Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra
Nghìn lẻ một đêm

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Thơi
Ngày gửi: 21h:39' 16-07-2024
Dung lượng: 8.6 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Thơi
Ngày gửi: 21h:39' 16-07-2024
Dung lượng: 8.6 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
NGHÌN LẺ MỘT ĐÊM
Phan Quang dịch và giới thiệu
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Tập I
LỜI GIỚI THIỆU
I
Nghìn lẻ một đêm, tác phẩm vĩ đại bậc nhất của nền văn học A Rập, là
một trong những công trình sáng tạo phong phú và hoàn mỹ của nền văn học
thế giới.
Để tựa bản dịch tiếng Nga xuất bản năm 1929 ở Sankt Peterburg, Macxim
Gorki viết: “Trong số các di tích tuyệt diệu của sáng tác truyền khẩu dân
gian, các truyện cổ tích của nàng Sêhêrazát là di tích đồ sộ nhất.
Những truyện cổ tích này thể hiện với mức hoàn hảo kỳ diệu, xu hướng
của nhân dân lao động muốn buông mình theo phép nhiệm màu của những
ảo giác êm đẹp, theo sự kết hợp phóng khoáng của từ ngữ thể hiện sức mạnh
vũ bão của trí tưởng tượng hoa mỹ của các dân tộc phương Đông – người A
Rập, người Ba Tư, người Ấn Độ. Công trình dệt gấm bằng từ ngữ này xuất
hiện từ thời tối cổ, những sợi tơ muôn màu của nó lan khắp bốn phương, phủ
lên trái đất một tấm thảm từ ngữ đẹp lạ lùng.”[1]
Truyện mở đầu tất cả các truyện, giải thích lý do ra đời của tất cả các
truyện, cái khâu đầu tiên của sợi dây chuyền vàng xuyên qua mọi tình tiết,
liên kết chúng lại thành một chuỗi ngọc tuyệt tác muôn vẻ muôn màu rồi
vòng trở lại để làm thành đoạn kết thúc, là chuyện của một người con gái.
Một người con gái tài sắc vẹn toàn, thông minh rất mực, đã không quản hiểm
nguy dám hi sinh tấm thân ngà ngọc của mình để cứu các bạn gái khỏi cảnh
ô nhục và cái chết bi thương.
Ngày xưa có hai anh em cùng làm vua. Anh làm hoàng đế nước Đại Ba
Tư choán một phần lớn trái đất. Em là vua nước Đại Táctari, chư hầu của
anh. Một hôm, được lệnh của anh triệu về, em vội vã lên đường. Xa giá vừa
ra khỏi kinh thành, đã nghỉ lại; nhà vua nhớ hoàng hậu, một mình lén trở lại
cấm cung định tự tình với người vợ quý yêu một lần nữa. Nhưng hỡi ôi! Nhà
vua không được gặp hoàng hậu như ở trong cảnh nhớ nhung thao thức mà lại
thấy hoàng hậu đang ngủ say trong vòng tay một người đàn ông khác ngay
trên giường ngự của mình. Nổi giận, nhà vua chém chết đôi gian phu dâm
phụ, ném xác xuống hào rồi lặng lẽ trở lại hành cung và ra lệnh khởi hành.
Vua tuyệt nhiên không hé răng cho bất cứ ai biết nỗi khổ riêng đang giày xé
lòng mình.
Song cũng từ buổi tối bất hạnh ấy, một nỗi buồn ghê gớm xâm chiếm nhà
vua và thường xuyên lộ ra nét mặt. Cảnh hoàng đế thân hành ra đón từ ngoài
kinh thành, cảnh hội hè yến tiệc, nghi lễ linh đình cũng như sự săn sóc chân
tình của vua anh đểu không thể làm tiêu tan nỗi u uẩn.
Nhà vua tự cho mình là người đau khổ nhất trần gian. Nhưng một hôm
tình cờ nhà vua bắt gặp hoàng hậu, chị dâu của mình, ngoại tình với một tên
da đen trong khi hoàng đế mải đi săn. Vua em thấy nhẹ hẳn người: “À, ra
không phải chỉ có ta là người đau khổ duy nhất. Vinh hiển, phú quý, quyền
uy chấn động thiên hạ đến như hoàng đế anh ta mà vẫn bị vợ lừa dối. Vậy thì
việc gì ta phải tự giày vò cho khổ thân!”
Đến lượt vua anh, khi được tự mình chứng kiến hành động dâm ô của
hoàng hậu, ông cũng vô cùng chán ngán. Hai anh em cùng một lúc từ bỏ
ngai vàng, từ bỏ mọi phú quý vinh hoa trên trần thế. Hai anh em ra đi định
tìm chốn ẩn thân đến trọn đời ở một nơi chân trời góc bể nào đó cho khuây
khỏa nỗi buồn, cho nguôi đi vết nhục. Nhưng tình cờ – vẫn là sự tình cờ –
hai vua bắt gặp một thần linh từ dưới đáy biển nổi lên, ghé vào bờ. Trên đầu
thần đội một chiếc hòm thủy tinh khóa bằng bốn chiếc khóa. Để phòng ngừa
vợ có thể không chung thủy, thần đã nhốt ả vào trong đó và giấu tận đáy đại
dương, chỉ mở cho ra những khi nào mình cần yêu đương tình tự. Ấy thế mà
người đàn bà đẹp này đã từng ngoại tình với những chín mươi tám người đàn
ông khác. Mỗi người sau phút ái ân, phải để lại cho ả một chiếc nhẫn làm kỷ
niệm. Và mỉa mai làm sao! Hai nhà vua, hai ông chồng đang buồn rầu ngao
ngán về thế sự này lại chính là những kẻ bị ả ép buộc làm những tình nhân
bất đắc dĩ thứ chín mươi chín và thứ một trăm.
Vậy ra đàn bà ở đâu cũng vậy và ai cũng như ai thôi. Không thể có cách
nào đủ hiệu lực ngăn ngừa, để cho họ giữ vẹn lòng chung thủy với chồng.
Chỉ còn một cách – hoàng đế nước Đại Ba Tư rút ra kết luận – là giết ngay
người con gái vừa chung chăn gối, không để cho sống đến ngày hôm sau. Đó
chính là cách trả thù đời, trả thù đám đàn bà, trả thù vợ của những ông chồng
bị cắm sừng mà trong tay có quyền lực tối cao.
Từ buổi đó, một luật lệ mới được ban hành ở nước Đại Ba Tư. Một luật lệ
vô cùng dã man, hết sức khắc nghiệt. Vua truyền cho tể tướng cứ mỗi đêm
bắt vào cung một cô gái trinh để hầu hạ mình, rồi rạng sáng hôm sau, khi
đêm vừa hết, thì ra lệnh giết chết cô gái ấy.
Thế là cứ mỗi đêm một cô gái trinh đi lấy chồng và sáng ra một người đàn
bà thiệt mạng.
Cảnh tang tóc bao phủ khắp kinh thành. Cung đình tràn ngập máu. Nỗi
đau đớn xé lòng mọi người mẹ, người cha, người yêu, người chồng chưa
cưới. Giữa lúc ấy xuất hiện cứu tinh, nàng Sêhêrazát, con gái yêu của chính
tể tướng, người chịu trách nhiệm thi hành lệnh tàn bạo của vua.
Sêhêrazát khẩn khoản xin cha dẫn mình vào cung hiến cho hoàng đế.
- Con điên hay sao? – Tể tướng kinh hoàng.
- Không, thưa cha, con hiểu rõ nỗi hiểm nghèo mà con sẽ phải trải qua.
Nhưng nó không làm cho con kinh sợ. Nếu con có bỏ mình, cái chết sẽ
quang vinh, nếu con thành công, con sẽ giúp cho đất nước một việc hệ trọng.
Sêhêrazát vào hầu hoàng đế, chỉ xin mỗi một đặc ân: cho phép em gái nhỏ
của nàng được ngủ với chị “một đêm cuối cùng”. Vua đồng ý. Tảng sáng
hôm sau, một giờ trước khi mặt trời mọc, cô em gái nhỏ được dặn trước, liền
gọi chị và khẩn khoản xin kể cho nghe “một trong những câu chuyện hay
hay mà chị rất thành thạo”.
Tên vua độc ác, lúc xác thịt đã thỏa thuê, cũng muốn nghe một câu chuyện
hay hay chờ trời sáng, để ra lệnh thi hành luật lệ dã man của hắn.
Nàng Sêhêrazát bắt đầu kể…
Trời sáng rồi mà chuyện hay còn dang dở. Nhà vua nửa cần đi thiết triều,
nửa muốn nghe nốt, liền cho hoãn lệnh xử tử người con gái đến ngày hôm
sau.
Một đêm nữa, rồi lại một đêm nữa… chuyện vẫn dở dang vào đoạn hay
nhất, vừa lúc trời sáng và án tử hình lại phải hoãn.
Cứ thế một nghìn lẻ một đêm trôi qua.
Cứ thế, truyện này nối tiếp truyện kia, truyện sau lồng vào truyện trước.
Truyện này chưa hết truyện khác đã bắt đầu dường như vô tận. Trước mắt
chúng ta, hiện lên không biết bao nhiêu là nhân vật: từ hoàng đế, tể tướng,
hoàng tử, vương tôn, nhà hiền triết, bậc tu hành, quan coi ngục, viên hoạn nô
cho đến tên cướp biển, lão chủ nô, mụ mối, đứa du thủ du thực, lão lái buôn,
bác phó cạo, anh thợ may, người vác thuê, nhà hàng thịt, cô hầu gái, chú tiều
phu… Và phúc thần và phù thủy và ma quỷ và tiên nương… Khi là cảnh
cung đình rực rỡ đèn hoa, lộng lẫy ngọc ngà châu báu, khi là cảnh dạt tàu
cướp miếng ăn của ma mà sống. Lúc chuyện xảy ra trong thế giới thần tiên,
lúc ở nơi đầu đường xó chợ. Về tôn giáo, có những người theo đạo Hồi, có
những người theo đạo Thiên Chúa, đạo Do Thái, lại có những người thờ thần
Lửa… Về không gian, các chuyện xảy ra ở những nơi ngày nay được ghi
trên bản đồ là Ấn Độ và Sơri Lanca, Liên Xô và Trung Quốc, Gióocđani và
Iran và trước hết là Tây Á và Bắc Phi với Ai Cập, Irắc, Xyri. Tóm lại, khung
cảnh rất rộng lớn, chủ để thật đa dạng, tình tiết hết sức bất ngờ, ngôn ngữ vô
cùng phong phú, nhân vật rất thực và cũng rất hư. Quả khó có cách nào diễn
tả cho gãy gọn nếu ta không trở lại mượn hình tượng Gorki đã dùng:
“Những sợi tơ muôn màu cùa nó lan khắp bốn phương, phủ lên trái đất
một tấm thảm từ ngữ đẹp lạ lùng.”
