Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra
Nguồn gốc của văn hóa và tôn giáo

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Đức Vinh
Ngày gửi: 20h:03' 02-01-2025
Dung lượng: 859.0 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Đức Vinh
Ngày gửi: 20h:03' 02-01-2025
Dung lượng: 859.0 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
NGUỒN GỐC CỦA VĂN HÓA VÀ TÔN GIÁO
NGUỒN GỐC CỦA VĂN HÓA VÀ TÔN GIÁO
VẬT TỔ VÀ CẤM KỴ
(In lần thứ 2)
Tác giả: SIGMUND FREUD
LƯƠNG VĂN KẾ dịch
LỜI GIỚI THIỆU
Tên tuổi của Sigmund Freud (1856 - 1939) thật ra không xa lạ với
giới nghiên cứu Việt Nam trên các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn
như triết học, văn học, tâm lý học, nghệ thuật học v.v... từ mấy chục năm
nay. Tuy nhiên, dấu ấn để lại khi đề cập đến Freud thường là mang tính phê
phán, đôi khi là sự áp đặt khiên cưỡng ý kiến của người khác. Phải đến mấy
năm gần đây, một số nghiên cứu tương đối có hệ thống về các công trình
phân tâm học của ông mới được giới thiệu trên báo chí, và thậm chí đã có
một vài bản dịch của các học giả nghiên cứu về Freud. Có thể kể đến công
trình của Trần Đức Thảo Tìm cội nguồn của ngôn ngữ và ý thức (1996, do
Đoàn Văn Chúc dịch từ tiếng Pháp, Đỗ Lai Thúy giới thiệu), cuốn Freud đã
thực sự nói gì của nhà phân tâm học Anh David Stafforf-Clark (1998,
Nguyễn Khắc Viện viết lời giới thiệu, Huyền Giang dịch). Tuy nhiên, các
tác phẩm quan trọng của Freud rất tiếc vẫn chưa có điều kiện ra mắt độc giả
Việt Nam, ví dụ Giải mộng Traumdeutung) xuất bản năm 1899 cách đây
vừa tròn 100 năm - công trình nền tảng thể hiện tài năng xuất chúng của
ông trong giải thuyết về thế giới vô thức của con người.
Cống hiến của Freud thật đa dạng, hay nói cho đúng hơn, học thuyết
của ông có khả năng vận dụng thật sự rộng lớn, trước hết là trên các lĩnh
vực văn hoá và nghiên cứu thế giới tinh thần của con người, và nó có sức
hấp dẫn kì lạ. Dù còn có nhiều ý kiến khác nhau về tầm cỡ cống hiến của
https://thuviensach.vn
ông, nhưng không thể không thừa nhận rằng, với tư cách một trong những
học thuyết khoa học tinh thần lớn nhất của nhân loại, quả thật nó đã làm
đảo lộn những quan niệm truyền thống về thế giới văn hoá tinh thần của
con người, trước hết là văn hoá khu vực Âu-Mỹ, "tới mức trở thành một bộ
phận cấu thành thiết yếu của nền văn hoá thế kỉ hai mươi" (M. Fragonas:
Văn hoá thế kỷ XX, nxb Văn hoá thông tin, 1999, tr. 895).
Cũng với tinh thần như vậy, trên lĩnh vực nghiên cứu lý thuyết phổ
quát về nguồn gốc của văn hoá và tôn giáo, ông đã có một cống hiến quan
trọng với các tác phẩm Vật tổ và cấm kị (ở đây được dịch giả chuyển tên
theo nội dung thành Nguồn gốc của văn hoá và tôn giáo), Tâm lý học đại
chúng và phân tích cái Tôi, Moise và tôn giáo nhất thần, trong đó Vật tổ và
cấm kị là tác phẩm ít được biết đến nhất nhưng lại đặc sắc và quan trọng
nhất. Đó chính là lý thuyết phân tâm học về nguồn gốc của tôn giáo và văn
hoá của loài ngưòi. Các tác phẩm sau này của Freud về văn hoá cũng chủ
yếu dựa trên công trình xuất bản năm 1913 này.
Trong tác phẩm đặc sắc này, Freud đã trình bày những quan điểm
cơ bản của ông về cội nguồn của tôn giáo và văn hoá, một quan điểm mang
nhiều luận điểm duy vật lịch sử hết sức lí thú. Hạt nhân của học thuyết này
chính là các khái niệm như Vật tổ (Totem), Cấm kị (Tabu) và khái niệm
mặc cảm Oedipe về tính dục, mà theo Nguyễn Khắc Viện (trong Lời giới
thiệu cuốn Freud đã thực sự nói gì) thì "Những gì Freud nói về mặc cảm
Oedipe ngày nay còn đứng vững" (tr. 23).
Tuy nhiên, học thuyết phân tâm học về văn hoá và tôn giáo của
Freud đã được xây dựng trong một hoàn cảnh lịch sử xã hội đặc biệt cũng
như như trên tiền đề của bản thân cuộc đời riêng của Freud (ví dụ nguồn
gốc Do Thái, sự phức tạp trong gia đình, sức khoẻ...) cho nên nội dung của
nó một mặt phản ánh tinh thần của thời đại ấy, thời đại đêm trước của cuộc
chiến tranh thế giới lần thứ nhất, trong đó thành phố Viên của nước Áo nói
riêng và châu Âu nói chung đang bị kìm nén trong những bức bối chính trị
kinh tế và tôn giáo hết sức nặng nề, và chính những cái đó đã đè nặng lên
tình cảm tự nhiên của con người. Mặc khác nó phản ánh chính bản thân
https://thuviensach.vn
những kìm nén và uẩn ức trong đời sống tình cảm của bản thân ông. Xuất
phát từ đó có thể thấy, lý thuyết phân tâm học về văn hoá và tôn giáo của
Freud cũng chứa đựng những luận điểm mà ngày nay thấy không còn phù
hợp nữa. Do vậy, khi đọc tác phẩm, độc giả cần đứng trên quan điểm duy
vật mac-xit để thẩm định tác phẩm.
Tác phẩm Vật tổ và cấm kị của Freud được Tiến sỹ khoa học Lương
Văn Kế dịch ra tiếng Việt từ nguyên tác tiếng Đức với tiêu đề Nguồn gốc
của văn hoá và tôn giáo và viêt một Lời dẫn nhằm giúp thêm cho quá trình
đọc và thẩm định tác phẩm. Bản dịch đã cố gắng thể hiện văn phong khoa
học chính xác và sinh động đặc biệt hấp dẫn của Freud. Nay sách được Nhà
xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội cho ra mắt với tư cách sách tham khảo
cho sinh viên các chuyên ngành khoa học nhân văn, trước hết là chuyên
ngành triết học - tôn giáo học, văn hoá học và quốc tế học. Đây là một việc
làm giúp ích nhiều cho quá trình học tập và nghiên cứu. Nhân đây tôi xin tỏ
lời cảm ơn Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện cho ra
mắt bản dịch của công trình đặc sắc này.
Tôi xin trân trọng giới thiệu với các nhà nghiên cứu, anh chị em
sinh viên thuộc lĩnh vực văn hoá học, tôn giáo học, triết học cùng toàn thể
độc giả.
GS. TS Nguyễn Hữu Vui
LỜI DẪN
Chương I. NỖI XẤU HỔ LOẠN LUÂN
Chương II. CẤM KỊ VÀ XUNG ĐỘT NỘI TẠI CỦA NHỮNG XUNG
ĐỘNG TÌNH CAM
Chương III. THUYẾT VẬT LINH, PHÉP PHÙ THUỶ VÀ QUYỀN
NĂNG TỐI THƯỢNG CỦA TƯ DUY
Chương IV. SỰ HỒI QUI ẤU TRĨ CỦA TOTEM GIÁO
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA S. FREUD ĐÃ XUẤT BẢN
https://thuviensach.vn
Created by AM Word2CHM
https://thuviensach.vn
LỜI DẪN
NGUỒN GỐC CỦA VĂN HÓA VÀ TÔN GIÁO
QUAN ĐIỂM PHÂN TÂM HỌC
VỀ NGUỒN GỐC VĂN HOÁ VÀ TÔN GIÁO CỦA SIGMUND
FREUD
DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA CHỦ NGHĨA MÁC
Lương Văn Kế
1. VỊ TRÍ CỦA TÁC PHẨM VÀ CỦA VIỆC ĐỊNH GIÁ LẠI TÁC
PHẨM
Văn hoá và tôn giáo là những vấn đề vô cùng phức tạp và rông lớn,
tác động sâu xa tới toàn bộ đời sống xã hội, tới ý thức, lối sống và nhân
cách cá nhân của mọi thành viên. Do vậy, chúng là đối tượng nghiên cứu có
tính chất bao trùm lên toàn bộ các khoa học xã hội và nhân văn. Học thuyết
Marx với phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã có
cống hiến to lớn trong giải quyết các vấn đề liên quan đến các khái niệm
đó. Tính đúng đắn của học thuyết Marx, đặc biệt là các công trình của F.
Engels, là chỉ ra một cách khoa học và thuyết phục những cơ sở lao độngkinh tế của việc hình thành ý thức xã hội, lâu đài văn hoá, tín ngưỡng, các
phong tục tập quán và mối tương quan giữa ý thức xã hội với nhân cách cá
nhân. Chủ nghĩa Marx nhìn nhận các hiện tương xã hội đó như là kết quả
của hành động có ý thức của con người. Tuy nhiên, hành động của con
người, đặc biệt là hành vi của các cá nhân, không phải chỉ được điều khiển
bởi ý thức, mà có khi nó còn bị thúc đẩy bởi các động lực vô thức nằm sâu
trong tận đáy tâm thức của con người, cái đôi khi được đồng nhất với bản
năng.
Với tư cách một học thuyết duy vật biện chứng và lịch sử được xây
dựng trên cơ sở các thành tựu mới nhất của các khoa học tự nhiên, khoa
học xã hội và nhân văn đương thời, nó thừa nhận tiến hoá luận của Darwin,
https://thuviensach.vn
tiếp thu và kế thừa lí thuyết văn hoá - nhân học của nhà nhân học Mĩ H.
