chạy đi – chạy – chạy xuống, hãy chạy vào rừng, vào rừng. Wilbur! Họ
sẽ không bao giờ - không bao giờ - không bao giờ bắt đƣợc cậu ở trong rừng đâu.
Thấy huyên náo, chó Cốc từ sân kho lao ra tham gia cuộc đuổi bắt. Ông Zukerman
nghe thấy tiếng ồn chui ra khỏi xƣởng máy nhỏ nơi ông đang chữa một thứ đồ dùng.
Lurvy, anh chàng làm công nghe tiếng ồn ào liền từ luống măng tây, nơi anh đang nhổ cỏ
13
dại, đi lên. Mọi ngƣời đều đổ về phía Wilbur và nó chẳng biết làm gì. Rừng dƣờng nhƣ ở
xa lắm, vả lại, nó chƣa bao giờ đi vào rừng, không biết liệu nó có thích hay không.
- Chạy vòng ra phía sau nó, Lurvy! – ông Zukerman nói, và dồn nó về phía khu
chuồng trại! – Cứ bình tĩnh, đừng lao vào nó! Tôi sẽ đi lấy một xô cám lợn.
Tin về cuộc bỏ trốn của Wilbur nhanh chóng lan ra trong đám gia súc ở trại. Hễ bao
giờ có một sinh vật nào trốn ra khỏi trang trại Zukerman, sự kiện ấy đều đƣợc những con
khác hết sức quan tâm. Ngỗng cái hét to với con bò đứng gần đó rằng Wilbur đã tự do, và
cả đàn bò nhanh chóng biết tin. Rồi một con cừu nghe thấy và cả bầy cừu nhanh chóng
biết tin. Lũ cừu con biết tin từ mẹ chúng. Đàn ngựa, trong gian chuồng của chúng ở khu
trại, vểnh tai lên nghe tiếng chị ngỗng hò hét; và đàn ngựa nhanh chóng hiểu đƣợc chuyện
gì đang xảy ra. “Wilbur trốn rồi”, - chúng nói. Mọi con vật đều ngúc ngoắc đầu và trở nên
phấn khích khi biết rằng một trong những ngƣời bạn của chúng đã đƣợc tự do, không còn
bị nhốt trong chuồng hay bị trói chặt nữa.
Wilbur không biết làm gì hay chạy theo ngả nào. Dƣờng nhƣ tất cả mọi ngƣời đều
dồn đuổi nó. “Nếu đƣợc tự do mà nhƣ thế này, nó nghĩ, thì thà bị nhốt trong khoảng sân
của riêng mình còn hơn”.
Chó Cốc đang lẻn đến gần nó từ một phía, còn Lurvy đang rón rén lại gần nó từ phía
bên kia. Bà Zukerman đứng sẵn để chặn đầu nó nếu nó chạy vào vƣờn, và giờ thì ông
Zukerman đang đi về phía nó, tay xách một chiếc xô. “Điều này thật khủng khiếp” –
Wilbur nghĩ. – “Tại sao Fern lại không đến nhỉ?” – Nó bắt đầu khóc.
Ngỗng cái nắm quyền chỉ huy bắt đầu ra lệnh.
- Đừng có đứng ỳ ra đó, Wilbur. Hãy chạy ngoắt ngoéo, chạy ngoắt ngoéo đi! –
Ngỗng kêu lên. – Hãy nhảy quanh, hãy chạy về phía tôi, hãy lẫn vào và ra, vào và ra, vào
và ra! Hãy chạy vào rừng! Hãy lƣợn vòng và rẽ quanh!
Chó Cốc chồm tới chân sau của Wilbur. Wilbur nhảy bật lên và chạy. Lurvy vƣơn tay
ra và vồ. Bà Zukerman hét Lurvy. Ngỗng cái cổ vũ Wilbur. Wilbur luồn qua chân Lurvy.
Lurvy vồ hụt Wilbur thay vì thế lại chộp trúng chó Cốc.
- Khá đấy, khá đấy! – ngỗng kêu lên. – Làm lại xem nào! Làm lại xem nào!
- Hãy chạy xuống dốc! – đàn bò gợi ý.
- Chạy đến chỗ anh! – ngỗng đực la to.
- Hãy chạy lên dốc! – đàn cừu be lên.
- Hãy rẽ quanh và lƣợn vòng! – ngỗng cái hò reo.
- Hãy nhảy nhót và khiêu vũ! – gà trống nói.