Câu chuyện – hay đúng hơn là bộ sưu tập, là kho tàng những câu chuyện –
mở đầu bằng những tình tiết gây ấn tượng không lấy gì làm tốt đẹp đối với
người phụ nữ, đối với đức hạnh của những người vợ. Những cái nút vừa thắt
lại thì đã tháo ra ngay làm bật rõ phẩm chất cao quý của một người con gái,
trí tuệ sáng ngời của chính người đàn bà, chứ không phải là người thuộc giới
tính khác. Sêhêrazát nói với cha: “Nếu con có phải bỏ mình, cái chết của con
sẽ quang vinh, nhưng nếu con thành công, con sẽ giúp cho đất nước một việc
hệ trọng. “Toàn bộ tác phẩm mở đầu với hành động cực kỳ hung bạo, hơn cả
súc vật của một tên vua – bởi ngay loài cầm thú con đực cũng không bao giờ
cắn chết con cái vì làm như vậy là trái với tự nhiên, là tự mình diệt chủng –
và kết thúc bằng một cử chỉ hoàn toàn hợp với tính người. Sau đêm một
nghìn lẻ một, bạo chúa không những tha chết cho nàng Sêhêrazát mà còn
hủy bỏ luật pháp dã man của mình, luật pháp đã không có dịp thi hành suốt
một nghìn lẻ một đêm nhờ công của một người con gái. Độc giả lúc gấp sách
lại, hay thính giả khi người kể ngừng lời – vì đây là những chuyện kể – hoàn
toàn thỏa mãn, vừa thú vị về nội dung đặc sắc của các câu chuyện, vừa hài
lòng về cách kết thúc hợp lý hợp tình, “có hậu.” Không ai còn nhớ đến các
hoàng hậu kém đức hạnh nữa. Trong trí nhớ mỗi người hiện lên rõ đậm hình
dáng một nàng Sêhêrazát cao quý, dũng cảm, thông minh, xinh đẹp tuyệt
trần và chắc chắn là giọng kể cực kỳ quyến rũ.
Ngay từ đêm đầu, chúng ta đã thấy được nghệ thuật đặc sắc của những
chuyện sẽ kể tiếp trong một nghìn đêm sau.
II
Theo các nhà nghiên cứu, Nghìn lẻ một đêm - ít ra là bản lưu truyền đến
với chúng ta ngày nay – được định hình hẳn vào khoảng cuối thế kỷ 15 ở Ai
Cập. Thời kỳ này cả nước Ai Cập đã hoàn toàn theo đạo Hồi. Thật ra, sự
xuất hiện của nó còn ngược lên đến thời xa xưa, bắt nguồn từ những chuyện
Ba Tư rất cổ và đã trải qua một thời kỳ tồn tại lâu dài trước khi được viết ra
thành văn.
Ở đâu cũng vậy, các chuyện kể dân gian không bao giờ là công trình sáng
tạo của một người và có hình dạng hoàn chỉnh ngay từ đầu hay trong một
thời gian ngắn. Thông thường xoay quanh một chủ đề cơ bản, được quần
chúng tham gia, thời gian nhào nặn, tình tiết của câu chuyện phong phú dần
lên, có khi biến dạng đi, và tất nhiên sẽ thay đổi ít nhiều tùy theo địa điểm và
thời gian, bố cục ngày càng chặt chẽ. Cho đến một lúc nào đấy, nó được
những tài năng kiệt xuất chỉnh lý, định hình lần cuối rồi được nhân dân chấp
nhận coi như dạng bản cuối cùng. Các truyện kể được tập hợp trong công
trình đồ sộ với cái tên phổ cập toàn thế giới Nghìn lẻ một đêm có lẽ bắt
nguồn từ truyền thống các truyện dân gian xuất xứ ở phương Đông – đế quốc
của các hoàng đế A Rập. Xoay quanh những truyện này, một số truyện khác
cổ hơn, có nguồn gốc Ấn Độ, Ba Tư hoặc Ấn – Âu được bổ sung vào. Một
loại nữa là những câu chuyện lưu truyền, phản ánh sinh động xã hội Hồi giáo
buổi sơ khai của thời trung cổ, tức là thời đại các hoàng đế Abáxít[2] trong đó
một phần quan trọng dành nói về những chuyện phiêu lưu trên biển cả của
những thương nhân đầu tiên bắt đầu mở rộng buôn bán với nước ngoài bằng
đường biển. Tất nhiên có nhiều truyện nội dung vay mượn từ kho tàng cổ
tích các dân tộc khác. Đây là một hiện tượng thường thấy, nó cắt nghĩa vì
sao nhiều truyện cổ của người Ấn Độ, của Tây Âu chẳng hạn có những điểm
chung giống những truyện cổ ở Trung Quốc, ở Nam Á. “Vay mượn không
phải bao giờ cũng là xuyên tạc, đôi khi việc vay mượn bổ sung cho truyện và
làm cho nó đã hay càng hay hơn.”[3]
Những người kể chuyện rong mang những chuyện đó đi kể khắp nơi.
Trong quá trình ấy họ gọt đẽo cách diễn tả cho thích hợp và hấp dẫn người
nghe. Người ta cho rằng chính những người Ai Cập kể chuyện rong thế kỷ
12 và 13 đã làm cho các truyện trong Nghìn lẻ một đêm thêm phong phú về
nội dung, linh hoạt về hình thức và sáng sủa về từ ngữ. Ngôn ngữ dùng trong
tập truyện này gắn với tiếng nói của các tầng lớp bình dân A Rập hơn là
ngôn ngữ kinh viện thời bấy giờ.
Cũng có thể Nghìn lẻ một đêm thành hình – với tư cách là một tác phẩm
hoàn chỉnh – còn sớm hơn nữa. Theo R. Nicônxơn trong Lịch sử văn học A
Rập, năm 956 một học giả A Rập tên là Masadi đã nhắc tới một cuốn sách
cổ của người Ba Tư nhan đề “Một nghìn truyện, thường được gọi là Nghìn lẻ
một một đêm, đó là chuyện một quốc vương và tể tướng cùng với tiểu thư và
người hầu gái là nàng Sêhêrazát và Đináczát”
Năm 988, Mohammed Ishaq, tác giả một tập thư mục những tác phẩm văn
học A Rập và nước ngoài, nói đến việc người A Rập soạn lại tập truyện cổ
Ba Tư đó. Ông viết: “Tác giả tập Truyện các tể tướng là Abđul AI Jahshiyari
bắt tay soạn một cuốn sách trong đó ông chọn một nghìn truyện của người A
Rập, người Ba Tư, người Hy Lạp và nhiều dân tộc khác, các truyện đểu
riêng biệt, không có quan hệ gì với nhau. Ông tập hợp một số người làm
nghề kể lại, mời họ kể cho nghe rồi chọn những truyện hay nhất, những ngụ
ngôn, cổ tích mà ông thích nhất. Là một người có tài, ông đúc những câu
chuyện ấy lại thành bốn trăm tám mươi đêm, mỗi đêm là một truyện trọn vẹn
dài trên dưới năm chục trang. Nhưng ông chết bất ngờ trước khi hoàn thành
một nghìn truyện như dự định.”[4]
Nghìn lẻ một đêm[5] như ta đã biết hiện nay, lần đầu tiên được giới thiệu
với châu Âu rồi từ đó phổ cập rộng khắp hầu như toàn thế giới là nhờ công
lao của một học giả người Pháp Antoine Galland mà bản dịch từ khi ra đời
cách đây gần ba thế kỷ đã mau chóng trở thành kinh điển.
Antoine Galland sinh năm 1646 tại một thị trấn nhỏ ở tỉnh Picácđi, miền
Bắc nước Pháp. Ông mồ côi cha từ sớm. Bà mẹ phải làm lụng vất vả cho con
ăn học. Mười bốn tuổi đã phải đi làm; một năm sau tìm đến Paris tiếp tục
trau dổi kiến thức. Sau đó, giúp việc cho sứ thần Pháp ở Côngxtăngtinôp
(nay là Xtămbun, thuộc Thổ Nhĩ Kỳ) nhờ vậy ông có điều kiện đi lại nhiều
nước Tây Á. Trở về Paris, một hôm tình cờ đọc được một bản chép tay bảy
truyện cổ A Rập, ông có ý định dịch và cho xuất bản. Sách sắp đưa in thì
dịch giả được biết những truyện này thực ra rút từ “một pho đồ sộ gồm nhiều
truyện tương tự chia thành nhiều tập để là Nghìn lẻ một đêm.[6]
Ông nhờ người tìm kiếm hộ, từ Xỵri người ta chỉ gửi đến cho ông có bốn
tập. Ông dịch ngay tập đầu tiên và cho xuất bản năm 1704.[7] “Món quà nhỏ
mọn” như lời ông viết trong thư gửi tặng hầu tước phu nhân 0” lập tức được
hoan nghênh nhiệt liệt. Thành công hết sức to lớn. Cùng với hầu tước phu
nhân O, cả triều đình, nghị viện từ giai cấp tư sản cho đến các tầng lớp
nghèo hèn, tóm lại là tất cả những ai biết đọc biết viết ở Pháp đều đổ xô vào
tranh nhau tập sách.