Morgan, chủ nghĩa Marx không phủ nhận cơ sở vật chất sinh học của con
người, như Marx đã từng chỉ dẫn: "Giải phẫu học về con người là cái chìa
khoá cho giải phẫu học về con khỉ", cho nên nó cũng không coi thường bản
năng và vô thức. Chỉ có điều, do một số nhà lí luận sau này bởi nhiều lí do
khác nhau, đã tuyệt đối hoá mặt ý thức mà xem nhẹ việc nghiên cứu vô
thức và tâm lí cá nhân. Mảnh đất quan trọng và thiết thân ấy, do vậy, trong
một thời kì dài hàng thế kỉ đã là nơi tung hoành của các trường phái tâm lí
học ở các nước tư bản chủ nghĩa Tây Âu và Bắc Mỹ, mà trung tâm của họ
là phân tâm học (Psychanalyse) với đại biểu điển hình là Sigmund Freud
được nhiều người xem là cha đẻ của phân tâm học, một người mà tác phẩm
của mình từng được coi là "cấm kị", không được phổ biến ở một số nước
trong thời kì chiến tranh lạnh.
Trong lịch sử hình thành và phát triển của phân tâm học, người ta
thấy nó quan tâm trước hết đến bệnh lí tâm thần và đời sống vô thức của cá
nhân, rồi sau đó mới có bước chuyển di sang lĩnh vực đời sống xã hội.
Thuật ngữ phân tâm học (Psychoanalyse) xuất hiện bằng tiếng pháp lần đầu
tiên năm 1896 trong một báo cáo của Freud. Thời kì đó người ta hiểu nó
như một liệu pháp y học gọi là "liên tưởng tự do" (freie assoziation). Rồi
sau đó đã bành trướng thành một phương pháp thời thượng sang nhiều lĩnh
vực khác của các khoa học tinh thần. Các hiện tượng xã hội được phân tích
truy nguyên theo các yếu tố bản năng vô thức là những cái được di truyền
từ loài thú đến loài người nguyên thuỷ và tồn tại mãi cho đến con người
hiện đại. Tuy nhiên, trong quá trình tìm tòi nguyên uỷ của bệnh tâm thần cá
nhân và những nỗi đau đớn của họ, phương pháp phân tâm học cũng quan
tâm đến sự tác động của các bối cảnh xã hội thông qua các câu chuyện do
người bệnh kể lại. Những nhân tố xã hội ấy do vậy cũng làm thành cơ sở
của phân tâm học.
Vấn đề cội nguồn của văn hoá và của tôn giáo hiển nhiên chỉ được
đề cập đến trong các giai đoạn phát triển tương đối muộn của phân tâm học,
một mặt phía chủ quan, khi mà nó tin rằng có thể vận dụng qui luật sinh lí -
https://thuviensach.vn
tâm thần cá nhân để giải thích được các hiện tượng xã hội quan trọng như
vấn đề truyền thống, phong tục tập quán, tôn giáo và văn hoá của các dân
tộc. Mặt khác, sự ra đời của các tác phẩm phân tâm học về xã hội cũng là
sản phẩm bởi tác động của các bối cảnh lịch sử của xã hội đương thời. Các
nguồn tư liệu gần đây cho thấy Freud, Adler cũng như nhiều nhà phân tâm
học hàng đầu khác cuối thế kỉ 19 - đầu thế kỉ 20 đã có những quan hệ chặt
chẽ với phong trào công nhân châu Âu dưới sự lãnh đạo của những người
xã hội dân chủ theo tư tưởng Mác-xít. Thậm chí bản thân một số nhà phân
tâm học đồng thời là lãnh tụ của các đảng phái xã hội dân chủ, như A.
Adler, H. Heller, C. Furtmueller, D.-E. Openheim. Bản thân Freud cũng
như nhiều nhà phân tâm học khác tỏ ra tán thành quan điểm tâm lí hoc duy
vật Mác-xít.
Vật tổ và cấm kị (Totem und Tabu) là tác phẩm quan trọng nhất của
Freud nói riêng và của phân tâm học nói chung về nguồn gốc của văn hoá
và tín ngưỡng. Ngay tác phẩm cuối cùng Moise và tôn giáo nhất thần
(1939) cũng như Tâm lý học đại chúng và phân tích cái tôi (1921) đều xây
dựng trên cơ sở Vật tổ và cấm kị. Phải chăng đó là sự ngoan cố của Freud,
cái đã cho phép ông bám chắc các luận đề của mình, hay phải chăng những
lý thuyết ông phát minh trong đó chính là những viên đá tảng quan yếu cho
văn hoá luận phân tâm học? Tác phẩm này được chính Freud xem là "thử
nghiệm đầu tiên (...) trong vận dụng các quan niệm và kết quả nghiên cứu
của phân tâm học vào các vấn đề chưa sáng tỏ của tâm lí hoc dân tộc", và
đối với độc giả thì nó "đáp ứng mối quan tâm của một phạm vi rộng lớn
hơn của những người có văn hóa, nhưng thực ra chúng chỉ có thể được hiểu
và phân định bởi một số ít ỏi nhất mà với họ phân tâm học không còn xa lạ
nữa. Nó ra đời trên cơ sở những kết quả nghiên cứu lâm sàng và điều trị
bệnh nhân tâm thần của chính Freud, các công trình khảo cứu nhân chủng
học và văn hóa học của nhiều học giả, đặc biệt là Frazer, và ít nhiều chịu
kích thích trực tiếp từ tác phẩm Những biến hoá và biểu tượng của dục tính
của nhà phân tâm học trẻ C-G. Jung, môn đệ của ông. Nhưng tác phẩm của
Freud có sức khái quát hoá hơn hẳn và mang tính duy vật cao.
https://thuviensach.vn
2. NỘI DUNG CỦA TÁC PHẨM
Lúc đầu, trong những năm 1912 - 1913, tác phẩm chỉ là những bài
báo dưới nhan đề "Đôi nét giống nhau trong đời sống tinh thần của người
dã man và người bệnh tâm thần” được đăng rải rác trên tạp chí tâm lí học
Imago (Biểu tượng). Được tập hợp và chỉnh lí thành sách lần đầu vào năm
1913. Tác phẩm bao gồm bốn chương. Mỗi chương đề cập đến một phạm
trù quan trọng của lí thuyết phân tâm học về văn hoá:
Trong chương đầu tiên (Nỗi xấu hổ loạn luân), Freud diễn giải động
cơ vô thức của mọi tập quán kiêng kị trong hôn nhân và quan hệ tính dục
được qui kết một cách hình tượng và triết nọc về hội chứng Edipus (giết
cha lấy mẹ): quan hệ giữa người cùng ruột thịt, quan hệ thông gia, quan hệ
nội tộc và quan hệ ngoại tộc. Nguyên nhân và hệ thống kết hôn ngoại tộc.
Lịch sử hình thành hệ thống nghi lễ kiêng kị trong quan hệ dục tính. Tâm lí
học dân tộc (Voelkerpsychologie) và sự khám phá bằng sự vận dụng
phương pháp quan sát phân tâm học; sự lựa chọn đối tượng tình dục đầu
tiên, những con đường nhận thức và giải thoát của con người trưởng thành
khỏi ma lực của loạn luân.
Trong Chương hai (Cấm kị và những mâu thuẫn nội tại của xung
động tình cảm) Freud trình bày lịch sử hình thành khái niệm bái vật (totem)
và bái vật giáo (totemism), các loại hình của hệ thống bái vật của các dân
tộc, nguồn gốc võ đoán của việc thần thánh hoá người và vật cụ thể, đẳng
cấp thống trị và giới tăng lữ của các tôn giáo, đời sống kì dị của người có
tục cấm kị ở các dân tộc, nỗi sợ hãi trước những điều cấm kị và hậu quả
của nó; hai qui ước của bái vật giáo: cấm giết và quan hệ tính dục với bái
vật; tính năng chuyển di thuộc tính cấm kị từ vật này sang vật khác; những
mâu thuẫn nội tại trong tình cảm đối với kẻ thù và đối với kẻ thống trị, cội
nguồn của luật pháp...
Chương ba (Vật linh Luận, phép phù thuỷ và quyền năng tối thượng
của tư duy) là giải thuyết của phân tâm học Freud về nguồn gốc và động cơ
của thuyết linh hồn và các loại hình linh vật cùng hậu quả tai hại của nó;
https://thuviensach.vn
nguồn gốc, động cơ và đặc tính tác động của phép phù thuỷ; khái niệm
quyền năng tối thượng của tư duy, biểu hiện của nó ở người bệnh tâm thần
cưỡng chế, ở sáng tạo nghệ thuật...
Chương bốn là chương cuối (Sự hồi qui ấu trĩ của Tomtem giáo).
Freud đi sâu phân tích toàn bộ các luận đề về đặc tính của totem giáo với tư
cách một thiết chế tôn giáo và thiết chế xã hội: nguyên nhân hình thành
totem giáo với tư cách hình thức tôn giáo đầu tiên của loài người - nguyên
nhân danh xưng học, nguyên nhân xã hội học và nguyên nhân tâm lí học;
các loại hình totem giáo trong thế giới nguyên thuỷ; nguồn gốc của hôn
nhân ngoại tộc và liên quan của nó với totem giáo.
3. VỀ SỰ HÌNH THÀNH TÁC PHẨM
Trong cuốn tiểu sử Freud, Ernest Jones đã trình bày quá trình hình
thành bốn chương của tác phẩm. Căn cứ đầu tiên tìm thấy trong bức thư
Freud gửi Ferenczi: Vào giao thừa năm 1909, ý tưởng tôn giáo mang ý
nghĩa gì đã đến với ông: "Lý do cuối cùng của tôn giáo chính là sự bất lực
ngây thơ của con người”. Vào tháng Tám năm 1911, ông khuyên Jones
"hãy quan tâm đến tâm lý học về tín ngưỡng và về các mối kết hợp tôn
giáo. Tôi biết rằng, trong việc này tôi đang đi theo một con đường khúc
khuỷu, nhưng nó chính là cái qui trình của những kết hợp vô thức". Và ông
viết cho Ferenczi: "Tôi dành hoàn toàn cho Vật tổ và cấm kị".