- Hãy đề phòng Zukerman! – ngỗng đực gào.
- Hãy coi chừng con chó! – cừu kêu to.
- Hãy nghe tôi, hãy nghe tôi! – ngỗng cái hét ầm lên.
Wilbur khốn khổ mê mụ và hoảng sợ bởi những tiếng la ó om sòm đó. Nó không thích
trở thành trung tâm của tất cả chuyện ầm ĩ này. Nó cố gắng làm theo những lời chỉ dẫn mà
14
bạn bè đang mách bảo, nhƣng không thể chạy xuống dốc và lên dốc cùng một lúc, và
không thể rẽ quanh và lƣợn vòng trong khi đang nhảy nhót và khiêu vũ đƣợc, nó khóc to
đến nỗi hầu nhƣ chẳng nhìn thấy những gì đang diễn ra nữa. Vả lại, Wilbur là một con
lợn con không lớn hơn một em bé là bao. Nó ƣớc gì có Fern ở đây để ôm nó trong tay và
an ủi nó. Khi nó ngẩng lên thấy ông Zukerman đang đứng ngay bên cạnh, tay xách một
xô cám âm ấm, nó cảm thấy nhẹ nhõm. Nó hếch mũi lên và ngửi. Mùi vị tỏa ra thật ngon
– nào sữa nóng, nào vỏ khoai tây, hạt mì tấm, mẩu vụn ngô nƣớng và cả một chiếc bánh
nƣớng xốp còn sót lại sau bữa điểm tâm của gia đình Zukerman.
- Đến đây nào, lợn con! – ông Zukerman vỗ vỗ vào chiếc xô và nói, - đến đây nào, lợn
con!
Wilbur bƣớc một bƣớc về phía chiếc xô.
- Đừng, đừng, đừng đến! – chị ngỗng nói – Đó là mẹo lừa bằng chiếc xô cũ rích đấy
Wilbur. Đừng có để bị bịp, đừng có để bị bịp! Ông ta đang cố bẫy cậu vào tù, - tù lại đấy.
Ông ta đang quyến rũ cái bụng cậu đấy.
Wilbur chẳng quan tâm. Đồ ăn tỏa mùi vị ngon lành. Nó tiến một bƣớc nữa về phía cái
xô.
- Lợn con, lợn con! – ông Zukerman ân cần và bắt đầu đi chầm chậm về phía sân kho,
nhìn tất cả xung quanh tỏ vẻ ngây thơ, nhƣ thể ông ta không biết rằng một cậu lợn trắng
bé con đang đi theo sau ông.
- Cậu sẽ hối tiếc – hối tiếc – hối tiếc! – Ngỗng cái gọi.
Wilbur chẳng quan tâm. Nó vẫn đi về phía xô cám.
- Cậu sẽ bỏ lỡ tự do của cậu – ngỗng cái la lên. – Một giờ tự do đáng giá bằng một
thùng cám.
Wilbur chẳng quan tâm.
Tới chuồng lợn, ông Zukerman trèo qua hàng rào và đổ cám vào máng ăn. Rồi ông
kéo tấm ván long ra khỏi hàng rào để có một lỗ hổng lớn cho Wilbur đi qua.
- Hãy cân nhắc lại, cân nhắc lại! – chị ngỗng kêu lên.
Wilbur chẳng hề để ý. Nó chui qua rào vào khoảng sân của mình. Nó đi tới máng và
tợp một hớp cám rõ dài, sục vào sữa một cách háu đói và nhai bánh nƣớng xốp. Lại đƣợc
về nhà, thật là thích.
Trong khi Wilbur ăn, Lurvy tìm đƣợc một cái búa với mấy chiếc đinh con đóng tấm
ván lại chỗ cũ. Rồi anh ta cùng ông Zukerman uể oải tựa vào hàng rào, ông Zukerman
cầm một chiếc gậy gãi gãi vào lƣng Wilbur.
- Nó thật đúng là một con lợn. – Lurvy nói.
- Phải, nó sẽ thành một con lợn tốt. – ông Zukerman nói.
Wilbur nghe những lời khen đó. Nó cảm thấy sữa ấm chảy trong bụng. Nó cảm thấy
sự gãi gãi dễ chịu của chiếc gậy dọc theo cái lƣng ngứa ngáy của nó. Nó cảm thấy bình
yên, hạnh phúc và buồn ngủ. Một buổi chiều thật mệt nhọc. Mới khoảng bốn giờ thôi
nhƣng Wilbur đã tính chuyện đi ngủ.