Trong bốn năm, từ 1704 đến 1708, mười hai tập lần lượt ra đời. Năm 1709
Antoine Galland được một người bạn A Rập đến Paris trao thêm cho một số
truyện nữa, ông lại dịch và cho in tiếp. Từ 1704 đến 1782, trong vòng bảy
mươi tám năm, bản dịch của A. Galland được in lại hơn bảy mươi lần. Trong
những điều kiện của thời bấy giờ, với phương tiện và kỹ thuật ấn loát thô sơ,
công nghiệp giấy chưa phát triển, tỉ lệ người biết đọc và biết viết cũng chưa
cao, thành công ấy vượt quá mức tưởng tượng và sự mong ước của mọi
người. Từ bản của AntoineGalland, Nghìn lẻ một đêm được dịch ra nhiều
thứ tiếng và xuất bản ở nhiều nước châu Âu: Anh, Hà Lan, Đức, Italia, Tây
Ban Nha và một số nước tại các châu lục khác.
Chừng hai thế kỷ sau Antoine Galland, một bản dịch tiếng Pháp khác của
Nghìn lẻ một đêm ra đời. Dịch giả là tiến sĩ J. J. C. Mardrus. Thật ra đây là
một bản dịch theo quan niệm và phong cách hoàn toàn khác: Mardrus không
bỏ sót một chi tiết nào, kể cả những đoạn rườm rà đậm màu dâm tục và tất cả
những thơ rải rác trong các truyện. Người ta đã bàn cãi khá nhiều về hai bản
dịch đó. Các nhà nghiên cứu văn học đều nhất trí đánh giá cao bản dịch của
Antoine Galland. Người dịch đã cố tình tước bớt, để tránh cho những người
đọc đỡ ngượng ngùng, một số chi tiết tả tỉ mỉ những cảnh sinh hoạt mà cho
dù có in ra “cũng không cho biết thêm một điều gì mới mẻ về phong tục
những người theo đạo Hồi” bởi vì những cảnh ấy “diễn tả con người đang
sống theo những giây phút bản năng thấp hèn nhất mà bất cứ người sống ở vĩ
tuyến nào cũng đều có” như lời nhận xét của E.BIochet trong tạp chí Bách
khoa (Pháp) số tháng Giêng năm 1900. Tạp chí này nhận xét: “Bản dịch của
Antoine Galland cho chúng ta một ý niệm rất trung thành về tính cách và lời
văn của bộ Nghìn lẻ một đêm cũng như về sinh hoạt của người A Rập.”
Charles Nodier một nhà văn Pháp cũng chuyên viết truyện cổ tích đầu thế
kỷ 19 đã đánh giá bản dịch của Antoine Galland như sau: “Bản dịch của
AntoineGalland là một tác phẩm có thể coi là kinh điển trong thể loại văn
học này, và nếu nó có phải chịu vài điều chê trách của những nhà Đông
phương học nào đó mê tín sự trung thành với các nguyên tác, ấy là vì những
vị này coi trọng lợi ích ngành học thuật chuộng màu sắc xa lạ của họ hơn là
tinh thần của ngôn ngữ và những yêu cầu của nền văn học dân tộc chúng
ta… Chúng tôi quả quyết rằng lẽ ra người ta phải thông cảm hơn với trí
thông minh và sự tinh tế của Antoine Galland đã gạt bỏ ra khỏi các truyện
xinh xắn ấy những hình tượng chói chang, nhiều chi tiết nhạt nhẽo, những sự
trùng lặp vô bổ chỉ có thể làm giảm sút hứng thú trong một ngôn ngữ bóng
bẩy nhưng chính xác, bất kỳ ở đâu cũng muốn kết hợp tính gợi cảm và tính
chuẩn xác (là tiếng Pháp).”
Nhà văn Gaston Picard gần đây khi soát lại bản dịch của Galland để cho in
lại (bản in năm 1962) sau khi trích dẫn ý kiến của tạp chí Bách khoa đã hóm
hỉnh nhận xét thêm: Antoine Galland ý tứ hơn nhiều so với tiểu thư
Sêhêrazát, người mới hôm qua đây còn là một trinh nữ. Ông sợ làm chối tai
bạn đọc tuy không còn là thơ dại như Đináczát song cũng không có đôi tai
ưa nghe những chuyện sỗ sàng như đôi tai bạo chúa Saria. Khác với
Mardrus, AntoineGalland không quan tâm dịch các vần thơ. Có lẽ ông không
muốn để người đọc phải sốt ruột.
Với những truyện hấp dẫn thế này, ai chẳng nóng lòng muốn biết kết cục
rồi sẽ ra sao. Vả chăng, chẳng phải là chất thơ đã thấm đượm mọi dòng, mọi
trang của truyện A Rập đó sao? Đây là văn học dân gian. Tuy đề tặng một
hầu tước phu nhân, song thật ra Antoine Galland khi dịch đã nghĩ tới những
độc giả bình thường, các tầng lớp đông đảo – và chính điều đó quyết định
một phần rất lớn thành công của ông. Nhờ vậy, tập truyện mau chóng phổ
cập rộng rãi tuy sau khi bị cắt xén, lược dịch và chọn lọc, vẫn còn dài tới gần
hai nghìn trang.
Còn J. C. Mardrus thì xuất phát từ một quan điểm khác. Không phải ngẫu
nhiên mà toàn bộ bản dịch của ông để tặng Stéphane Mallarmé và tập I để
tặng Paul Valérỵ – hai nhà thơ bí hiểm. Vì những lẽ đó, một số nhà phê bình
có xu hướng coi bản dịch của Mardrus nặng tính chất một công trình nghiên
cứu phong tục hơn là một tác phẩm văn học. Và cũng chính vì lẽ đó Nhà
xuất bản Kim Đồng lần này giới thiệu Nghìn lẻ một đêm qua bản dịch của
Antoine Galland.
III
Nghìn lẻ một đêm không chỉ là một tập truyện cổ tích, đó là cả một thế
giới. Thế giới người A Rập trong cuộc đời thực tại cũng như trong cảnh thần
tiên ma quái, thế giới của đạo Hồi từ khi có sử thành văn và đạo Hồi qua các
truyền thuyết dân gian. Người A Rập vẫn cho pho sách này là một tấm
gương vĩ đại ai nấy có thể nhìn vào đấy mà suy ngẫm, mà soi xét bản thân
mình. Lời nói đầu trong nguyên bản viết:
“Chuyện người xưa là bài học cho người đời nay” và ca ngợi: “Vinh
quang thay cho những ai đã góp chuyện người đời xưa để làm bài học cho
người đời nay! Chính từ trong những bài học ấy, nay xin kể chuyện Nghìn lẻ
một đêm với tất cả những điều màu nhiệm và những châm ngôn chứa đựng
trong đó.”
Khó mà thưởng thức đầy đủ tác phẩm văn học dân gian của một dân tộc
nếu không có những hiểu biết nhất định về lịch sử, triết lý và sinh hoạt của
dân tộc ấy. Rất nhiều truyện trong Nghìn lẻ một đêm xoay quanh những
chuyện xảy ra dưới triều đại của nhà vua có thực, nổi tiếng ở Bátđa vào cuối
thế kỷ thứ 8 và đầu thế kỷ thứ 9, vua Harun An-Rasit (786-809). Mặt khác,
mọi tiêu chuẩn về đạo đức, pháp lý… của người A Rập ngay cho đến bây giờ
vẫn cơ bản dựa trên kinh Côran. Bởi vậy, chúng tôi xin được giới thiệu sơ
qua với bạn đọc Việt Nam chúng ta một vài nét về thế giới A Rập và tổ chức
chính trị – xã hội của một đế quốc A Rập xưa kia, về đạo Hồi và người sáng
lập ra nó là Môhamét cùng với kinh Côran, Kinh Thánh tối thiêng liêng của
tôn giáo này.
Đạo Hồi (Ixlam) ra đời vào thế kỷ thứ 7 tại Arabi, người sáng lập là
Môhamét (hoặc Mahômết)[8] người thuộc bộ lạc Caraxít. Môhamét sinh ra ở
La Mếchcơ, thủ phủ nước Hếtgiadơ ở Arabi vào năm 570 (hoặc 580) và mất
ở Mêđin ngày 8 tháng 6 năm 632.
Mổ côi cha từ bé, lúc đầu Môhamét được ông nội nuôi, sau ở với chú. Lúc
còn trẻ, chuyên giúp việc hướng dẫn các đoàn du hành sa mạc. Về sau vào
làm công cho một người đàn bà góa giàu có, chủ một hiệu buôn ở La
Mếchcơ tên là Khađigia. Người phụ nữ này kết hôn với Môhamét tuy bà lớn
hơn ông nhiều tuổi. Nhờ đi đó đi đây nhiều, ông dần dần am tường giáo lý
đạo Do Thái, đạo Cơ Đốc và ngày càng say mê việc tu hành. Ông thường
lánh ở một nơi để suy ngẫm, đặc biệt về sự phán xét cuối cùng cũng như sự
xuất hiện của các nhà tiên tri. Theo truyền thuyết, một hôm ông nghe có
tiếng nói thiêng liêng từ trên trời vọng xuống giao sứ mệnh cho mình. Từ đó
ông tự cho là đấng sứ giả như nhiều đấng khác xưa kia được Thượng đế[9]
tuyển chọn và giao cho sứ mệnh răn bảo dân lành lòng kính sợ đấng Ala và
hằng ngày phải chăm lo sửa mình để chuẩn bị cho ngày phán xét cuối cùng.
Việc này xảy ra vào khoảng năm 610. Môhamét tự cho là được các thiên
thần truyền đạt cho những lời phán bảo của Thượng đế để phổ cập trong
nhân dân.
Lúc đầu số người tin theo ông rất ít. Đã thế một phần các tín đồ của ông bị
dân thành La Mếchcơ chống đối, buộc phải di cư sang Abyxini, một nước
thời bấy giờ theo đạo Thiên Chúa.
Được nhân dân trấn Yathôrít tiếp thụ giáo lý của ông khuyến khích,
Môhamét rời La Mếchcơ đến đây ngày 16 tháng 7 năm 622. Yathôrít từ đấy
lấy tên là Mêđin (có nghĩa là Thành phố của Đấng tiên tri) và ngày hôm ấy,
ngày 16 tháng 7 năm 622 trở thành ngày Nguyên đán của lịch Hồi giáo. Lịch
này tính dựa theo sự chuyển động của mặt trăng, như âm lịch của ta.
Ở Mêđin, Môhamét chẳng mấy chốc trở thành không chỉ là “Đấng tiên tri”
mà còn là một nhà chính trị nắm trong tay vận mệnh của thành phố này.