Một trong các động lực cơ bản thúc đẩy sự ra đời của Vật tổ và cấm
kị là sự xung đột trên phương diện lí thuyết tôn giáo. Theo các nhà khoa
hoc, nhà nghệ thuật và nhà văn thì tôn giáo, trước hết là Thiên chúa giáo
cũng như các thuyết thần bí, đã khởi đầu bằng việc giành tín đồ. Thuyết
hoài nghi tư sản đã mất đất dụng võ, và tinh thần sẵn sàng tiếp nhận trỏ lại
các hình thức tín ngưỡng cũ đã được mở rộng. Chẳng hạn như vào năm
1911 xuất hiện màn trình diễn cổ vở Ai chả vậy (Jedermann) của
Hofmannsthal, và phục hưng phong cách barock, cũng có nghĩa là sự phục
hưng của thế giới có tính cấp tiến thiên chuá giáo cách tân. Vào năm 1914
nhà phê bình văn học Herrmann Bahr đầy uy tín đã qui y Thiên chuá giáo.
https://thuviensach.vn
Năm 1912 ông viết: "Tôn giáo là biểu hiện của sự nguy cấp, trong đó con
người không biết đến lời khuyên, và ở đó người ta tự cứu rỗi mình một
cách tuyệt vời từ bên trong; cái mà anh ta tìm thấy ở đấy sau đó, chính là
tôn giáo. [...] Thế hệ vừa mới đây thôi còn lãnh đạm với chân lý của tôn
giáo, nhưng rồi họ đã tự giải phóng khỏi sự hoài nghi trước đó, đi đến
thương nghị với lương tri. Họ cảm thấy lạnh lẽo. Thế là tôn giáo bắt đầu, ít
nhất thì nó cũng trỏ lại thành một đối tượng nào đó của sự chiêm ngưỡng”.
Tiếp đó ông dẫn tên William James với cuốn Kinh nghiệm tôn giáo muôn
hình vạn trạng của ông.
Trào lưu tín ngưỡng nói trên không được phép đánh giá thấp, nếu
như người ta muốn hiểu nghiên cứu của Freud nhằm lý giải "tâm lý học của
tín ngưỡng và của quan hệ tôn giáo". Phải thừa nhận rằng sự biến đổi văn
hoá mạnh mẽ đã khoét sâu thêm sự mất phương hướng và dao động của
giới trí thức và theo đó củng cố thêm tinh thần của họ sẵn sàng khuôn mình
vào một trật tự yên ổn. Phải nhắc lại lời nói của Max Weber trong tác phẩm
Khoa học và nghề nghiệp. "Tế phẩm của trí thức, một cách hợp pháp, đem
đến cho nhà tiên tri những người trẻ tuổi, cho nhà thờ những tín đồ. Chẳng
hề bao giờ nhờ đó mà xuất hiện một điều tiên tri mới mẻ, [...] rằng các trí
thức hiện đại có nhu cầu tân trang lại trong tâm hồn họ bằng những đồ vật
bảo đảm là thứ thiệt và cổ lỗ, và ngay ở đó nhắc nhở rằng tôn giáo cũng
thuộc về số đồ vật đó, cái mà đôi khi họ thiếu, và điểm trang thay cho nó là
kiểu dàn đồng ca gia đình đã được tân trang bằng các bức tranh có tính chất
đồ chơi thờ tuốt cả các vị thánh từ khắp các nước. Hoặc là tạo ra cho nó
một vật thay thế theo mỗi dạng thức thưởng ngoạn có sẵn, trên đó khắc lên
tụng ca về sự thiêng liêng huyền bí [...]”. Max Weber dẫn dắt các khuynh
hướng nêu trên quay về với sự hợp lý và thông minh ngày càng tăng, và
trước hết là quay về với "sự phi ảo thuật của thế giới". Ông viết tiếp: "Đối
với kẻ nào không có khả năng gánh số phận nam nhi của thời đại, thì người
ta phải bảo hắn rằng: Anh ta ưa im lặng, không thích sự huyên náo thông
thường của kẻ phản đạo, mà trái lại chân thật và giận dữ trở về vòng tay
trìu mến và rộng mở cửa thánh đường cổ kính. Họ không hề gây khó dễ gì
https://thuviensach.vn
cả cho anh ta. Lẽ đương nhiên là khi đó [...] anh ta phải đem "tế phẩm của
trí thức" tới, hoặc thế này hoặc thế khác. Chúng ta sẽ không hề quở trách,
nếu như anh ta thực sự có được khả năng đó. Bởi vì cái tế phẩm của trí thức
kiểu đó vốn phụ họa cho tinh thần hỉ xả tôn giáo vô điều kiện, xét về mặt
đạo đức luôn luôn là một cái gì đó khác với bất cứ sự đầu thú nào của bổn
phận tri thức trung thực, cái chỉ tham dự vào khi người ta không có đủ can
đảm tự quyết đoán về thái độ cuối cùng của bản thân...".
Hệ vấn đề nêu trên đã can dự sâu vào quan hệ giữa Freud và C.G.
Jung. Hai ông quen biết nhau vào năm 1907, cuốn hút lẫn nhau một cách
phi thường, và quan tâm đến mọi chuyên đề nghiên cứu mới của nhau.
Jung, vì cha đẻ ông vốn là mục sư, ngay từ sớm đã bị hấp dẫn bởi các hiện
tượng tôn giáo và thần bí. Nếu như hoàn cảnh của Freud quả đúng như
người ta biêt, thì ông cũng đã theo chân nguời bạn trẻ hơn mình hai mươi
tuổi bước vào lĩnh vực này. Ngày 12. 2. 1911 ông viết cho Jung: "Từ vài
tuần nay tôi thai ngén một giả thuyết quan trọng và muốn cho chào đời vào
muà hè. Tôi cần một căn phòng yên tĩnh cạnh một khu rừng". Vài tháng sau
đó, ngày 20. 8. 1911, ông lại bộc lộ về điều đó: "Kể từ khi trí lực tôi tỉnh
táo trở lại, tôi nghiên cứu trên một lĩnh vực mới, chắc là anh sẽ ngạc nhiên
lắm, khi anh thấy tôi ở đó. Tôi đã khám phá ra những cái đặc biệt phi
thường, nhưng tôi dường như có bổn phận không được nói với anh về
chuyện đó. Trí tuệ sắc sảo của anh sẽ phán đoán ra tất cả, nếu như tôi nói
thêm rằng tôi bốc cháy khi đọc công trình Những biến hóa và biểu tượng
của dục tính của anh."
Ngày 1. 9. 1911 Freud hé ra bí mật của mình: ông đã nghiên cứu
vấn đề nguồn gốc của tôn giáo, nhưng không muốn làm chệch hướng của
Jung. "Anh cũng đã biết rằng, câu chuyện Edipus (trong thần thọai Hy lạp ND) hàm chứa những cội rễ của tình cảm tôn giáo. Thật là cực kì! Tất cả
những dự định mà tôi phải kể, chỉ có thể mất năm phút." Bản thân phong
cách tự trào lộng của ông thì cũng đủ tỏ rõ ông dự cảm được những phát
hiện mới của mình sẽ gây ra những khó khăn như thế nào cho người bạn
trẻ.
https://thuviensach.vn
Jung đã khái quát hoá điển dạng của trí thức tồn tại trong quá trình
tìm hiểu bức tranh thế giới - như ngày nay người ta có thể nói: toàn diện và
có tính vũ trụ - về tôn giáo. K. R. Eissler viết về vấn đề này như sau:
"Trong mỗi con người đều tiềm ẩn, dù anh ta biết hay không mặc lòng, một
ước mơ đến một tôn giáo đẹp lòng mãn ý, và nó cho phép họ thoả điều
nguyện ước của mỗi người, trừ có một người - đó là nhà khoa học. Anh ta
phải học lấy cách hiểu nó cũng như nguồn gốc, chức năng và mục đích của
nó; nhưng anh ta không được phép bắt nó thoả mãn mục đích riêng của
mình, vì nó không đời nào thoả hiệp với tính lạnh lùng và vô cảm vốn là
điều kiện cho mục đích khoa học."
Eissler cũng đã chỉ ra rằng, Jung chắc muốn tạo ra một tôn giáo mới
lý tưởng, và Eissler đề cập đến bức thư Jung gửi Freud ngày 11. 2. 1910.”
Những điều dẫn ra ở trên có thể làm sáng tỏ tinh thần của thời đại
vốn hình thành dưới tác động của Vật tổ và cấm kị — Đây liên quan tới
những quan điểm khác biệt và không thoả hiệp lẫn nhau về vấn đề tôn giáo
là gì, về phân tâm học, các lý thuyết về hình thức tổ chức của nó cũng như
về quan hệ giữa hai ông.
4. NHỮNG CÁCH ĐÁNH GIÁ KHÁC NHAU VỀ TÁC PHẨM
Kể từ khi ra đời năm 1913, tác phẩm Vật tổ và cấm kị của S, Freud
đã được nhìn nhận rất khác nhau tuỳ theo quan điểm nhận thức của người
phê bình và của thời đại. Thời điểm ra đời 1912 – 1913 trước Chiến tranh
thế giới thứ nhất chính là lúc chủ nghĩa tư bản – thực dân cùng với văn hóa
Châu Âu đang đứng ở tuyệt đỉnh của quyền lực. Thành tựu của nền văn hóa
châu Âu được số đông thừa nhận bằng học thuyết tiến hoá của Darwin. Cho
nên phát ngôn của Freud khi đó khó lòng khơi lên một sự phản đối nào, vả
chăng nếu có thì nó cũng chỉ đến từ giới tăng lữ. Quan điểm thực dân cho
rằng châu Âu hẳn là cái nơi văn hoá phát triển cao nhất, do vậy mà nó tự
cho có quyền cai trị mọi dân tộc khác. Những nhận định của Freud về
"những kẻ ăn thịt người ăn lông ở lỗ", về "những loài dã thú lạc hậu, đói
rách đến cùng cực", tức là về những con người "khiến chúng ta tin rằng họ
https://thuviensach.vn
còn rất gần gũi với người nguyên thủy hơn là với chúng ta, và từ đó chúng
ta nhận ra tổ tiên trực tiếp và đại diện cho con người tiền sử", đã phản ánh
cái chủ nghiã chủng tộc tự kỉ trung tâm truyền kiếp của Châu Âu. Do vậy
mà các luận đề của Freud được xem như phát ngôn về sự khởi đầu của xã
hội loài người.