15
“Mình thực sự còn quá trẻ để đi ra ngoài thế giới một mình”, - vừa nằm xuống nó vừa
thầm nghĩ nhƣ vậy.
16
CHƢƠNG 4: CÔ ĐƠN
Ngày hôm sau mƣa và tối tăm. Mƣa rơi trên mái của khu chuồng trại và tí tách rỏ
xuống từ mái hiên. Mƣa rơi trong sân trại và chảy theo đƣờng vòng xuống con hẻm nơi
những cây kế vu và cỏ dại mọc đầy. Mƣa hắt vào cánh cửa sổ bếp của bà Zukerman và
chảy xuống thành dòng. Mƣa rơi trên lƣng bầy cừu trong lúc chúng đang gặm cỏ ngoài
đồng. Khi đàn cừu đã chán đứng trong mƣa, chúng chậm chạp leo lên con hẻm đi vào
chuồng.
Mƣa làm hỏng hết kế hoạch của Wilbur. Hôm nay nó đã đặt kế hoạch đi ra ngoài và
đào một cái hố mới trong sân của nó. Nó cũng có những dự định khác. Kế hoạch trong
ngày của nó đại loại nhƣ sau:
Điểm tâm lúc 6 giờ 30 có váng sữa, vỏ bánh, hạt tấm, mấy mẩu bánh rán, bánh lúa mì
có dính những giọt siro, vỏ khoai tây, những mẩu bánh pút – đinh sữa trứng với những
hạt nho khô sót lại và vụn mì.
Dùng bữa điểm tâm xong lúc 7 giờ.
Từ 7 đến 8 giờ, nó dự định trò chuyện với Templeton, gã chuột cống ở bên dƣới máng
ăn của nó, chuyện trò với gã này chẳng phải là việc hay ho nhất trên đời, nhƣng cũng còn
hơn là không có gì.
Từ 8 đến 9 giờ, nó định sẽ chợp mắt một lát ở ngoài cửa dƣới ánh nắng mặt trời.
Từ 9 đến 11 giờ, nó dự định đào một cái hố, hoặc một đƣờng hào và có thể sẽ tìm
thấy cái gì đó ngon bị vùi dƣới bụi đất để chén.
Từ 11 đến 12 giờ nó trù định sẽ đứng yên lặng và ngắm lũ ruồi trên những tấm ván,
ngắm đàn ong trong đám cỏ ba lá và ngắm én liệng trên không.
12 giờ - giờ ăn trƣa. Hạt tấm, nƣớc ấm, những mẩu táo, nƣớc sốt thịt, cà rốt nạo,
những mẩu thịt vụn, cháo ngô chớm ôi, và giấy bọc một gói pho mát đã hết. Bữa trƣa sẽ
xong lúc 1 giờ.
Từ 1 đến 2 giờ, nó có kế hoạch gãi những chỗ ngứa bằng cách cọ vào hàng rào.
Từ 3 đến 4 giờ, nó dự định sẽ đứng im lìm, nghĩ ngợi chuyện đời và đợi Fern.
4 giờ thì lại đến bữa chiều. Váng sữa, những mẩu bánh mỳ kẹp thịt còn sót lại từ hộp
thức ăn trƣa của Lurvy, vỏ mận, khoai tây rán, mấy giọt mứt cam, thêm một chút thức
này, thêm một tí thức kia, một mẩu táo nƣớng, một mẩu bánh bơ.
Wilbur đi ngủ với những dự định này. Nó tỉnh dậy lúc 6 giờ và nhìn mƣa, dƣờng nhƣ
nó không thể chịu đựng nổi điều đó nữa.
“Mình đã đặt kế hoạch cho tất cả mọi việc một cách tốt đẹp mà trời thì lại mƣa thế
này” – chú tự nhủ.
Chú đứng rầu rĩ trong chuồng một lúc. Rồi chú đi tới cửa và nhìn ra ngoài, những giọt
nƣớc mƣa bắn lên mặt chú. Khoảng sân lạnh và ƣớt. Trong máng ăn của chú nƣớc mƣa
17
[2]
ngập tới một inh . Chẳng thấy chuột xám Templeton ở đâu cả.
- Anh có ở ngoài đó không, anh chuột ơi! – Wilbur gọi. Không có tiếng trả lời.