Quyền lực của ông một mặt dựa vào số tín đồ đã cùng ông rời bỏ La Mếchcơ
đến và mặt khác vào số người địa phương tin theo đạo của ông ngày càng
đông. Một cuộc chiến tranh xảy ra dai dẳng tám năm ròng, và kết thúc bằng
thắng lợi của Môhamét. Ông khải hoàn về La Mếchcơ năm 630.
Ngoài chiến thắng rực rỡ Bếtrơ, Môhamét còn tiến hành nhiều cuộc chinh
phục các nước khác, nhất là các nước ở Arabi, và tiến đánh Xiry, tạo tiền để
cho những cuộc chinh phạt lớn của người A Rập về sau, khi ông đã qua đời,
để mở rộng đế quốc của họ.
Môhamét không bao giờ tự cho mình là người sáng tạo ra kinh Côran, nền
tảng giáo lý đạo Hồi, cơ sở lập pháp và các mối quan hệ của người A Rập.
Ông chỉ nhận mình là người phát hiện ra Kinh Thánh. Ngoài chức năng kỳ
diệu đó ra, ông chỉ là một người như mọi người trần thế khác. Ông lấy bốn
vợ chính thức – như kinh Côran cho phép – lại thêm cả một đoàn tì thiếp
song vẫn không có con trai kế nghiệp. Sau khi Môhamét qua đời, những
người kế vị ông tiếp tục các cuộc chiến tranh chinh phạt, lập nên một đế
quốc rộng lớn trải từ bờ sông Ấn ở Tây Bắc Ấn Độ đến tận Đại Tây Dương
men theo bờ Bắc Địa Trung Hải. Đạo Hồi cũng nhờ đó mà lan truyền rộng
rãi. Được một thời gian đế quốc A Rập bị chia năm xẻ bảy song đạo Hồi vẫn
giữ được tính thống nhất và tiếp tục phát triển. Ngoài các nước A Rập nay
đông hơn một trăm triệu người, đạo Hồi còn thịnh hành ở nhiều vùng rộng
lớn từ Inđônêxia qua Pakistăng đến Tây Ban Nha, từ châu Phi da đen cho tới
các nước Trung Á: Kazastang, Kiechghizi, Udơbêkistăng, Taxikixtăng,
Tuốcmêni và vùng Tân Cương của Trung Quốc.
Những lời giáo huấn của Môhamét được các học trò và tín đồ gần gũi nhất
của ông ghi lại và lưu truyền qua các bản chép trên xương lạc đà, trên đá
hoặc trên lá cọ. Để tránh tình trạng có nhiều dị bản, vị calíp[10] đầu tiên nối
ngôi Môhamét là Abu Bêke (632-634) cho chỉnh lý và ban hành một bản
kinh duy nhất. Đến thời hoàng đế Otman (644-656) một tiểu ban lại được lập
ra có trách nhiệm chỉnh lý và xác định lần cuối cùng bản kinh chính thức.
Như vậy, chỉ hai mươi năm sau ngày giáo chủ qua đời, Kinh Thánh của đạo
Hồi đã không còn dị bản và cứ vậy được lưu truyền cho đến tận bây giờ.
Tuy vậy do đặc điểm lối viết chữ A Rập thường gây nhiều cách hiểu khác
nhau về văn phạm, lại trải qua mười ba thế kỷ lưu truyền kể cả ở nhiều nước
không nói tiếng A Rập, do đó khó tránh khỏi tình trạng nảy sinh nhiều điểm
dị biệt. Để khắc phục nhược điểm đó, năm 1923 chính phủ Ai Cập cho ấn
hành một bản kinh chính thức có chú thích rất đầy đủ nhằm tránh mọi cách
hiểu không đúng và có những cách giải thích khác nhau.[11]
Nhiều nhà nghiên cứu đã nhận xét: Kinh Côran là hiện tượng rất đặc biệt.
Jêxu Crít, người vẫn được coi là kẻ sáng lập đạo Thiên Chúa không để lại tác
phẩm hoặc di huấn nào. Những cộng đồng Thiên Chúa giáo đầu tiên tách ra
từ đạo Do Thái, thừa nhận Cựu ước vốn của đạo Do Thái và biến nó thành
Kinh Thánh của mình. Còn Tân ước là một tập hợp nhiều văn phẩm khác
nhau mãi đến cuối thế kỷ thứ tư sau Công nguyên mới thực sự định hình.
Ngược lại, kinh của đạo Hồi là tác phẩm của một người, và chỉ hai mươi
năm sau khi người đó qua đời, đã trở thành hoàn chỉnh. Đó là một điều hiếm
thấy trong lịch sử các tôn giáo, nói lên thiên tài lỗi lạc của Môhamết.
Kinh Côran về thực chất là phản ánh các hoạt động tôn giáo của Môhamét
với tư cách là một đấng “sứ giả”. Bởi vậy nội dung của nó rất phong phú và
phong cách diễn đạt cũng không đồng nhất. Những đoạn ra đời sớm nhất và
tương đối ngắn hơn cả mang nhiều chất thơ (kinh Côran vốn được viết bằng
văn xuôi có vần). Một phần quan trọng gồm những truyện kể vay mượn từ
những truyền thuyết Do Thái, Thiên Chúa giáo, nhất là truyền thuyết đã có
trong Cựu ước. Và cuối cùng là những quy định nhằm tổ chức cộng đồng tín
đồ ở Mêđin, đấy cũng là cơ sở luật lệ Hồi giáo về pháp lý và về lễ nghi.
Đạo Hồi khẳng định sự tồn tại của một Thượng đế duy nhất (tiếng A Rập
gọi là Ala) mà sứ giả cuối cùng là Môhamét. Có thiên đường và địa ngục, có
phục sinh và phán xét cuối cùng, có thiên thần và ma quỷ. Tính thiêng liêng
của kinh Côran là nguyên lý cơ bản của đạo Hồi. Về nghi tiết, tín đồ Hồi
giáo phải cầu kinh năm lần mỗi ngày. Lúc cầu kinh, mặt hướng về La
Mếchcơ. Tín đồ phải ăn chay trong tháng ramađan (tháng chín theo lịch Hồi)
và hành hương về La Mếchcơ ít nhất một lần trong suốt đời người. Đạo Hồi
không có thầy tu chuyên nghiệp. Chỉ có người rao giờ cầu kinh và những
người chuyên trách một số việc tôn giáo và xã hội.
Về mặt xã hội, sự xuất hiện của đạo Hồi mang một số yếu tố tiến bộ vào
thời đó. Đạo Hồi chủ trương đoàn kết mọi người, trước hết là đoàn kết các
dân tộc A Rập, bỏ tệ chôn người con gái đầu lòng mới đẻ, khuyến khích cứu
giúp người nghèo, giải phóng người nô lệ. Lúc ra đời nó phù hợp với nguyện
vọng của các tầng lớp nghèo hèn, nhờ vậy nhanh chóng lan truyền rộng rãi
và trở thành chỗ dựa vững chắc cho chế độ chính trị thời bấy giờ. Đạo Hồi
góp phần quyết định sự thành lập và bành trướng của đế quốc calíp từ thế kỷ
7 trở về sau.
IV
Một đặc điểm nổi bật và quán xuyến của Nghìn lẻ một đêm là cách dừng
câu chuyện lại giữa chừng, báo trước sẽ hạ hồi phân giải. Câu chuyện này
được lồng vào câu chuyện khác, cũng có khi tác giả tập hợp nhiều nhân vật
tính chất rất khác nhau lại một nơi, rồi tạo nên tình huống buộc mỗi người
phải kể một chuyện. Với cách này, truyện muốn kết thúc ở đâu cũng được,
hoặc muốn kéo dài bao nhiêu cũng vẫn là hợp lý.
Đặc điểm ấy xuất phát từ một sự cần thiết sống còn: nàng Sêhêrazát phải
ngừng câu chuyện của mình vào lúc trời sáng, ở đoạn hay nhất, hoặc hứa hẹn
một chuyện khác sẽ còn hấp dẫn hơn nữa; nếu không, tên bạo chúa Saria sẽ
thi hành quyết định tàn bạo của hắn và người kể chuyện sẽ không thể sống
tới ngày hôm sau. Đó cũng là nghệ thuật độc đáo của người kể chuyện rong
nhằm thu hút sự chú ý của thính giả, sao cho những người nghe không chán,
không mệt, không bỏ ra về dở chừng, và tối hôm sau sẽ còn đến nghe đông
hơn hôm trước. Những lúc nàng Sêhêrazát ngừng lại và nói với bạo chúa
Saria:“Tiếc thay trời đã sáng rồi mà phần còn lại là đoạn hay nhất trong câu
chuyện…” hoặc: “Những chuyện vừa rồi hay thật đấy nhưng không thể nào
so sánh được chuyện bệ hạ sắp nghe đâỵ…” chính là lúc người kể chuyện
thưa với thính giả đang chăm chú: “Đêm đã khuya lắm rồi xin cho phép
dừng tại đây, đêm mai tôi xin kể nốt hầu quý vị…” Lối ngắt chuyện này, có
những bản thành văn sẽ ghi tóm tắt: “Muốn biết sự thể thế nào, xin xem hồi
sau sẽ rõ”, (như trong các tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc).
Ngoài một số ít truyện riêng lẻ, Nghìn lẻ một đêm thường bao gồm những
chuỗi gắn bó với nhau lồng ghép vào nhau. Một nhân vật kể một chuyện,
nhân vật trong chuyện thứ hai này kể chuyện khác, rồi đến lượt nhân vật
thuộc thế hệ thứ ba kể tiếp một chuyện khác nữa. Đó là trường hợp chuỗi
truyện Người đánh cá gồm năm truyện. Thường gặp hơn là cách tạo nên tình
huống buộc tất cả những nhân vật chính trong truyện phải lần lượt kể chuyện
của mình hoặc một chuyện nào đó mà mình biết. Chuỗi Chuyện ba khất sĩ
con vua và năm thiếu phụ ở thành cổ Bátđa gồm bảy truyện, chuỗi Chuyện
chú gù gồm mười hai truyện, chuỗi Những chuyến vi hành gồm bốn truyện
v.v… thuộc vào trường hợp này. Cũng có khi một chuỗi nhiều truyện với
nhân vật và kết cấu riêng biệt được tập hợp theo cùng một chủ để. Năm
chuyện tình, dang dở hoặc đoàn viên, bắt đầu với Chuyện ...