Tương tự như luận đề của Darwin về nguồn gốc loài người từ loài
vượn được xem như là sự phỉ báng đối với hình hài của Chuá, thì luận đề
của Freud rằng khởi điểm của văn hoá có nguồn gốc từ vụ ám sát và bữa
tiệc thịt người ngay sau đó, đã vấp phải sự phê phán gay gắt từ phía nhà
thờ. Đức cha Wilhelm Schmidt, giáo hoàng của nhân chủng học thiên chúa
giáo, kẻ thù của thuyết tiến hoá cho rằng, khởi đầu là nhất thần luận cổ đại,
và tiếp theo cho đến khi Chúa ra đời, là sự thoái hoá.
Cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất làm lung lay cái ảo tưởng
văn hoá Châu Âu được định hình theo lương tri và ưu việt hơn cả nhờ tính
nhân đạo của nó. Cuộc chiến đó đã ngáng trở con đường tiến tới sự côn
nhận phổ quát văn hóa luận của Freud cùng với sự nhấn mạnh cái vô thức.
Giờ đây người ta lại dành cho tác phẩm của Freud những đòn phê bình chí
tử. Nhưng những sự chỉ trích đã trở nên ồn ào quá, làm lu mờ mất những cố
gắng để lý giải các khuynh hướng vô thức của văn hoá. Chẳng hạn như
năm 1920, A. Kroeber, nhà nhân học nổi tiếng người Mỹ, đã dùng những
lời gay gắt nhất lên án quan điểm tâm lí cá nhân cực đoan của Freud trong
lí giải cội nguồn của luân lí và văn hoá. Trong bản cường lĩnh mười điểm
của mình, ông đã mổ xẻ các luận đề của Freud, xem chúng như những sản
phẩm của hoang tưởng thuần tuý và không thể chứng minh. Ông chỉ ra tính
khả nghi về thị tộc tiền sử trong giả thuyết của Darwin và về bái vật giáo
trong quan niệm của Freud. Ông cũng chỉ ra tính bất ổn của sự so sánh giữa
người dã man với người bệnh tâm thần. Nhưng chính ông đưa đến kết luận
rằng đây chính là một cuốn sách quan trọng và thậm chí là một cống hiến
cần thiết cho ngành dân tộc học. Đối với ông thì mối tương quan giữa tâm
lý xung đột và cấm kị cũng như sự gắn kết giữa đau buồn và sám hối là
hiển nhiên.
https://thuviensach.vn
Khoảng cuối thập kỉ 20 lại xuất hiện sự phê bình Vật tổ và cấm kị
theo khuynh hướng "lãng mạn hoang dã" khác biệt với lối phủ định thực
chứng luận. Những người lãng mạn chủ nghĩa đã hiểu lầm Vật tổ và cấm kị
thành huyền thoại về sự khởi nguyên. Đối với nhà văn Thomas Mann thì
cuốn sách của Freud đã gợi lên le lói "những quang cảnh kì thú về quá khứ
tinh thần, về những tầng sâu của thế giới nguyên thuỷ trong thời cổ đại và
tiền sử loài ngưài". Th. Mann xêp Freud vào trào lưu lãng mạn, nâng sức
mạnh cách tân của "sự trở về" đối với tiền ý thức và đời sống mông lung và
thần thánh cổ sơ" lên thành “mầm mống có tính huyền thoại sử thi lãng
mạn chủ nghiã".
Ở Ernst Junger chúng ta lại đọc thấy, chẳng hạn: "Toàn bộ tính
hoang dã, tàn khốc, và cái màu sắc chói gắt của dục vọng đó được đánh
bóng, trau chuốt và chưng cất trong hàng ngàn năm, mà trong đó xã hội đã
đóng rọ mọi dục vọng và ham muốn bột phát của con người. Thậm chí sự
trau chuốt ngày càng tinh xảo đó biến nó thành vàng ngọc, nhưng dưới tầng
sâu thẳm nhất của nó thú tính vẫn đang ấp ngủ. Bên trong nó luôn luôn có
nhiều phần thú, [...] chúng được che lấp bởi tập quán và các hình thức ưa
thích. Thế nhưng một khi những vòng sóng của đời sống va dập trở lại tới
vạch đỏ nguyên thủy, thì cái mặt nạ ấy lập tức rơi xuống: nó bộc lộ ra hoàn
toàn trần trụi: con người tiền sử ăn lông ở lỗ trong toàn bộ sự phóng túng
của các dục vọng buông thả."
Khái niệm văn hoá lúc này được một số người gắn liền với chúng
tâm thần và sự đồi trụy, và từ tính man rợ, hoang dã của con người bản
năng người ta hy vọng có được những xung động mới cho văn hoá. Bản
thân Freud cũng đã phải đấu tranh không ngừng chống lại những lối tư duy
dung tục hóa đó, chẳng hạn chủ nghiã chủng tộc. Cuộc đấu tranh của Freud
chống lại những võ đoán nảy sinh trong thời đại ông là điều kiện chủ yếu
cho những phát hiện của ông. Thành tựu đó đặc biệt rõ khi đem so sánh
Freud với Otto Weininger hoặc với C. G. Jung. Niềm tin có tính Lamarck
luận của ông về tính kế thừa các thuộc tính di truyền chính là nền tảng lý
thuyết của chủ nghiã chủng tộc sau này, cái đã cho phép tiếp nhận tinh thần
https://thuviensach.vn
chủng tộc một chiều, điều Freud cũng đã làm trong tác phẩm Tâm lý học
đại chúng và phân tích cái tôi (1921). Quan niệm đó đưa ông gần lại với C.G. Jung khi ông "đặt sự tiếp nhận tâm lý đại chúng làm nền tảng, trong đó
các quá trình tinh thần cũng được hoàn thiện như ở cuộc sống tinh thần của
một cá nhân".
Các học giả theo chủ nghĩa hiện sinh (Existentialism) lại tìm cách
hỗn dung các quan điểm phân tâm học về văn hoá và nhân cách với chủ
nghĩa Mác. Chính J. P. Sartre, đại biểu nổi tiếng nhất của chủ nghĩa hiện
sinh trong thời hiện đại cũng đã phải thừa nhận tính thuyết phục của chủ
nghĩa Mác và đề nghị một chỗ đứng cho chủ nghĩa hiện sinh và nhân học
cấu trúc bên trong chủ nghĩa Mác. Ông viết: “Một vấn đề đặt ra ngày nay
chúng ta có cách tạo nên một nhân loại học mang tính cấu trúc và tính lịch
sử chăng? Nhân loại học có chỗ của nó bên trong chủ nghĩa Mác, bởi vì tôi
coi chủ nghĩa Mác như triết học không thể vượt qua được của thời đại
chúng ta và bởi vì tôi coi lí thuyết về hiện sinh và phương pháp hiểu biết
của nó như một đại địa (enclave) nằm hên trong chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa
này vừa tạo ra nó lại vừa từ chối nó". Ý kiến của J. P. Sartre về chỗ đứng
cho nhân học cấu trúc-hình thái (Morphological Anthropology) nay đã trở
thành hiện thực trong các quốc gia thực hiện chính sách đổi mới. Điều đó
cũng không có gì lạ, giống như học thuyết về di truyền từ chỗ được coi là
kẻ thù đã biến thành nhân tố chủ lực trong khoa học thế giới.
5. VẬT TỔ VÀ CẤM KỊ DƯỚI ÁNH SÁNG CHỦ NGHĨA MÁC
Cũng giống như số phận các công trình khác của mình. Vật tổ và
cấm kị bị phần lớn các nhà lí luận Mác-xit sau này khước từ, coi là duy tâm
chủ quan và nguồn gốc của tư sản suy đồi. Trần Đức Thảo viết: "Do đó mà
học thuyết tâm phân đứng trước tình trạng không có năng lực hiểu đời sống
người trong bản chất hiện thực của nó là bản chất xã hội tính, cơ sở thực sự
của các tâm thần cá nhân." Yêu cầu đánh giá lại này vốn bắt đầu từ những
năm sáu mươi. Các nhà lí luận Mác-xít ở Tây Âu đã nhận thấy rằng việc
lên án phân tâm học theo quan điểm ý thức hệ đã làm cho nó không có chỗ
lưu trú trong thế giới tinh thần của những người cộng sản. Vào tháng 5.
https://thuviensach.vn
1968, những người Mác-xít châu Âu đã tiến hành một cuộc hội thảo lớn
mang tên Chủ nghĩa Mác và phân tâm học do tạp chí Phê bình mới
(Nouvelle Critique) ở Pháp tổ chức. Tham gia cuộc hội thảo có nhiều nhà
nghiên cứu Mác-xít đồng thời là nhà phân tâm học, như Bernard Muldworf.
Người ta nói nhiều đến giá trị nhận thức của phân tâm học nói chung và các
tác phẩm của Freud nói riêng trong đời sống văn hoá tinh thần ngày nay.
Có ý kiến nhận định đa số người Mác-xít Pháp cho rằng phê bình phân tâm
học dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác có thể làm xuất lộ những hạt nhân chân lí
khoa hoc của lí thuyết Freud về vô thức. Nếu ta so sánh các luận điểm của
Freud với các luận điểm của chủ nghĩa Mác về nguồn gốc của ý thức và của
tôn giáo, chúng ta sẽ phát hiện ra hàng loạt sự tương đồng, ít nhất là về
hình thức.
Về nguồn gốc của ý thức, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đánh giá
vai trò quyết định của lao động-sản xuất, tức là của hành động, như Engels
viết: "Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống của con
người, hơn nữa là đến một mức mà trên một ý nghĩa nà đó, chúng ta phải
nói: lao động đã tạo ra chính bản thân con người", thì trong tác phẩm của
Freud, chúng ta đọc thấy luận đề của ông: "Người nguyên thủy không biết
xấu hổ, ý nghĩ được chuyển ngay thành hành động, hành động đến lượt nó
cũng là sự thay thế cho ý nghĩ, và về vấn đề đó tôi nghĩ rằng [...]: Khởi đầu
chính là hành động”. Không thể xác định được đó có phải là nhận thức mà
ông tiếp thu được từ chủ nghĩa Marx hay không, vì tư tưởng duy vật lịch sử
"khởi đầu chính là hành động" đối với ý thức con người không phải chỉ đến
Marx và Engels mới được phát hiện ra, mà nó đã được nhà khai sáng vĩ đại
của dân tộc Đức J.W.Goethe láy đi láy lại nhiều lần như một tư tưởng chủ
đ...