- Bỗng dƣng Wilbur cảm thấy cô đơn và thiếu bạn.
- Một ngày giống hệt nhƣ một ngày khác – chú rên rỉ. – Mình còn rất nhỏ, mình chẳng
có ngƣời bạn thực sự nào ở khu chuồng này cả, trời thì mƣa suốt ngày và Fern sẽ chẳng
đến lúc thời tiết tồi tệ nhƣ vậy. Ôi, trời ơi! – và Wilbur lại khóc, lần thứ hai trong vòng
hai ngày.
Vào lúc 6 giờ 30, Wilbur nghe thấy tiếng đập mạnh của một chiếc xô. Lurvy đứng
dƣới mƣa đang khuấy bữa sáng.
- Đến đây, chú lợn! – Lurvy nói.
Wilbur không động đậy. Lurvy trút cám vào, vét sạch chiếc xô và bỏ đi. Anh ta để ý
thấy có điều gì không ổn với chú lợn.
Wilbur không thiết ăn, chú muốn đƣợc yêu thƣơng. Chú muốn có một ngƣời bạn, một
ai đó có thể chơi với chú. Chú đề cập việc này với ngỗng cái đang nằm lặng lẽ ở một góc
trong chuồng cừu.
- Chị sẽ đến đây và chơi với em chứ? – Chú hỏi.
- Xin lỗi, xin lỗi, xin lỗi – ngỗng nói. – Tôi đang nằm ấp trứng. Có tám quả. Phải giữ cho
chúng đƣợc sƣởi – sƣởi – sƣởi ấm. Tôi phải nằm ngay tại đây. Tôi không phải là kẻ ba
– ba – hoa. Tôi không chơi đùa khi ấp trứng. Tôi đang mong đợi ngỗng con ra đời.
- Hừ, em không hề nghĩ là chị đang mong đợi chim gõ kiến. – Wilbur cay đắng
nói. Sau đó Wilbur quay sang nói với một con cừu con.
- Anh làm ơn chơi với tôi chứ? – Chú hỏi.
- Tất nhiên là không – cừu con nói. – Lý do trƣớc tiên là tôi không thể vào chuồng
anh đƣợc, vì tôi chƣa đủ lớn để nhảy qua hàng rào. Lý do thứ hai là tôi không thích loài
lợn. Đối với tôi, lợn có nghĩa là “còn ít hơn cả không có gì”.
- Anh định nói ít hơn cả không có gì nghĩa là gì? – Wilbur hỏi. – Tôi không nghĩ là có
một cái gì lại còn ít hơn cả không có gì đƣợc. Không có gì là giới hạn tuyệt đối của sự
không có gì. Nó là mức thấp nhất rồi. Nó là tận cùng của con đƣờng rồi. Làm sao mà một
cái gì đó lại còn có thể ít hơn không có gì? Nếu có một cái gì mà ít hơn không có gì, khi
ấy không có gì không còn là không có gì nữa, nó sẽ là một cái gì đó – cho dù chỉ là một tí
tẹo của cái gì đó. Nhƣng nếu không có gì là chẳng có cái gì, khi đó không có gì sẽ chẳng
có cái gì mà ít hơn bản thân nó đƣợc.
- Ồ, im đi! – cừu con nói. – Hãy tự chơi một mình! Tôi không chơi với lợn!
Wilbur buồn bã nằm xuống và lắng nghe mƣa. Một thoáng sau chú thấy gã chuột bò
dọc xuống tấm ván nghiêng mà gã dùng làm thang.
- Anh sẽ chơi với tôi chứ, Templeton? – Wilbur hỏi.
- Chơi ƣ? – Templeton vừa vân vê ria mép và nói. – Chơi ƣ? Ta hầu nhƣ chả biết
nghĩa của từ đó nữa cơ.
18
- À – Wilbur nói, - nghĩa là chơi, là đùa giỡn, là chạy, nhảy và vui vẻ ấy mà.
- Ta chẳng bao giờ làm những gì mà ta có thể tránh đƣợc. – Gã chuột chanh chua đáp.
– Ta thích sử dụng thời gian của mình để ăn, để gặm nhấm, để thám thính và lẩn trốn còn
hơn. Ta là một kẻ ham ăn chứ không phải là một kẻ ham vui. Ngay bây giờ ta đang trên
đƣờng tới máng ăn của chú mày để chén bữa điểm tâm, vì chú mày không thiết ăn mà.