Phan Quang dịch và giới thiệu
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Tập I
LỜI GIỚI THIỆU
I
Nghìn lẻ một đêm, tác phẩm vĩ đại bậc nhất của nền văn học A Rập, là
một trong những công trình sáng tạo phong phú và hoàn mỹ của nền văn học
thế giới.
Để tựa bản dịch tiếng Nga xuất bản năm 1929 ở Sankt Peterburg, Macxim
Gorki viết: “Trong số các di tích tuyệt diệu của sáng tác truyền khẩu dân
gian, các truyện cổ tích của nàng Sêhêrazát là di tích đồ sộ nhất.
Những truyện cổ tích này thể hiện với mức hoàn hảo kỳ diệu, xu hướng
của nhân dân lao động muốn buông mình theo phép nhiệm màu của những
ảo giác êm đẹp, theo sự kết hợp phóng khoáng của từ ngữ thể hiện sức mạnh
vũ bão của trí tưởng tượng hoa mỹ của các dân tộc phương Đông – người A
Rập, người Ba Tư, người Ấn Độ. Công trình dệt gấm bằng từ ngữ này xuất
hiện từ thời tối cổ, những sợi tơ muôn màu của nó lan khắp bốn phương, phủ
lên trái đất một tấm thảm từ ngữ đẹp lạ lùng.”[1]
Truyện mở đầu tất cả các truyện, giải thích lý do ra đời của tất cả các
truyện, cái khâu đầu tiên của sợi dây chuyền vàng xuyên qua mọi tình tiết,
liên kết chúng lại thành một chuỗi ngọc tuyệt tác muôn vẻ muôn màu rồi
vòng trở lại để làm thành đoạn kết thúc, là chuyện của một người con gái.
Một người con gái tài sắc vẹn toàn, thông minh rất mực, đã không quản hiểm
nguy dám hi sinh tấm thân ngà ngọc của mình để cứu các bạn gái khỏi cảnh
ô nhục và cái chết bi thương.
Ngày xưa có hai anh em cùng làm vua. Anh làm hoàng đế nước Đại Ba
Tư choán một phần lớn trái đất. Em là vua nước Đại Táctari, chư hầu của
anh. Một hôm, được lệnh của anh triệu về, em vội vã lên đường. Xa giá vừa
ra khỏi kinh thành, đã nghỉ lại; nhà vua nhớ hoàng hậu, một mình lén trở lại
cấm cung định tự tình với người vợ quý yêu một lần nữa. Nhưng hỡi ôi! Nhà
vua không được gặp hoàng hậu như ở trong cảnh nhớ nhung thao thức mà lại
thấy hoàng hậu đang ngủ say trong vòng tay một người đàn ông khác ngay
trên giường ngự của mình. Nổi giận, nhà vua chém chết đôi gian phu dâm
phụ, ném xác xuống hào rồi lặng lẽ trở lại hành cung và ra lệnh khởi hành.
Vua tuyệt nhiên không hé răng cho bất cứ ai biết nỗi khổ riêng đang giày xé
lòng mình.
Song cũng từ buổi tối bất hạnh ấy, một nỗi buồn ghê gớm xâm chiếm nhà
vua và thường xuyên lộ ra nét mặt. Cảnh hoàng đế thân hành ra đón từ ngoài
kinh thành, cảnh hội hè yến tiệc, nghi lễ linh đình cũng như sự săn sóc chân
tình của vua anh đểu không thể làm tiêu tan nỗi u uẩn.
Nhà vua tự cho mình là người đau khổ nhất trần gian. Nhưng một hôm
tình cờ nhà vua bắt gặp hoàng hậu, chị dâu của mình, ngoại tình với một tên
da đen trong khi hoàng đế mải đi săn. Vua em thấy nhẹ hẳn người: “À, ra
không phải chỉ có ta là người đau khổ duy nhất. Vinh hiển, phú quý, quyền
uy chấn động thiên hạ đến như hoàng đế anh ta mà vẫn bị vợ lừa dối. Vậy thì
việc gì ta phải tự giày vò cho khổ thân!”
Đến lượt vua anh, khi được tự mình chứng kiến hành động dâm ô của
hoàng hậu, ông cũng vô cùng chán ngán. Hai anh em cùng một lúc từ bỏ
ngai vàng, từ bỏ mọi phú quý vinh hoa trên trần thế. Hai anh em ra đi định
tìm chốn ẩn thân đến trọn đời ở một nơi chân trời góc bể nào đó cho khuây
khỏa nỗi buồn, cho nguôi đi vết nhục. Nhưng tình cờ – vẫn là sự tình cờ –
hai vua bắt gặp một thần linh từ dưới đáy biển nổi lên, ghé vào bờ. Trên đầu
thần đội một chiếc hòm thủy tinh khóa bằng bốn chiếc khóa. Để phòng ngừa
vợ có thể không chung thủy, thần đã nhốt ả vào trong đó và giấu tận đáy đại
dương, chỉ mở cho ra những khi nào mình cần yêu đương tình tự. Ấy thế mà
người đàn bà đẹp này đã từng ngoại tình với những chín mươi tám người đàn
ông khác. Mỗi người sau phút ái ân, phải để lại cho ả một chiếc nhẫn làm kỷ
niệm. Và mỉa mai làm sao! Hai nhà vua, hai ông chồng đang buồn rầu ngao
ngán về thế sự này lại chính là những kẻ bị ả ép buộc làm những tình nhân
bất đắc dĩ thứ chín mươi chín và thứ một trăm.
Vậy ra đàn bà ở đâu cũng vậy và ai cũng như ai thôi. Không thể có cách
nào đủ hiệu lực ngăn ngừa, để cho họ giữ vẹn lòng chung thủy với chồng.
Chỉ còn một cách – hoàng đế nước Đại Ba Tư rút ra kết luận – là giết ngay
người con gái vừa chung chăn gối, không để cho sống đến ngày hôm sau. Đó
chính là cách trả thù đời, trả thù đám đàn bà, trả thù vợ của những ông chồng
bị cắm sừng mà trong tay có quyền lực tối cao.
Từ buổi đó, một luật lệ mới được ban hành ở nước Đại Ba Tư. Một luật lệ
vô cùng dã man, hết sức khắc nghiệt. Vua truyền cho tể tướng cứ mỗi đêm
bắt vào cung một cô gái trinh để hầu hạ mình, rồi rạng sáng hôm sau, khi
đêm vừa hết, thì ra lệnh giết chết cô gái ấy.
Thế là cứ mỗi đêm một cô gái trinh đi lấy chồng và sáng ra một người đàn
bà thiệt mạng.
Cảnh tang tóc bao phủ khắp kinh thành. Cung đình tràn ngập máu. Nỗi
đau đớn xé lòng mọi người mẹ, người cha, người yêu, người chồng chưa
cưới. Giữa lúc ấy xuất hiện cứu tinh, nàng Sêhêrazát, con gái yêu của chính
tể tướng, người chịu trách nhiệm thi hành lệnh tàn bạo của vua.
Sêhêrazát khẩn khoản xin cha dẫn mình vào cung hiến cho hoàng đế.
- Con điên hay sao? – Tể tướng kinh hoàng.
- Không, thưa cha, con hiểu rõ nỗi hiểm nghèo mà con sẽ phải trải qua.
Nhưng nó không làm cho con kinh sợ. Nếu con có bỏ mình, cái chết sẽ
quang vinh, nếu con thành công, con sẽ giúp cho đất nước một việc hệ trọng.
Sêhêrazát vào hầu hoàng đế, chỉ xin mỗi một đặc ân: cho phép em gái nhỏ
của nàng được ngủ với chị “một đêm cuối cùng”. Vua đồng ý. Tảng sáng
hôm sau, một giờ trước khi mặt trời mọc, cô em gái nhỏ được dặn trước, liền
gọi chị và khẩn khoản xin kể cho nghe “một trong những câu chuyện hay
hay mà chị rất thành thạo”.
Tên vua độc ác, lúc xác thịt đã thỏa thuê, cũng muốn nghe một câu chuyện
hay hay chờ trời sáng, để ra lệnh thi hành luật lệ dã man của hắn.
Nàng Sêhêrazát bắt đầu kể…
Trời sáng rồi mà chuyện hay còn dang dở. Nhà vua nửa cần đi thiết triều,
nửa muốn nghe nốt, liền cho hoãn lệnh xử tử người con gái đến ngày hôm
sau.
Một đêm nữa, rồi lại một đêm nữa… chuyện vẫn dở dang vào đoạn hay
nhất, vừa lúc trời sáng và án tử hình lại phải hoãn.
Cứ thế một nghìn lẻ một đêm trôi qua.
Cứ thế, truyện này nối tiếp truyện kia, truyện sau lồng vào truyện trước.
Truyện này chưa hết truyện khác đã bắt đầu dường như vô tận. Trước mắt
chúng ta, hiện lên không biết bao nhiêu là nhân vật: từ hoàng đế, tể tướng,
hoàng tử, vương tôn, nhà hiền triết, bậc tu hành, quan coi ngục, viên hoạn nô
cho đến tên cướp biển, lão chủ nô, mụ mối, đứa du thủ du thực, lão lái buôn,
bác phó cạo, anh thợ may, người vác thuê, nhà hàng thịt, cô hầu gái, chú tiều
phu… Và phúc thần và phù thủy và ma quỷ và tiên nương… Khi là cảnh
cung đình rực rỡ đèn hoa, lộng lẫy ngọc ngà châu báu, khi là cảnh dạt tàu
cướp miếng ăn của ma mà sống. Lúc chuyện xảy ra trong thế giới thần tiên,
lúc ở nơi đầu đường xó chợ. Về tôn giáo, có những người theo đạo Hồi, có
những người theo đạo Thiên Chúa, đạo Do Thái, lại có những người thờ thần
Lửa… Về không gian, các chuyện xảy ra ở những nơi ngày nay được ghi
trên bản đồ là Ấn Độ và Sơri Lanca, Liên Xô và Trung Quốc, Gióocđani và
Iran và trước hết là Tây Á và Bắc Phi với Ai Cập, Irắc, Xyri. Tóm lại, khung
cảnh rất rộng lớn, chủ để thật đa dạng, tình tiết hết sức bất ngờ, ngôn ngữ vô
cùng phong phú, nhân vật rất thực và cũng rất hư. Quả khó có cách nào diễn
tả cho gãy gọn nếu ta không trở lại mượn hình tượng Gorki đã dùng:
“Những sợi tơ muôn màu cùa nó lan khắp bốn phương, phủ lên trái đất
một tấm thảm từ ngữ đẹp lạ lùng.”