NGUỒN GỐC CỦA VĂN HÓA VÀ TÔN GIÁO
NGUỒN GỐC CỦA VĂN HÓA VÀ TÔN GIÁO
VẬT TỔ VÀ CẤM KỴ
(In lần thứ 2)
Tác giả: SIGMUND FREUD
LƯƠNG VĂN KẾ dịch
LỜI GIỚI THIỆU
Tên tuổi của Sigmund Freud (1856 - 1939) thật ra không xa lạ với
giới nghiên cứu Việt Nam trên các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn
như triết học, văn học, tâm lý học, nghệ thuật học v.v... từ mấy chục năm
nay. Tuy nhiên, dấu ấn để lại khi đề cập đến Freud thường là mang tính phê
phán, đôi khi là sự áp đặt khiên cưỡng ý kiến của người khác. Phải đến mấy
năm gần đây, một số nghiên cứu tương đối có hệ thống về các công trình
phân tâm học của ông mới được giới thiệu trên báo chí, và thậm chí đã có
một vài bản dịch của các học giả nghiên cứu về Freud. Có thể kể đến công
trình của Trần Đức Thảo Tìm cội nguồn của ngôn ngữ và ý thức (1996, do
Đoàn Văn Chúc dịch từ tiếng Pháp, Đỗ Lai Thúy giới thiệu), cuốn Freud đã
thực sự nói gì của nhà phân tâm học Anh David Stafforf-Clark (1998,
Nguyễn Khắc Viện viết lời giới thiệu, Huyền Giang dịch). Tuy nhiên, các
tác phẩm quan trọng của Freud rất tiếc vẫn chưa có điều kiện ra mắt độc giả
Việt Nam, ví dụ Giải mộng Traumdeutung) xuất bản năm 1899 cách đây
vừa tròn 100 năm - công trình nền tảng thể hiện tài năng xuất chúng của
ông trong giải thuyết về thế giới vô thức của con người.
Cống hiến của Freud thật đa dạng, hay nói cho đúng hơn, học thuyết
của ông có khả năng vận dụng thật sự rộng lớn, trước hết là trên các lĩnh
vực văn hoá và nghiên cứu thế giới tinh thần của con người, và nó có sức
hấp dẫn kì lạ. Dù còn có nhiều ý kiến khác nhau về tầm cỡ cống hiến của
https://thuviensach.vn
ông, nhưng không thể không thừa nhận rằng, với tư cách một trong những
học thuyết khoa học tinh thần lớn nhất của nhân loại, quả thật nó đã làm
đảo lộn những quan niệm truyền thống về thế giới văn hoá tinh thần của
con người, trước hết là văn hoá khu vực Âu-Mỹ, "tới mức trở thành một bộ
phận cấu thành thiết yếu của nền văn hoá thế kỉ hai mươi" (M. Fragonas:
Văn hoá thế kỷ XX, nxb Văn hoá thông tin, 1999, tr. 895).
Cũng với tinh thần như vậy, trên lĩnh vực nghiên cứu lý thuyết phổ
quát về nguồn gốc của văn hoá và tôn giáo, ông đã có một cống hiến quan
trọng với các tác phẩm Vật tổ và cấm kị (ở đây được dịch giả chuyển tên
theo nội dung thành Nguồn gốc của văn hoá và tôn giáo), Tâm lý học đại
chúng và phân tích cái Tôi, Moise và tôn giáo nhất thần, trong đó Vật tổ và
cấm kị là tác phẩm ít được biết đến nhất nhưng lại đặc sắc và quan trọng
nhất. Đó chính là lý thuyết phân tâm học về nguồn gốc của tôn giáo và văn
hoá của loài ngưòi. Các tác phẩm sau này của Freud về văn hoá cũng chủ
yếu dựa trên công trình xuất bản năm 1913 này.
Trong tác phẩm đặc sắc này, Freud đã trình bày những quan điểm
cơ bản của ông về cội nguồn của tôn giáo và văn hoá, một quan điểm mang
nhiều luận điểm duy vật lịch sử hết sức lí thú. Hạt nhân của học thuyết này
chính là các khái niệm như Vật tổ (Totem), Cấm kị (Tabu) và khái niệm
mặc cảm Oedipe về tính dục, mà theo Nguyễn Khắc Viện (trong Lời giới
thiệu cuốn Freud đã thực sự nói gì) thì "Những gì Freud nói về mặc cảm
Oedipe ngày nay còn đứng vững" (tr. 23).
Tuy nhiên, học thuyết phân tâm học về văn hoá và tôn giáo của
Freud đã được xây dựng trong một hoàn cảnh lịch sử xã hội đặc biệt cũng
như như trên tiền đề của bản thân cuộc đời riêng của Freud (ví dụ nguồn
gốc Do Thái, sự phức tạp trong gia đình, sức khoẻ...) cho nên nội dung của
nó một mặt phản ánh tinh thần của thời đại ấy, thời đại đêm trước của cuộc
chiến tranh thế giới lần thứ nhất, trong đó thành phố Viên của nước Áo nói
riêng và châu Âu nói chung đang bị kìm nén trong những bức bối chính trị
kinh tế và tôn giáo hết sức nặng nề, và chính những cái đó đã đè nặng lên
tình cảm tự nhiên của con người. Mặc khác nó phản ánh chính bản thân
https://thuviensach.vn
những kìm nén và uẩn ức trong đời sống tình cảm của bản thân ông. Xuất
phát từ đó có thể thấy, lý thuyết phân tâm học về văn hoá và tôn giáo của
Freud cũng chứa đựng những luận điểm mà ngày nay thấy không còn phù
hợp nữa. Do vậy, khi đọc tác phẩm, độc giả cần đứng trên quan điểm duy
vật mac-xit để thẩm định tác phẩm.
Tác phẩm Vật tổ và cấm kị của Freud được Tiến sỹ khoa học Lương
Văn Kế dịch ra tiếng Việt từ nguyên tác tiếng Đức với tiêu đề Nguồn gốc
của văn hoá và tôn giáo và viêt một Lời dẫn nhằm giúp thêm cho quá trình
đọc và thẩm định tác phẩm. Bản dịch đã cố gắng thể hiện văn phong khoa
học chính xác và sinh động đặc biệt hấp dẫn của Freud. Nay sách được Nhà
xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội cho ra mắt với tư cách sách tham khảo
cho sinh viên các chuyên ngành khoa học nhân văn, trước hết là chuyên
ngành triết học - tôn giáo học, văn hoá học và quốc tế học. Đây là một việc
làm giúp ích nhiều cho quá trình học tập và nghiên cứu. Nhân đây tôi xin tỏ
lời cảm ơn Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện cho ra
mắt bản dịch của công trình đặc sắc này.
Tôi xin trân trọng giới thiệu với các nhà nghiên cứu, anh chị em
sinh viên thuộc lĩnh vực văn hoá học, tôn giáo học, triết học cùng toàn thể
độc giả.
GS. TS Nguyễn Hữu Vui
LỜI DẪN
Chương I. NỖI XẤU HỔ LOẠN LUÂN
Chương II. CẤM KỊ VÀ XUNG ĐỘT NỘI TẠI CỦA NHỮNG XUNG
ĐỘNG TÌNH CAM
Chương III. THUYẾT VẬT LINH, PHÉP PHÙ THUỶ VÀ QUYỀN
NĂNG TỐI THƯỢNG CỦA TƯ DUY
Chương IV. SỰ HỒI QUI ẤU TRĨ CỦA TOTEM GIÁO
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA S. FREUD ĐÃ XUẤT BẢN
https://thuviensach.vn
Created by AM Word2CHM
https://thuviensach.vn
LỜI DẪN
NGUỒN GỐC CỦA VĂN HÓA VÀ TÔN GIÁO
QUAN ĐIỂM PHÂN TÂM HỌC
VỀ NGUỒN GỐC VĂN HOÁ VÀ TÔN GIÁO CỦA SIGMUND
FREUD
DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA CHỦ NGHĨA MÁC
Lương Văn Kế
1. VỊ TRÍ CỦA TÁC PHẨM VÀ CỦA VIỆC ĐỊNH GIÁ LẠI TÁC
PHẨM
Văn hoá và tôn giáo là những vấn đề vô cùng phức tạp và rông lớn,
tác động sâu xa tới toàn bộ đời sống xã hội, tới ý thức, lối sống và nhân
cách cá nhân của mọi thành viên. Do vậy, chúng là đối tượng nghiên cứu có
tính chất bao trùm lên toàn bộ các khoa học xã hội và nhân văn. Học thuyết
Marx với phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã có
cống hiến to lớn trong giải quyết các vấn đề liên quan đến các khái niệm
đó. Tính đúng đắn của học thuyết Marx, đặc biệt là các công trình của F.
Engels, là chỉ ra một cách khoa học và thuyết phục những cơ sở lao độngkinh tế của việc hình thành ý thức xã hội, lâu đài văn hoá, tín ngưỡng, các
phong tục tập quán và mối tương quan giữa ý thức xã hội với nhân cách cá
nhân. Chủ nghĩa Marx nhìn nhận các hiện tương xã hội đó như là kết quả
của hành động có ý thức của con người. Tuy nhiên, hành động của con
người, đặc biệt là hành vi của các cá nhân, không phải chỉ được điều khiển
bởi ý thức, mà có khi nó còn bị thúc đẩy bởi các động lực vô thức nằm sâu
trong tận đáy tâm thức của con người, cái đôi khi được đồng nhất với bản
năng.
Với tư cách một học thuyết duy vật biện chứng và lịch sử được xây
dựng trên cơ sở các thành tựu mới nhất của các khoa học tự nhiên, khoa
học xã hội và nhân văn đương thời, nó thừa nhận tiến hoá luận của Darwin,
https://thuviensach.vn
tiếp thu và kế thừa lí thuyết văn hoá - nhân học của nhà nhân học Mĩ H.