Và gã chuột Templeton lén lút bò dọc theo tƣờng rồi biến vào một đƣờng hầm riêng
mà gã tự đào ở giữa cửa và máng ăn trong khoảng sân của Wilbur. Templeton là một gã
chuột lắm mánh khóe, và gã có cách riêng của mình. Đƣờng hầm là một ví dụ về sự khéo
léo và xảo quyệt của gã. Đƣờng hầm khiến cho gã có thể đi từ khu chuồng đến nơi ẩn nấp
của gã bên dƣới máng lợn mà không xuất đầu lộ diện. Gã có những đƣờng hầm và lối đi ở
khắp mọi nơi trong trang trại nhà Zukerman và có thể đi từ chỗ này đến chỗ khác mà
không bị trông thấy. Thƣờng thì gã ngủ suốt ngày và chỉ đi ra ngoài sau khi trời tối.
Wilbur dõi nhìn gã biến vào trong đƣờng hầm. Một thoáng sau chú thấy cái mõm
nhọn hoắt của gã chuột nhô ra từ bên dƣới máng gỗ. Templeton thận trọng đu qua thành
máng. Điều này dƣờng nhƣ vƣợt quá sức chịu đựng của Wilbur: vào cái ngày mƣa gió ảm
đạm này phải nhìn ngƣời khác ăn mất bữa điểm tâm của mình. Chú biết rằng ở ngoài đó
Templeton đang bị ƣớt sũng nƣớc dƣới trời mƣa nhƣ trút, nhƣng thậm chí cả điều đó
cũng chẳng an ủi đƣợc chú. Không bạn bè, buồn nản và đói, chú gieo mình xuống đống
phân ủ và thổn thức.
Cuối buổi chiều hôm ấy, Lurvy đến gặp ông Zukerman:
- Tôi nghĩ là có điều gì không ổn với chú lợn ấy của ông. Nó không hề động đến thức
ăn.
- Hãy cho nó uống hai thìa đầy lƣu huỳnh và một chút mật mía, - ông Zukerman nói.
Wilbur không thể tin nổi điều đang xảy ra với mình khi Lurvy tóm lấy chú và tống
thuốc xuống cổ họng chú. Hôm nay chắc chắn là ngày tồi tệ nhất trong đời chú. Chú
không biết liệu chú còn có thể chịu nỗi cô đơn khủng khiếp nữa không.
Màn đêm bao trùm lên mọi vật. Chẳng mất chốc chỉ có những cái bóng và tiếng động
của những con cừu nhai lại thức ăn, và thỉnh thoảng có tiếng lạch cạch của dây buộc bò ở
phía trên đầu. Bạn có thể tƣởng tƣợng ra sự kinh ngạc của Wilbur nhƣ thế nào khi một
giọng nói nhỏ mà trƣớc đó chú chƣa từng nghe, cất lên trong bóng tối. Giọng nghe khá
lảnh lót nhƣng vui vẻ:
- Bạn muốn có một ngƣời bạn không, Wilbur? – Giọng đó nói. – mình sẽ là một
ngƣời bạn của bạn. Mình quan sát bạn suốt cả ngày và mình thích bạn!
- Nhƣng mình không nhìn thấy bạn. – Wilbur nhảy dựng lên và nói. – Bạn ở đâu? Và
bạn là ai vậy?
- Mình ở ngay trên này thôi, - giọng đó nói. – Hãy ngủ đi. Sáng ra bạn sẽ thấy mình!
19
CHƢƠNG 5: CÔ NHỆN CHARLOTTE
Đêm dƣờng nhƣ quá dài. Bụng Wilbur rỗng không, trong đầu ngổn ngang bao ý nghĩ.
Và khi mà bụng của bạn rỗng mà đầu bạn lại đầy ắp những suy nghĩ thì thật khó mà ngủ
đƣợc.
Đêm đó có đến hàng chục lần Wilbur tỉnh giấc, chú nhìn chằm chằm vào bóng đêm
và cố thử đoán xem đã mấy giờ rồi. Sân trại không bao giờ có sự yên tĩnh tuyệt đối. Thậm
chí vào lúc nửa đêm cũng vẫn có điều gì đó xao động. Lần đầu tiên thức giấc, chú nghe
thấy tiếng Templeton đang gặm một lỗ nơi thùng gạo. Răng T...
 









Các ý kiến mới nhất