Câu chuyện – hay đúng hơn là bộ sưu tập, là kho tàng những câu chuyện –
mở đầu bằng những tình tiết gây ấn tượng không lấy gì làm tốt đẹp đối với
người phụ nữ, đối với đức hạnh của những người vợ. Những cái nút vừa thắt
lại thì đã tháo ra ngay làm bật rõ phẩm chất cao quý của một người con gái,
trí tuệ sáng ngời của chính người đàn bà, chứ không phải là người thuộc giới
tính khác. Sêhêrazát nói với cha: “Nếu con có phải bỏ mình, cái chết của con
sẽ quang vinh, nhưng nếu con thành công, con sẽ giúp cho đất nước một việc
hệ trọng. “Toàn bộ tác phẩm mở đầu với hành động cực kỳ hung bạo, hơn cả
súc vật của một tên vua – bởi ngay loài cầm thú con đực cũng không bao giờ
cắn chết con cái vì làm như vậy là trái với tự nhiên, là tự mình diệt chủng –
và kết thúc bằng một cử chỉ hoàn toàn hợp với tính người. Sau đêm một
nghìn lẻ một, bạo chúa không những tha chết cho nàng Sêhêrazát mà còn
hủy bỏ luật pháp dã man của mình, luật pháp đã không có dịp thi hành suốt
một nghìn lẻ một đêm nhờ công của một người con gái. Độc giả lúc gấp sách
lại, hay thính giả khi người kể ngừng lời – vì đây là những chuyện kể – hoàn
toàn thỏa mãn, vừa thú vị về nội dung đặc sắc của các câu chuyện, vừa hài
lòng về cách kết thúc hợp lý hợp tình, “có hậu.” Không ai còn nhớ đến các
hoàng hậu kém đức hạnh nữa. Trong trí nhớ mỗi người hiện lên rõ đậm hình
dáng một nàng Sêhêrazát cao quý, dũng cảm, thông minh, xinh đẹp tuyệt
trần và chắc chắn là giọng kể cực kỳ quyến rũ.
Ngay từ đêm đầu, chúng ta đã thấy được nghệ thuật đặc sắc của những
chuyện sẽ kể tiếp trong một nghìn đêm sau.
II
Theo các nhà nghiên cứu, Nghìn lẻ một đêm - ít ra là bản lưu truyền đến
với chúng ta ngày nay – được định hình hẳn vào khoảng cuối thế kỷ 15 ở Ai
Cập. Thời kỳ này cả nước Ai Cập đã hoàn toàn theo đạo Hồi. Thật ra, sự
xuất hiện của nó còn ngược lên đến thời xa xưa, bắt nguồn từ những chuyện
Ba Tư rất cổ và đã trải qua một thời kỳ tồn tại lâu dài trước khi được viết ra
thành văn.
Ở đâu cũng vậy, các chuyện kể dân gian không bao giờ là công trình sáng
tạo của một người và có hình dạng hoàn chỉnh ngay từ đầu hay trong một
thời gian ngắn. Thông thường xoay quanh một chủ đề cơ bản, được quần
chúng tham gia, thời gian nhào nặn, tình tiết của câu chuyện phong phú dần
lên, có khi biến dạng đi, và tất nhiên sẽ thay đổi ít nhiều tùy theo địa điểm và
thời gian, bố cục ngày càng chặt chẽ. Cho đến một lúc nào đấy, nó được
những tài năng kiệt xuất chỉnh lý, định hình lần cuối rồi được nhân dân chấp
nhận coi như dạng bản cuối cùng. Các truyện kể được tập hợp trong công
trình đồ sộ với cái tên phổ cập toàn thế giới Nghìn lẻ một đêm có lẽ bắt
nguồn từ truyền thống các truyện dân gian xuất xứ ở phương Đông – đế quốc
của các hoàng đế A Rập. Xoay quanh những truyện này, một số truyện khác
cổ hơn, có nguồn gốc Ấn Độ, Ba Tư hoặc Ấn – Âu được bổ sung vào. Một
loại nữa là những câu chuyện lưu truyền, phản ánh sinh động xã hội Hồi giáo
buổi sơ khai của thời trung cổ, tức là thời đại các hoàng đế Abáxít[2] trong đó
một phần quan trọng dành nói về những chuyện phiêu lưu trên biển cả của
những thương nhân đầu tiên bắt đầu mở rộng buôn bán với nước ngoài bằng
đường biển. Tất nhiên có nhiều truyện nội dung vay mượn từ kho tàng cổ
tích các dân tộc khác. Đây là một hiện tượng thường thấy, nó cắt nghĩa vì
sao nhiều truyện cổ của người Ấn Độ, của Tây Âu chẳng hạn có những điểm
chung giống những truyện cổ ở Trung Quốc, ở Nam Á. “Vay mượn không
phải bao giờ cũng là xuyên tạc, đôi khi việc vay mượn bổ sung cho truyện và
làm cho nó đã hay càng hay hơn.”[3]
Những người kể chuyện rong mang những chuyện đó đi kể khắp nơi.
Trong quá trình ấy họ gọt đẽo cách diễn tả cho thích hợp và hấp dẫn người
nghe. Người ta cho rằng chính những người Ai Cập kể chuyện rong thế kỷ
12 và 13 đã làm cho các truyện trong Nghìn lẻ một đêm thêm phong phú về
nội dung, linh hoạt về hình thức và sáng sủa về từ ngữ. Ngôn ngữ dùng trong
tập truyện này gắn với tiếng nói của các tầng lớp bình dân A Rập hơn là
ngôn ngữ kinh viện thời bấy giờ.
Cũng có thể Nghìn lẻ một đêm thành hình – với tư cách là một tác phẩm
hoàn chỉnh – còn sớm hơn nữa. Theo R. Nicônxơn trong Lịch sử văn học A
Rập, năm 956 một học giả A Rập tên là Masadi đã nhắc tới một cuốn sách
cổ của người Ba Tư nhan đề “Một nghìn truyện, thường được gọi là Nghìn lẻ
một một đêm, đó là chuyện một quốc vương và tể tướng cùng với tiểu thư và
người hầu gái là nàng Sêhêrazát và Đináczát”
Năm 988, Mohammed Ishaq, tác giả một tập thư mục những tác phẩm văn
học A Rập và nước ngoài, nói đến việc người A Rập soạn lại tập truyện cổ
Ba Tư đó. Ông viết: “Tác giả tập Truyện các tể tướng là Abđul AI Jahshiyari
bắt tay soạn một cuốn sách trong đó ông chọn một nghìn truyện của người A
Rập, người Ba Tư, người Hy Lạp và nhiều dân tộc khác, các truyện đểu
riêng biệt, không có quan hệ gì với nhau. Ông tập hợp một số người làm
nghề kể lại, mời họ kể cho nghe rồi chọn những truyện hay nhất, những ngụ
ngôn, cổ tích mà ông thích nhất. Là một người có tài, ông đúc những câu
chuyện ấy lại thành bốn trăm tám mươi đêm, mỗi đêm là một truyện trọn vẹn
dài trên dưới năm chục trang. Nhưng ông chết bất ngờ trước khi hoàn thành
một nghìn truyện như dự định.”[4]
Nghìn lẻ một đêm[5] như ta đã biết hiện nay, lần đầu tiên được giới thiệu
với châu Âu rồi từ đó phổ cập rộng khắp hầu như toàn thế giới là nhờ công
lao của một học giả người Pháp Antoine Galland mà bản dịch từ khi ra đời
cách đây gần ba thế kỷ đã mau chóng trở thành kinh điển.
Antoine Galland sinh năm 1646 tại một thị trấn nhỏ ở tỉnh Picácđi, miền
Bắc nước Pháp. Ông mồ côi cha từ sớm. Bà mẹ phải làm lụng vất vả cho con
ăn học. Mười bốn tuổi đã phải đi làm; một năm sau tìm đến Paris tiếp tục
trau dổi kiến thức. Sau đó, giúp việc cho sứ thần Pháp ở Côngxtăngtinôp
(nay là Xtămbun, thuộc Thổ Nhĩ Kỳ) nhờ vậy ông có điều kiện đi lại nhiều
nước Tây Á. Trở về Paris, một hôm tình cờ đọc được một bản chép tay bảy
truyện cổ A Rập, ông có ý định dịch và cho xuất bản. Sách sắp đưa in thì
dịch giả được biết những truyện này thực ra rút từ “một pho đồ sộ gồm nhiều
truyện tương tự chia thành nhiều tập để là Nghìn lẻ một đêm.[6]
Ông nhờ người tìm kiếm hộ, từ Xỵri người ta chỉ gửi đến cho ông có bốn
tập. Ông dịch ngay tập đầu tiên và cho xuất bản năm 1704.[7] “Món quà nhỏ
mọn” như lời ông viết trong thư gửi tặng hầu tước phu nhân 0” lập tức được
hoan nghênh nhiệt liệt. Thành công hết sức to lớn. Cùng với hầu tước phu
nhân O, cả triều đình, nghị viện từ giai cấp tư sản cho đến các tầng lớp
nghèo hèn, tóm lại là tất cả những ai biết đọc biết viết ở Pháp đều đổ xô vào
tranh nhau tập sách.
Trong bốn năm, từ 1704 đến 1708, mười hai tập lần lượt ra đời. Năm 1709
Antoine Galland được một người bạn A Rập đến Paris trao thêm cho một số
truyện nữa, ông lại dịch và cho in tiếp. Từ 1704 đến 1782, trong vòng bảy
mươi tám năm, bản dịch của A. Galland được in lại hơn bảy mươi lần. Trong
những điều kiện của thời bấy giờ, với phương tiện và kỹ thuật ấn loát thô sơ,
công nghiệp giấy chưa phát triển, tỉ lệ người biết đọc và biết viết cũng chưa
cao, thành công ấy vượt quá mức tưởng tượng và sự mong ước của mọi
người. Từ bản của AntoineGalland, Nghìn lẻ một đêm được dịch ra nhiều
thứ tiếng và xuất bản ở nhiều nước châu Âu: Anh, Hà Lan, Đức, Italia, Tây
Ban Nha và một số nước tại các châu lục khác.