Morgan, chủ nghĩa Marx không phủ nhận cơ sở vật chất sinh học của con
người, như Marx đã từng chỉ dẫn: "Giải phẫu học về con người là cái chìa
khoá cho giải phẫu học về con khỉ", cho nên nó cũng không coi thường bản
năng và vô thức. Chỉ có điều, do một số nhà lí luận sau này bởi nhiều lí do
khác nhau, đã tuyệt đối hoá mặt ý thức mà xem nhẹ việc nghiên cứu vô
thức và tâm lí cá nhân. Mảnh đất quan trọng và thiết thân ấy, do vậy, trong
một thời kì dài hàng thế kỉ đã là nơi tung hoành của các trường phái tâm lí
học ở các nước tư bản chủ nghĩa Tây Âu và Bắc Mỹ, mà trung tâm của họ
là phân tâm học (Psychanalyse) với đại biểu điển hình là Sigmund Freud
được nhiều người xem là cha đẻ của phân tâm học, một người mà tác phẩm
của mình từng được coi là "cấm kị", không được phổ biến ở một số nước
trong thời kì chiến tranh lạnh.
Trong lịch sử hình thành và phát triển của phân tâm học, người ta
thấy nó quan tâm trước hết đến bệnh lí tâm thần và đời sống vô thức của cá
nhân, rồi sau đó mới có bước chuyển di sang lĩnh vực đời sống xã hội.
Thuật ngữ phân tâm học (Psychoanalyse) xuất hiện bằng tiếng pháp lần đầu
tiên năm 1896 trong một báo cáo của Freud. Thời kì đó người ta hiểu nó
như một liệu pháp y học gọi là "liên tưởng tự do" (freie assoziation). Rồi
sau đó đã bành trướng thành một phương pháp thời thượng sang nhiều lĩnh
vực khác của các khoa học tinh thần. Các hiện tượng xã hội được phân tích
truy nguyên theo các yếu tố bản năng vô thức là những cái được di truyền
từ loài thú đến loài người nguyên thuỷ và tồn tại mãi cho đến con người
hiện đại. Tuy nhiên, trong quá trình tìm tòi nguyên uỷ của bệnh tâm thần cá
nhân và những nỗi đau đớn của họ, phương pháp phân tâm học cũng quan
tâm đến sự tác động của các bối cảnh xã hội thông qua các câu chuyện do
người bệnh kể lại. Những nhân tố xã hội ấy do vậy cũng làm thành cơ sở
của phân tâm học.
Vấn đề cội nguồn của văn hoá và của tôn giáo hiển nhiên chỉ được
đề cập đến trong các giai đoạn phát triển tương đối muộn của phân tâm học,
một mặt phía chủ quan, khi mà nó tin rằng có thể vận dụng qui luật sinh lí -
https://thuviensach.vn
tâm thần cá nhân để giải thích được các hiện tượng xã hội quan trọng như
vấn đề truyền thống, phong tục tập quán, tôn giáo và văn hoá của các dân
tộc. Mặt khác, sự ra đời của các tác phẩm phân tâm học về xã hội cũng là
sản phẩm bởi tác động của các bối cảnh lịch sử của xã hội đương thời. Các
nguồn tư liệu gần đây cho thấy Freud, Adler cũng như nhiều nhà phân tâm
học hàng đầu khác cuối thế kỉ 19 - đầu thế kỉ 20 đã có những quan hệ chặt
chẽ với phong trào công nhân châu Âu dưới sự lãnh đạo của những người
xã hội dân chủ theo tư tưởng Mác-xít. Thậm chí bản thân một số nhà phân
tâm học đồng thời là lãnh tụ của các đảng phái xã hội dân chủ, như A.
Adler, H. Heller, C. Furtmueller, D.-E. Openheim. Bản thân Freud cũng
như nhiều nhà phân tâm học khác tỏ ra tán thành quan điểm tâm lí hoc duy
vật Mác-xít.
Vật tổ và cấm kị (Totem und Tabu) là tác phẩm quan trọng nhất của
Freud nói riêng và của phân tâm học nói chung về nguồn gốc của văn hoá
và tín ngưỡng. Ngay tác phẩm cuối cùng Moise và tôn giáo nhất thần
(1939) cũng như Tâm lý học đại chúng và phân tích cái tôi (1921) đều xây
dựng trên cơ sở Vật tổ và cấm kị. Phải chăng đó là sự ngoan cố của Freud,
cái đã cho phép ông bám chắc các luận đề của mình, hay phải chăng những
lý thuyết ông phát minh trong đó chính là những viên đá tảng quan yếu cho
văn hoá luận phân tâm học? Tác phẩm này được chính Freud xem là "thử
nghiệm đầu tiên (...) trong vận dụng các quan niệm và kết quả nghiên cứu
của phân tâm học vào các vấn đề chưa sáng tỏ của tâm lí hoc dân tộc", và
đối với độc giả thì nó "đáp ứng mối quan tâm của một phạm vi rộng lớn
hơn của những người có văn hóa, nhưng thực ra chúng chỉ có thể được hiểu
và phân định bởi một số ít ỏi nhất mà với họ phân tâm học không còn xa lạ
nữa. Nó ra đời trên cơ sở những kết quả nghiên cứu lâm sàng và điều trị
bệnh nhân tâm thần của chính Freud, các công trình khảo cứu nhân chủng
học và văn hóa học của nhiều học giả, đặc biệt là Frazer, và ít nhiều chịu
kích thích trực tiếp từ tác phẩm Những biến hoá và biểu tượng của dục tính
của nhà phân tâm học trẻ C-G. Jung, môn đệ của ông. Nhưng tác phẩm của
Freud có sức khái quát hoá hơn hẳn và mang tính duy vật cao.
https://thuviensach.vn
2. NỘI DUNG CỦA TÁC PHẨM
Lúc đầu, trong những năm 1912 - 1913, tác phẩm chỉ là những bài
báo dưới nhan đề "Đôi nét giống nhau trong đời sống tinh thần của người
dã man và người bệnh tâm thần” được đăng rải rác trên tạp chí tâm lí học
Imago (Biểu tượng). Được tập hợp và chỉnh lí thành sách lần đầu vào năm
1913. Tác phẩm bao gồm bốn chương. Mỗi chương đề cập đến một phạm
trù quan trọng của lí thuyết phân tâm học về văn hoá:
Trong chương đầu tiên (Nỗi xấu hổ loạn luân), Freud diễn giải động
cơ vô thức của mọi tập quán kiêng kị trong hôn nhân và quan hệ tính dục
được qui kết một cách hình tượng và triết nọc về hội chứng Edipus (giết
cha lấy mẹ): quan hệ giữa người cùng ruột thịt, quan hệ thông gia, quan hệ
nội tộc và quan hệ ngoại tộc. Nguyên nhân và hệ thống kết hôn ngoại tộc.
Lịch sử hình thành hệ thống nghi lễ kiêng kị trong quan hệ dục tính. Tâm lí
học dân tộc (Voelkerpsychologie) và sự khám phá bằng sự vận dụng
phương pháp quan sát phân tâm học; sự lựa chọn đối tượng tình dục đầu
tiên, những con đường nhận thức và giải thoát của con người trưởng thành
khỏi ma lực của loạn luân.
Trong Chương hai (Cấm kị và những mâu thuẫn nội tại của xung
động tình cảm) Freud trình bày lịch sử hình thành khái niệm bái vật (totem)
và bái vật giáo (totemism), các loại hình của hệ thống bái vật của các dân
tộc, nguồn gốc võ đoán của việc thần thánh hoá người và vật cụ thể, đẳng
cấp thống trị và giới tăng lữ của các tôn giáo, đời sống kì dị của người có
tục cấm kị ở các dân tộc, nỗi sợ hãi trước những điều cấm kị và hậu quả
của nó; hai qui ước của bái vật giáo: cấm giết và quan hệ tính dục với bái
vật; tính năng chuyển di thuộc tính cấm kị từ vật này sang vật khác; những
mâu thuẫn nội tại trong tình cảm đối với kẻ thù và đối với kẻ thống trị, cội
nguồn của luật pháp...
Chương ba (Vật linh Luận, phép phù thuỷ và quyền năng tối thượng
của tư duy) là giải thuyết của phân tâm học Freud về nguồn gốc và động cơ
của thuyết linh hồn và các loại hình linh vật cùng hậu quả tai hại của nó;
https://thuviensach.vn
nguồn gốc, động cơ và đặc tính tác động của phép phù thuỷ; khái niệm
quyền năng tối thượng của tư duy, biểu hiện của nó ở người bệnh tâm thần
cưỡng chế, ở sáng tạo nghệ thuật...
Chương bốn là chương cuối (Sự hồi qui ấu trĩ của Tomtem giáo).
Freud đi sâu phân tích toàn bộ các luận đề về đặc tính của totem giáo với tư
cách một thiết chế tôn giáo và thiết chế xã hội: nguyên nhân hình thành
totem giáo với tư cách hình thức tôn giáo đầu tiên của loài người - nguyên
nhân danh xưng học, nguyên nhân xã hội học và nguyên nhân tâm lí học;
các loại hình totem giáo trong thế giới nguyên thuỷ; nguồn gốc của hôn
nhân ngoại tộc và liên quan của nó với totem giáo.
3. VỀ SỰ HÌNH THÀNH TÁC PHẨM
Trong cuốn tiểu sử Freud, Ernest Jones đã trình bày quá trình hình
thành bốn chương của tác phẩm. Căn cứ đầu tiên tìm thấy trong bức thư
Freud gửi Ferenczi: Vào giao thừa năm 1909, ý tưởng tôn giáo mang ý
nghĩa gì đã đến với ông: "Lý do cuối cùng của tôn giáo chính là sự bất lực
ngây thơ của con người”. Vào tháng Tám năm 1911, ông khuyên Jones
"hãy quan tâm đến tâm lý học về tín ngưỡng và về các mối kết hợp tôn
giáo. Tôi biết rằng, trong việc này tôi đang đi theo một con đường khúc
khuỷu, nhưng nó chính là cái qui trình của những kết hợp vô thức". Và ông
viết cho Ferenczi: "Tôi dành hoàn toàn cho Vật tổ và cấm kị".