Chừng hai thế kỷ sau Antoine Galland, một bản dịch tiếng Pháp khác của
Nghìn lẻ một đêm ra đời. Dịch giả là tiến sĩ J. J. C. Mardrus. Thật ra đây là
một bản dịch theo quan niệm và phong cách hoàn toàn khác: Mardrus không
bỏ sót một chi tiết nào, kể cả những đoạn rườm rà đậm màu dâm tục và tất cả
những thơ rải rác trong các truyện. Người ta đã bàn cãi khá nhiều về hai bản
dịch đó. Các nhà nghiên cứu văn học đều nhất trí đánh giá cao bản dịch của
Antoine Galland. Người dịch đã cố tình tước bớt, để tránh cho những người
đọc đỡ ngượng ngùng, một số chi tiết tả tỉ mỉ những cảnh sinh hoạt mà cho
dù có in ra “cũng không cho biết thêm một điều gì mới mẻ về phong tục
những người theo đạo Hồi” bởi vì những cảnh ấy “diễn tả con người đang
sống theo những giây phút bản năng thấp hèn nhất mà bất cứ người sống ở vĩ
tuyến nào cũng đều có” như lời nhận xét của E.BIochet trong tạp chí Bách
khoa (Pháp) số tháng Giêng năm 1900. Tạp chí này nhận xét: “Bản dịch của
Antoine Galland cho chúng ta một ý niệm rất trung thành về tính cách và lời
văn của bộ Nghìn lẻ một đêm cũng như về sinh hoạt của người A Rập.”
Charles Nodier một nhà văn Pháp cũng chuyên viết truyện cổ tích đầu thế
kỷ 19 đã đánh giá bản dịch của Antoine Galland như sau: “Bản dịch của
AntoineGalland là một tác phẩm có thể coi là kinh điển trong thể loại văn
học này, và nếu nó có phải chịu vài điều chê trách của những nhà Đông
phương học nào đó mê tín sự trung thành với các nguyên tác, ấy là vì những
vị này coi trọng lợi ích ngành học thuật chuộng màu sắc xa lạ của họ hơn là
tinh thần của ngôn ngữ và những yêu cầu của nền văn học dân tộc chúng
ta… Chúng tôi quả quyết rằng lẽ ra người ta phải thông cảm hơn với trí
thông minh và sự tinh tế của Antoine Galland đã gạt bỏ ra khỏi các truyện
xinh xắn ấy những hình tượng chói chang, nhiều chi tiết nhạt nhẽo, những sự
trùng lặp vô bổ chỉ có thể làm giảm sút hứng thú trong một ngôn ngữ bóng
bẩy nhưng chính xác, bất kỳ ở đâu cũng muốn kết hợp tính gợi cảm và tính
chuẩn xác (là tiếng Pháp).”
Nhà văn Gaston Picard gần đây khi soát lại bản dịch của Galland để cho in
lại (bản in năm 1962) sau khi trích dẫn ý kiến của tạp chí Bách khoa đã hóm
hỉnh nhận xét thêm: Antoine Galland ý tứ hơn nhiều so với tiểu thư
Sêhêrazát, người mới hôm qua đây còn là một trinh nữ. Ông sợ làm chối tai
bạn đọc tuy không còn là thơ dại như Đináczát song cũng không có đôi tai
ưa nghe những chuyện sỗ sàng như đôi tai bạo chúa Saria. Khác với
Mardrus, AntoineGalland không quan tâm dịch các vần thơ. Có lẽ ông không
muốn để người đọc phải sốt ruột.
Với những truyện hấp dẫn thế này, ai chẳng nóng lòng muốn biết kết cục
rồi sẽ ra sao. Vả chăng, chẳng phải là chất thơ đã thấm đượm mọi dòng, mọi
trang của truyện A Rập đó sao? Đây là văn học dân gian. Tuy đề tặng một
hầu tước phu nhân, song thật ra Antoine Galland khi dịch đã nghĩ tới những
độc giả bình thường, các tầng lớp đông đảo – và chính điều đó quyết định
một phần rất lớn thành công của ông. Nhờ vậy, tập truyện mau chóng phổ
cập rộng rãi tuy sau khi bị cắt xén, lược dịch và chọn lọc, vẫn còn dài tới gần
hai nghìn trang.
Còn J. C. Mardrus thì xuất phát từ một quan điểm khác. Không phải ngẫu
nhiên mà toàn bộ bản dịch của ông để tặng Stéphane Mallarmé và tập I để
tặng Paul Valérỵ – hai nhà thơ bí hiểm. Vì những lẽ đó, một số nhà phê bình
có xu hướng coi bản dịch của Mardrus nặng tính chất một công trình nghiên
cứu phong tục hơn là một tác phẩm văn học. Và cũng chính vì lẽ đó Nhà
xuất bản Kim Đồng lần này giới thiệu Nghìn lẻ một đêm qua bản dịch của
Antoine Galland.
III
Nghìn lẻ một đêm không chỉ là một tập truyện cổ tích, đó là cả một thế
giới. Thế giới người A Rập trong cuộc đời thực tại cũng như trong cảnh thần
tiên ma quái, thế giới của đạo Hồi từ khi có sử thành văn và đạo Hồi qua các
truyền thuyết dân gian. Người A Rập vẫn cho pho sách này là một tấm
gương vĩ đại ai nấy có thể nhìn vào đấy mà suy ngẫm, mà soi xét bản thân
mình. Lời nói đầu trong nguyên bản viết:
“Chuyện người xưa là bài học cho người đời nay” và ca ngợi: “Vinh
quang thay cho những ai đã góp chuyện người đời xưa để làm bài học cho
người đời nay! Chính từ trong những bài học ấy, nay xin kể chuyện Nghìn lẻ
một đêm với tất cả những điều màu nhiệm và những châm ngôn chứa đựng
trong đó.”
Khó mà thưởng thức đầy đủ tác phẩm văn học dân gian của một dân tộc
nếu không có những hiểu biết nhất định về lịch sử, triết lý và sinh hoạt của
dân tộc ấy. Rất nhiều truyện trong Nghìn lẻ một đêm xoay quanh những
chuyện xảy ra dưới triều đại của nhà vua có thực, nổi tiếng ở Bátđa vào cuối
thế kỷ thứ 8 và đầu thế kỷ thứ 9, vua Harun An-Rasit (786-809). Mặt khác,
mọi tiêu chuẩn về đạo đức, pháp lý… của người A Rập ngay cho đến bây giờ
vẫn cơ bản dựa trên kinh Côran. Bởi vậy, chúng tôi xin được giới thiệu sơ
qua với bạn đọc Việt Nam chúng ta một vài nét về thế giới A Rập và tổ chức
chính trị – xã hội của một đế quốc A Rập xưa kia, về đạo Hồi và người sáng
lập ra nó là Môhamét cùng với kinh Côran, Kinh Thánh tối thiêng liêng của
tôn giáo này.
Đạo Hồi (Ixlam) ra đời vào thế kỷ thứ 7 tại Arabi, người sáng lập là
Môhamét (hoặc Mahômết)[8] người thuộc bộ lạc Caraxít. Môhamét sinh ra ở
La Mếchcơ, thủ phủ nước Hếtgiadơ ở Arabi vào năm 570 (hoặc 580) và mất
ở Mêđin ngày 8 tháng 6 năm 632.
Mổ côi cha từ bé, lúc đầu Môhamét được ông nội nuôi, sau ở với chú. Lúc
còn trẻ, chuyên giúp việc hướng dẫn các đoàn du hành sa mạc. Về sau vào
làm công cho một người đàn bà góa giàu có, chủ một hiệu buôn ở La
Mếchcơ tên là Khađigia. Người phụ nữ này kết hôn với Môhamét tuy bà lớn
hơn ông nhiều tuổi. Nhờ đi đó đi đây nhiều, ông dần dần am tường giáo lý
đạo Do Thái, đạo Cơ Đốc và ngày càng say mê việc tu hành. Ông thường
lánh ở một nơi để suy ngẫm, đặc biệt về sự phán xét cuối cùng cũng như sự
xuất hiện của các nhà tiên tri. Theo truyền thuyết, một hôm ông nghe có
tiếng nói thiêng liêng từ trên trời vọng xuống giao sứ mệnh cho mình. Từ đó
ông tự cho là đấng sứ giả như nhiều đấng khác xưa kia được Thượng đế[9]
tuyển chọn và giao cho sứ mệnh răn bảo dân lành lòng kính sợ đấng Ala và
hằng ngày phải chăm lo sửa mình để chuẩn bị cho ngày phán xét cuối cùng.
Việc này xảy ra vào khoảng năm 610. Môhamét tự cho là được các thiên
thần truyền đạt cho những lời phán bảo của Thượng đế để phổ cập trong
nhân dân.
Lúc đầu số người tin theo ông rất ít. Đã thế một phần các tín đồ của ông bị
dân thành La Mếchcơ chống đối, buộc phải di cư sang Abyxini, một nước
thời bấy giờ theo đạo Thiên Chúa.
Được nhân dân trấn Yathôrít tiếp thụ giáo lý của ông khuyến khích,
Môhamét rời La Mếchcơ đến đây ngày 16 tháng 7 năm 622. Yathôrít từ đấy
lấy tên là Mêđin (có nghĩa là Thành phố của Đấng tiên tri) và ngày hôm ấy,
ngày 16 tháng 7 năm 622 trở thành ngày Nguyên đán của lịch Hồi giáo. Lịch
này tính dựa theo sự chuyển động của mặt trăng, như âm lịch của ta.
Ở Mêđin, Môhamét chẳng mấy chốc trở thành không chỉ là “Đấng tiên tri”
mà còn là một nhà chính trị nắm trong tay vận mệnh của thành phố này.
Quyền lực của ông một mặt dựa vào số tín đồ đã cùng ông rời bỏ La Mếchcơ
đến và mặt khác vào số người địa phương tin theo đạo của ông ngày càng
đông. Một cuộc chiến tranh xảy ra dai dẳng tám năm ròng, và kết thúc bằng
thắng lợi của Môhamét. Ông khải hoàn về La Mếchcơ năm 630.