Một trong các động lực cơ bản thúc đẩy sự ra đời của Vật tổ và cấm
kị là sự xung đột trên phương diện lí thuyết tôn giáo. Theo các nhà khoa
hoc, nhà nghệ thuật và nhà văn thì tôn giáo, trước hết là Thiên chúa giáo
cũng như các thuyết thần bí, đã khởi đầu bằng việc giành tín đồ. Thuyết
hoài nghi tư sản đã mất đất dụng võ, và tinh thần sẵn sàng tiếp nhận trỏ lại
các hình thức tín ngưỡng cũ đã được mở rộng. Chẳng hạn như vào năm
1911 xuất hiện màn trình diễn cổ vở Ai chả vậy (Jedermann) của
Hofmannsthal, và phục hưng phong cách barock, cũng có nghĩa là sự phục
hưng của thế giới có tính cấp tiến thiên chuá giáo cách tân. Vào năm 1914
nhà phê bình văn học Herrmann Bahr đầy uy tín đã qui y Thiên chuá giáo.
https://thuviensach.vn
Năm 1912 ông viết: "Tôn giáo là biểu hiện của sự nguy cấp, trong đó con
người không biết đến lời khuyên, và ở đó người ta tự cứu rỗi mình một
cách tuyệt vời từ bên trong; cái mà anh ta tìm thấy ở đấy sau đó, chính là
tôn giáo. [...] Thế hệ vừa mới đây thôi còn lãnh đạm với chân lý của tôn
giáo, nhưng rồi họ đã tự giải phóng khỏi sự hoài nghi trước đó, đi đến
thương nghị với lương tri. Họ cảm thấy lạnh lẽo. Thế là tôn giáo bắt đầu, ít
nhất thì nó cũng trỏ lại thành một đối tượng nào đó của sự chiêm ngưỡng”.
Tiếp đó ông dẫn tên William James với cuốn Kinh nghiệm tôn giáo muôn
hình vạn trạng của ông.
Trào lưu tín ngưỡng nói trên không được phép đánh giá thấp, nếu
như người ta muốn hiểu nghiên cứu của Freud nhằm lý giải "tâm lý học của
tín ngưỡng và của quan hệ tôn giáo". Phải thừa nhận rằng sự biến đổi văn
hoá mạnh mẽ đã khoét sâu thêm sự mất phương hướng và dao động của
giới trí thức và theo đó củng cố thêm tinh thần của họ sẵn sàng khuôn mình
vào một trật tự yên ổn. Phải nhắc lại lời nói của Max Weber trong tác phẩm
Khoa học và nghề nghiệp. "Tế phẩm của trí thức, một cách hợp pháp, đem
đến cho nhà tiên tri những người trẻ tuổi, cho nhà thờ những tín đồ. Chẳng
hề bao giờ nhờ đó mà xuất hiện một điều tiên tri mới mẻ, [...] rằng các trí
thức hiện đại có nhu cầu tân trang lại trong tâm hồn họ bằng những đồ vật
bảo đảm là thứ thiệt và cổ lỗ, và ngay ở đó nhắc nhở rằng tôn giáo cũng
thuộc về số đồ vật đó, cái mà đôi khi họ thiếu, và điểm trang thay cho nó là
kiểu dàn đồng ca gia đình đã được tân trang bằng các bức tranh có tính chất
đồ chơi thờ tuốt cả các vị thánh từ khắp các nước. Hoặc là tạo ra cho nó
một vật thay thế theo mỗi dạng thức thưởng ngoạn có sẵn, trên đó khắc lên
tụng ca về sự thiêng liêng huyền bí [...]”. Max Weber dẫn dắt các khuynh
hướng nêu trên quay về với sự hợp lý và thông minh ngày càng tăng, và
trước hết là quay về với "sự phi ảo thuật của thế giới". Ông viết tiếp: "Đối
với kẻ nào không có khả năng gánh số phận nam nhi của thời đại, thì người
ta phải bảo hắn rằng: Anh ta ưa im lặng, không thích sự huyên náo thông
thường của kẻ phản đạo, mà trái lại chân thật và giận dữ trở về vòng tay
trìu mến và rộng mở cửa thánh đường cổ kính. Họ không hề gây khó dễ gì
https://thuviensach.vn
cả cho anh ta. Lẽ đương nhiên là khi đó [...] anh ta phải đem "tế phẩm của
trí thức" tới, hoặc thế này hoặc thế khác. Chúng ta sẽ không hề quở trách,
nếu như anh ta thực sự có được khả năng đó. Bởi vì cái tế phẩm của trí thức
kiểu đó vốn phụ họa cho tinh thần hỉ xả tôn giáo vô điều kiện, xét về mặt
đạo đức luôn luôn là một cái gì đó khác với bất cứ sự đầu thú nào của bổn
phận tri thức trung thực, cái chỉ tham dự vào khi người ta không có đủ can
đảm tự quyết đoán về thái độ cuối cùng của bản thân...".
Hệ vấn đề nêu trên đã can dự sâu vào quan hệ giữa Freud và C.G.
Jung. Hai ông quen biết nhau vào năm 1907, cuốn hút lẫn nhau một cách
phi thường, và quan tâm đến mọi chuyên đề nghiên cứu mới của nhau.
Jung, vì cha đẻ ông vốn là mục sư, ngay từ sớm đã bị hấp dẫn bởi các hiện
tượng tôn giáo và thần bí. Nếu như hoàn cảnh của Freud quả đúng như
người ta biêt, thì ông cũng đã theo chân nguời bạn trẻ hơn mình hai mươi
tuổi bước vào lĩnh vực này. Ngày 12. 2. 1911 ông viết cho Jung: "Từ vài
tuần nay tôi thai ngén một giả thuyết quan trọng và muốn cho chào đời vào
muà hè. Tôi cần một căn phòng yên tĩnh cạnh một khu rừng". Vài tháng sau
đó, ngày 20. 8. 1911, ông lại bộc lộ về điều đó: "Kể từ khi trí lực tôi tỉnh
táo trở lại, tôi nghiên cứu trên một lĩnh vực mới, chắc là anh sẽ ngạc nhiên
lắm, khi anh thấy tôi ở đó. Tôi đã khám phá ra những cái đặc biệt phi
thường, nhưng tôi dường như có bổn phận không được nói với anh về
chuyện đó. Trí tuệ sắc sảo của anh sẽ phán đoán ra tất cả, nếu như tôi nói
thêm rằng tôi bốc cháy khi đọc công trình Những biến hóa và biểu tượng
của dục tính của anh."
Ngày 1. 9. 1911 Freud hé ra bí mật của mình: ông đã nghiên cứu
vấn đề nguồn gốc của tôn giáo, nhưng không muốn làm chệch hướng của
Jung. "Anh cũng đã biết rằng, câu chuyện Edipus (trong thần thọai Hy lạp ND) hàm chứa những cội rễ của tình cảm tôn giáo. Thật là cực kì! Tất cả
những dự định mà tôi phải kể, chỉ có thể mất năm phút." Bản thân phong
cách tự trào lộng của ông thì cũng đủ tỏ rõ ông dự cảm được những phát
hiện mới của mình sẽ gây ra những khó khăn như thế nào cho người bạn
trẻ.
https://thuviensach.vn
Jung đã khái quát hoá điển dạng của trí thức tồn tại trong quá trình
tìm hiểu bức tranh thế giới - như ngày nay người ta có thể nói: toàn diện và
có tính vũ trụ - về tôn giáo. K. R. Eissler viết về vấn đề này như sau:
"Trong mỗi con người đều tiềm ẩn, dù anh ta biết hay không mặc lòng, một
ước mơ đến một tôn giáo đẹp lòng mãn ý, và nó cho phép họ thoả điều
nguyện ước của mỗi người, trừ có một người - đó là nhà khoa học. Anh ta
phải học lấy cách hiểu nó cũng như nguồn gốc, chức năng và mục đích của
nó; nhưng anh ta không được phép bắt nó thoả mãn mục đích riêng của
mình, vì nó không đời nào thoả hiệp với tính lạnh lùng và vô cảm vốn là
điều kiện cho mục đích khoa học."
Eissler cũng đã chỉ ra rằng, Jung chắc muốn tạo ra một tôn giáo mới
lý tưởng, và Eissler đề cập đến bức thư Jung gửi Freud ngày 11. 2. 1910.”
Những điều dẫn ra ở trên có thể làm sáng tỏ tinh thần của thời đại
vốn hình thành dưới tác động của Vật tổ và cấm kị — Đây liên quan tới
những quan điểm khác biệt và không thoả hiệp lẫn nhau về vấn đề tôn giáo
là gì, về phân tâm học, các lý thuyết về hình thức tổ chức của nó cũng như
về quan hệ giữa hai ông.
4. NHỮNG CÁCH ĐÁNH GIÁ KHÁC NHAU VỀ TÁC PHẨM
Kể từ khi ra đời năm 1913, tác phẩm Vật tổ và cấm kị của S, Freud
đã được nhìn nhận rất khác nhau tuỳ theo quan điểm nhận thức của người
phê bình và của thời đại. Thời điểm ra đời 1912 – 1913 trước Chiến tranh
thế giới thứ nhất chính là lúc chủ nghĩa tư bản – thực dân cùng với văn hóa
Châu Âu đang đứng ở tuyệt đỉnh của quyền lực. Thành tựu của nền văn hóa
châu Âu được số đông thừa nhận bằng học thuyết tiến hoá của Darwin. Cho
nên phát ngôn của Freud khi đó khó lòng khơi lên một sự phản đối nào, vả
chăng nếu có thì nó cũng chỉ đến từ giới tăng lữ. Quan điểm thực dân cho
rằng châu Âu hẳn là cái nơi văn hoá phát triển cao nhất, do vậy mà nó tự
cho có quyền cai trị mọi dân tộc khác. Những nhận định của Freud về
"những kẻ ăn thịt người ăn lông ở lỗ", về "những loài dã thú lạc hậu, đói
rách đến cùng cực", tức là về những con người "khiến chúng ta tin rằng họ
https://thuviensach.vn
còn rất gần gũi với người nguyên thủy hơn là với chúng ta, và từ đó chúng
ta nhận ra tổ tiên trực tiếp và đại diện cho con người tiền sử", đã phản ánh
cái chủ nghiã chủng tộc tự kỉ trung tâm truyền kiếp của Châu Âu. Do vậy
mà các luận đề của Freud được xem như phát ngôn về sự khởi đầu của xã
hội loài người.