Ngoài chiến thắng rực rỡ Bếtrơ, Môhamét còn tiến hành nhiều cuộc chinh
phục các nước khác, nhất là các nước ở Arabi, và tiến đánh Xiry, tạo tiền để
cho những cuộc chinh phạt lớn của người A Rập về sau, khi ông đã qua đời,
để mở rộng đế quốc của họ.
Môhamét không bao giờ tự cho mình là người sáng tạo ra kinh Côran, nền
tảng giáo lý đạo Hồi, cơ sở lập pháp và các mối quan hệ của người A Rập.
Ông chỉ nhận mình là người phát hiện ra Kinh Thánh. Ngoài chức năng kỳ
diệu đó ra, ông chỉ là một người như mọi người trần thế khác. Ông lấy bốn
vợ chính thức – như kinh Côran cho phép – lại thêm cả một đoàn tì thiếp
song vẫn không có con trai kế nghiệp. Sau khi Môhamét qua đời, những
người kế vị ông tiếp tục các cuộc chiến tranh chinh phạt, lập nên một đế
quốc rộng lớn trải từ bờ sông Ấn ở Tây Bắc Ấn Độ đến tận Đại Tây Dương
men theo bờ Bắc Địa Trung Hải. Đạo Hồi cũng nhờ đó mà lan truyền rộng
rãi. Được một thời gian đế quốc A Rập bị chia năm xẻ bảy song đạo Hồi vẫn
giữ được tính thống nhất và tiếp tục phát triển. Ngoài các nước A Rập nay
đông hơn một trăm triệu người, đạo Hồi còn thịnh hành ở nhiều vùng rộng
lớn từ Inđônêxia qua Pakistăng đến Tây Ban Nha, từ châu Phi da đen cho tới
các nước Trung Á: Kazastang, Kiechghizi, Udơbêkistăng, Taxikixtăng,
Tuốcmêni và vùng Tân Cương của Trung Quốc.
Những lời giáo huấn của Môhamét được các học trò và tín đồ gần gũi nhất
của ông ghi lại và lưu truyền qua các bản chép trên xương lạc đà, trên đá
hoặc trên lá cọ. Để tránh tình trạng có nhiều dị bản, vị calíp[10] đầu tiên nối
ngôi Môhamét là Abu Bêke (632-634) cho chỉnh lý và ban hành một bản
kinh duy nhất. Đến thời hoàng đế Otman (644-656) một tiểu ban lại được lập
ra có trách nhiệm chỉnh lý và xác định lần cuối cùng bản kinh chính thức.
Như vậy, chỉ hai mươi năm sau ngày giáo chủ qua đời, Kinh Thánh của đạo
Hồi đã không còn dị bản và cứ vậy được lưu truyền cho đến tận bây giờ.
Tuy vậy do đặc điểm lối viết chữ A Rập thường gây nhiều cách hiểu khác
nhau về văn phạm, lại trải qua mười ba thế kỷ lưu truyền kể cả ở nhiều nước
không nói tiếng A Rập, do đó khó tránh khỏi tình trạng nảy sinh nhiều điểm
dị biệt. Để khắc phục nhược điểm đó, năm 1923 chính phủ Ai Cập cho ấn
hành một bản kinh chính thức có chú thích rất đầy đủ nhằm tránh mọi cách
hiểu không đúng và có những cách giải thích khác nhau.[11]
Nhiều nhà nghiên cứu đã nhận xét: Kinh Côran là hiện tượng rất đặc biệt.
Jêxu Crít, người vẫn được coi là kẻ sáng lập đạo Thiên Chúa không để lại tác
phẩm hoặc di huấn nào. Những cộng đồng Thiên Chúa giáo đầu tiên tách ra
từ đạo Do Thái, thừa nhận Cựu ước vốn của đạo Do Thái và biến nó thành
Kinh Thánh của mình. Còn Tân ước là một tập hợp nhiều văn phẩm khác
nhau mãi đến cuối thế kỷ thứ tư sau Công nguyên mới thực sự định hình.
Ngược lại, kinh của đạo Hồi là tác phẩm của một người, và chỉ hai mươi
năm sau khi người đó qua đời, đã trở thành hoàn chỉnh. Đó là một điều hiếm
thấy trong lịch sử các tôn giáo, nói lên thiên tài lỗi lạc của Môhamết.
Kinh Côran về thực chất là phản ánh các hoạt động tôn giáo của Môhamét
với tư cách là một đấng “sứ giả”. Bởi vậy nội dung của nó rất phong phú và
phong cách diễn đạt cũng không đồng nhất. Những đoạn ra đời sớm nhất và
tương đối ngắn hơn cả mang nhiều chất thơ (kinh Côran vốn được viết bằng
văn xuôi có vần). Một phần quan trọng gồm những truyện kể vay mượn từ
những truyền thuyết Do Thái, Thiên Chúa giáo, nhất là truyền thuyết đã có
trong Cựu ước. Và cuối cùng là những quy định nhằm tổ chức cộng đồng tín
đồ ở Mêđin, đấy cũng là cơ sở luật lệ Hồi giáo về pháp lý và về lễ nghi.
Đạo Hồi khẳng định sự tồn tại của một Thượng đế duy nhất (tiếng A Rập
gọi là Ala) mà sứ giả cuối cùng là Môhamét. Có thiên đường và địa ngục, có
phục sinh và phán xét cuối cùng, có thiên thần và ma quỷ. Tính thiêng liêng
của kinh Côran là nguyên lý cơ bản của đạo Hồi. Về nghi tiết, tín đồ Hồi
giáo phải cầu kinh năm lần mỗi ngày. Lúc cầu kinh, mặt hướng về La
Mếchcơ. Tín đồ phải ăn chay trong tháng ramađan (tháng chín theo lịch Hồi)
và hành hương về La Mếchcơ ít nhất một lần trong suốt đời người. Đạo Hồi
không có thầy tu chuyên nghiệp. Chỉ có người rao giờ cầu kinh và những
người chuyên trách một số việc tôn giáo và xã hội.
Về mặt xã hội, sự xuất hiện của đạo Hồi mang một số yếu tố tiến bộ vào
thời đó. Đạo Hồi chủ trương đoàn kết mọi người, trước hết là đoàn kết các
dân tộc A Rập, bỏ tệ chôn người con gái đầu lòng mới đẻ, khuyến khích cứu
giúp người nghèo, giải phóng người nô lệ. Lúc ra đời nó phù hợp với nguyện
vọng của các tầng lớp nghèo hèn, nhờ vậy nhanh chóng lan truyền rộng rãi
và trở thành chỗ dựa vững chắc cho chế độ chính trị thời bấy giờ. Đạo Hồi
góp phần quyết định sự thành lập và bành trướng của đế quốc calíp từ thế kỷ
7 trở về sau.
IV
Một đặc điểm nổi bật và quán xuyến của Nghìn lẻ một đêm là cách dừng
câu chuyện lại giữa chừng, báo trước sẽ hạ hồi phân giải. Câu chuyện này
được lồng vào câu chuyện khác, cũng có khi tác giả tập hợp nhiều nhân vật
tính chất rất khác nhau lại một nơi, rồi tạo nên tình huống buộc mỗi người
phải kể một chuyện. Với cách này, truyện muốn kết thúc ở đâu cũng được,
hoặc muốn kéo dài bao nhiêu cũng vẫn là hợp lý.
Đặc điểm ấy xuất phát từ một sự cần thiết sống còn: nàng Sêhêrazát phải
ngừng câu chuyện của mình vào lúc trời sáng, ở đoạn hay nhất, hoặc hứa hẹn
một chuyện khác sẽ còn hấp dẫn hơn nữa; nếu không, tên bạo chúa Saria sẽ
thi hành quyết định tàn bạo của hắn và người kể chuyện sẽ không thể sống
tới ngày hôm sau. Đó cũng là nghệ thuật độc đáo của người kể chuyện rong
nhằm thu hút sự chú ý của thính giả, sao cho những người nghe không chán,
không mệt, không bỏ ra về dở chừng, và tối hôm sau sẽ còn đến nghe đông
hơn hôm trước. Những lúc nàng Sêhêrazát ngừng lại và nói với bạo chúa
Saria:“Tiếc thay trời đã sáng rồi mà phần còn lại là đoạn hay nhất trong câu
chuyện…” hoặc: “Những chuyện vừa rồi hay thật đấy nhưng không thể nào
so sánh được chuyện bệ hạ sắp nghe đâỵ…” chính là lúc người kể chuyện
thưa với thính giả đang chăm chú: “Đêm đã khuya lắm rồi xin cho phép
dừng tại đây, đêm mai tôi xin kể nốt hầu quý vị…” Lối ngắt chuyện này, có
những bản thành văn sẽ ghi tóm tắt: “Muốn biết sự thể thế nào, xin xem hồi
sau sẽ rõ”, (như trong các tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc).
Ngoài một số ít truyện riêng lẻ, Nghìn lẻ một đêm thường bao gồm những
chuỗi gắn bó với nhau lồng ghép vào nhau. Một nhân vật kể một chuyện,
nhân vật trong chuyện thứ hai này kể chuyện khác, rồi đến lượt nhân vật
thuộc thế hệ thứ ba kể tiếp một chuyện khác nữa. Đó là trường hợp chuỗi
truyện Người đánh cá gồm năm truyện. Thường gặp hơn là cách tạo nên tình
huống buộc tất cả những nhân vật chính trong truyện phải lần lượt kể chuyện
của mình hoặc một chuyện nào đó mà mình biết. Chuỗi Chuyện ba khất sĩ
con vua và năm thiếu phụ ở thành cổ Bátđa gồm bảy truyện, chuỗi Chuyện
chú gù gồm mười hai truyện, chuỗi Những chuyến vi hành gồm bốn truyện
v.v… thuộc vào trường hợp này. Cũng có khi một chuỗi nhiều truyện với
nhân vật và kết cấu riêng biệt được tập hợp theo cùng một chủ để. Năm
chuyện tình, dang dở hoặc đoàn viên, bắt đầu với Chuyện ...
 








Các ý kiến mới nhất