Tương tự như luận đề của Darwin về nguồn gốc loài người từ loài
vượn được xem như là sự phỉ báng đối với hình hài của Chuá, thì luận đề
của Freud rằng khởi điểm của văn hoá có nguồn gốc từ vụ ám sát và bữa
tiệc thịt người ngay sau đó, đã vấp phải sự phê phán gay gắt từ phía nhà
thờ. Đức cha Wilhelm Schmidt, giáo hoàng của nhân chủng học thiên chúa
giáo, kẻ thù của thuyết tiến hoá cho rằng, khởi đầu là nhất thần luận cổ đại,
và tiếp theo cho đến khi Chúa ra đời, là sự thoái hoá.
Cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất làm lung lay cái ảo tưởng
văn hoá Châu Âu được định hình theo lương tri và ưu việt hơn cả nhờ tính
nhân đạo của nó. Cuộc chiến đó đã ngáng trở con đường tiến tới sự côn
nhận phổ quát văn hóa luận của Freud cùng với sự nhấn mạnh cái vô thức.
Giờ đây người ta lại dành cho tác phẩm của Freud những đòn phê bình chí
tử. Nhưng những sự chỉ trích đã trở nên ồn ào quá, làm lu mờ mất những cố
gắng để lý giải các khuynh hướng vô thức của văn hoá. Chẳng hạn như
năm 1920, A. Kroeber, nhà nhân học nổi tiếng người Mỹ, đã dùng những
lời gay gắt nhất lên án quan điểm tâm lí cá nhân cực đoan của Freud trong
lí giải cội nguồn của luân lí và văn hoá. Trong bản cường lĩnh mười điểm
của mình, ông đã mổ xẻ các luận đề của Freud, xem chúng như những sản
phẩm của hoang tưởng thuần tuý và không thể chứng minh. Ông chỉ ra tính
khả nghi về thị tộc tiền sử trong giả thuyết của Darwin và về bái vật giáo
trong quan niệm của Freud. Ông cũng chỉ ra tính bất ổn của sự so sánh giữa
người dã man với người bệnh tâm thần. Nhưng chính ông đưa đến kết luận
rằng đây chính là một cuốn sách quan trọng và thậm chí là một cống hiến
cần thiết cho ngành dân tộc học. Đối với ông thì mối tương quan giữa tâm
lý xung đột và cấm kị cũng như sự gắn kết giữa đau buồn và sám hối là
hiển nhiên.
https://thuviensach.vn
Khoảng cuối thập kỉ 20 lại xuất hiện sự phê bình Vật tổ và cấm kị
theo khuynh hướng "lãng mạn hoang dã" khác biệt với lối phủ định thực
chứng luận. Những người lãng mạn chủ nghĩa đã hiểu lầm Vật tổ và cấm kị
thành huyền thoại về sự khởi nguyên. Đối với nhà văn Thomas Mann thì
cuốn sách của Freud đã gợi lên le lói "những quang cảnh kì thú về quá khứ
tinh thần, về những tầng sâu của thế giới nguyên thuỷ trong thời cổ đại và
tiền sử loài ngưài". Th. Mann xêp Freud vào trào lưu lãng mạn, nâng sức
mạnh cách tân của "sự trở về" đối với tiền ý thức và đời sống mông lung và
thần thánh cổ sơ" lên thành “mầm mống có tính huyền thoại sử thi lãng
mạn chủ nghiã".
Ở Ernst Junger chúng ta lại đọc thấy, chẳng hạn: "Toàn bộ tính
hoang dã, tàn khốc, và cái màu sắc chói gắt của dục vọng đó được đánh
bóng, trau chuốt và chưng cất trong hàng ngàn năm, mà trong đó xã hội đã
đóng rọ mọi dục vọng và ham muốn bột phát của con người. Thậm chí sự
trau chuốt ngày càng tinh xảo đó biến nó thành vàng ngọc, nhưng dưới tầng
sâu thẳm nhất của nó thú tính vẫn đang ấp ngủ. Bên trong nó luôn luôn có
nhiều phần thú, [...] chúng được che lấp bởi tập quán và các hình thức ưa
thích. Thế nhưng một khi những vòng sóng của đời sống va dập trở lại tới
vạch đỏ nguyên thủy, thì cái mặt nạ ấy lập tức rơi xuống: nó bộc lộ ra hoàn
toàn trần trụi: con người tiền sử ăn lông ở lỗ trong toàn bộ sự phóng túng
của các dục vọng buông thả."
Khái niệm văn hoá lúc này được một số người gắn liền với chúng
tâm thần và sự đồi trụy, và từ tính man rợ, hoang dã của con người bản
năng người ta hy vọng có được những xung động mới cho văn hoá. Bản
thân Freud cũng đã phải đấu tranh không ngừng chống lại những lối tư duy
dung tục hóa đó, chẳng hạn chủ nghiã chủng tộc. Cuộc đấu tranh của Freud
chống lại những võ đoán nảy sinh trong thời đại ông là điều kiện chủ yếu
cho những phát hiện của ông. Thành tựu đó đặc biệt rõ khi đem so sánh
Freud với Otto Weininger hoặc với C. G. Jung. Niềm tin có tính Lamarck
luận của ông về tính kế thừa các thuộc tính di truyền chính là nền tảng lý
thuyết của chủ nghiã chủng tộc sau này, cái đã cho phép tiếp nhận tinh thần
https://thuviensach.vn
chủng tộc một chiều, điều Freud cũng đã làm trong tác phẩm Tâm lý học
đại chúng và phân tích cái tôi (1921). Quan niệm đó đưa ông gần lại với C.G. Jung khi ông "đặt sự tiếp nhận tâm lý đại chúng làm nền tảng, trong đó
các quá trình tinh thần cũng được hoàn thiện như ở cuộc sống tinh thần của
một cá nhân".
Các học giả theo chủ nghĩa hiện sinh (Existentialism) lại tìm cách
hỗn dung các quan điểm phân tâm học về văn hoá và nhân cách với chủ
nghĩa Mác. Chính J. P. Sartre, đại biểu nổi tiếng nhất của chủ nghĩa hiện
sinh trong thời hiện đại cũng đã phải thừa nhận tính thuyết phục của chủ
nghĩa Mác và đề nghị một chỗ đứng cho chủ nghĩa hiện sinh và nhân học
cấu trúc bên trong chủ nghĩa Mác. Ông viết: “Một vấn đề đặt ra ngày nay
chúng ta có cách tạo nên một nhân loại học mang tính cấu trúc và tính lịch
sử chăng? Nhân loại học có chỗ của nó bên trong chủ nghĩa Mác, bởi vì tôi
coi chủ nghĩa Mác như triết học không thể vượt qua được của thời đại
chúng ta và bởi vì tôi coi lí thuyết về hiện sinh và phương pháp hiểu biết
của nó như một đại địa (enclave) nằm hên trong chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa
này vừa tạo ra nó lại vừa từ chối nó". Ý kiến của J. P. Sartre về chỗ đứng
cho nhân học cấu trúc-hình thái (Morphological Anthropology) nay đã trở
thành hiện thực trong các quốc gia thực hiện chính sách đổi mới. Điều đó
cũng không có gì lạ, giống như học thuyết về di truyền từ chỗ được coi là
kẻ thù đã biến thành nhân tố chủ lực trong khoa học thế giới.
5. VẬT TỔ VÀ CẤM KỊ DƯỚI ÁNH SÁNG CHỦ NGHĨA MÁC
Cũng giống như số phận các công trình khác của mình. Vật tổ và
cấm kị bị phần lớn các nhà lí luận Mác-xit sau này khước từ, coi là duy tâm
chủ quan và nguồn gốc của tư sản suy đồi. Trần Đức Thảo viết: "Do đó mà
học thuyết tâm phân đứng trước tình trạng không có năng lực hiểu đời sống
người trong bản chất hiện thực của nó là bản chất xã hội tính, cơ sở thực sự
của các tâm thần cá nhân." Yêu cầu đánh giá lại này vốn bắt đầu từ những
năm sáu mươi. Các nhà lí luận Mác-xít ở Tây Âu đã nhận thấy rằng việc
lên án phân tâm học theo quan điểm ý thức hệ đã làm cho nó không có chỗ
lưu trú trong thế giới tinh thần của những người cộng sản. Vào tháng 5.
https://thuviensach.vn
1968, những người Mác-xít châu Âu đã tiến hành một cuộc hội thảo lớn
mang tên Chủ nghĩa Mác và phân tâm học do tạp chí Phê bình mới
(Nouvelle Critique) ở Pháp tổ chức. Tham gia cuộc hội thảo có nhiều nhà
nghiên cứu Mác-xít đồng thời là nhà phân tâm học, như Bernard Muldworf.
Người ta nói nhiều đến giá trị nhận thức của phân tâm học nói chung và các
tác phẩm của Freud nói riêng trong đời sống văn hoá tinh thần ngày nay.
Có ý kiến nhận định đa số người Mác-xít Pháp cho rằng phê bình phân tâm
học dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác có thể làm xuất lộ những hạt nhân chân lí
khoa hoc của lí thuyết Freud về vô thức. Nếu ta so sánh các luận điểm của
Freud với các luận điểm của chủ nghĩa Mác về nguồn gốc của ý thức và của
tôn giáo, chúng ta sẽ phát hiện ra hàng loạt sự tương đồng, ít nhất là về
hình thức.
Về nguồn gốc của ý thức, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đánh giá
vai trò quyết định của lao động-sản xuất, tức là của hành động, như Engels
viết: "Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống của con
người, hơn nữa là đến một mức mà trên một ý nghĩa nà đó, chúng ta phải
nói: lao động đã tạo ra chính bản thân con người", thì trong tác phẩm của
Freud, chúng ta đọc thấy luận đề của ông: "Người nguyên thủy không biết
xấu hổ, ý nghĩ được chuyển ngay thành hành động, hành động đến lượt nó
cũng là sự thay thế cho ý nghĩ, và về vấn đề đó tôi nghĩ rằng [...]: Khởi đầu
chính là hành động”. Không thể xác định được đó có phải là nhận thức mà
ông tiếp thu được từ chủ nghĩa Marx hay không, vì tư tưởng duy vật lịch sử
"khởi đầu chính là hành động" đối với ý thức con người không phải chỉ đến
Marx và Engels mới được phát hiện ra, mà nó đã được nhà khai sáng vĩ đại
của dân tộc Đức J.W.Goethe láy đi láy lại nhiều lần như một tư tưởng chủ
đ...
 









Các ý kiến mới nhất