Phân tích bài thơ "Xuân tha hương" (Nguyễn Bính)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Gia Bảo
Ngày gửi: 14h:34' 25-05-2025
Dung lượng: 14.9 KB
Số lượt tải: 15
Nguồn:
Người gửi: Trần Gia Bảo
Ngày gửi: 14h:34' 25-05-2025
Dung lượng: 14.9 KB
Số lượt tải: 15
Số lượt thích:
0 người
Xuân tha hương
(Nguyễn Bính)
Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng
Ôi, chị một em, em một chị
Trời làm xa cách mấy con sông
Em đi trăng gió đời sương gió
Chị ở vuông tròn phận lãnh cung
Chén rượu tha hương, giời: đắng lắm
Trăm hờn nghìn giận một mùa đông
Chiều nay ngồi ngắm hoàng hôn xuống
Nhớ chị làm sao, nhớ lạ lùng!
Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng
Vườn ai thấp thoáng hoa đào nở
Chị vẫn môi son vẫn má hồng?
Áo rét ai đan mà ngóng đợi
Còn vài hôm nữa hết mùa đông!
Cột nhà hàng xóm lên câu đối
Em đọc tương tư giữa giấy hồng
Gạo nếp nơi đây sao trắng quá
Mỗi ngày phiên chợ lại thêm đông
Thiên hạ đua nhau mà sắm Tết
Một mình em vẫn cứ tay không
Vườn nhà Tết đến hoa còn nở
Chị gửi cho em một cánh hồng
(Tha hương chẳng gặp người tri kỷ
Một cánh hoa tươi đã lạnh lòng)
Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng
Chao ơi, Tết đến em không được
Trông thấy quê hương thật não nùng
Ai bảo mắc duyên vào bút mực
Sòng đời mang lấy số long đong
Người ta đi kiếm giàu sang cả
Mình chỉ mơ hoài chuyện viễn vông
Em biết giàu sang đâu đến lượt
Nợ đời nặng quá gỡ sao xong?
Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng
Tết này, ô thế mà vui chán
Nhưng một mình em uống rượu nồng
Rượu cay nhớ chị hồi con gái
Thương chị từ khi chị lấy chồng
Cố nhân chẳng biết làm sao ấy
Rặt những tin đồn chuyện bướm ong
Thôi, em chẳng dám đa mang nữa
Chẳng buộc vào chân sợi chỉ hồng
Nàng bèo bọt quá, em lăn lóc
Chấp nối nhau hoài cũng uổng công!
(Một trăm con gái đời nay ấy
Đừng nói ân tình với thuỷ chung!)
Người ấy xuân già chê gối lẻ
Nên càng nôn nả chuyện sang sông
Đò ngang bến dọc tha hồ đấy
Quý hoá gì đâu một chữ đồng!
Vâng, em trẻ dại, em đâu dám
Thôi, để người ta được kén chồng
Thiếu nữ hoài xuân mơ cát sĩ
Chịu làm sao được những đêm đông
(Khốn nạn, tưởng yêu thì khó chứ
Không yêu thì thực dễ như không!)
Chị ơi, Tết đến em mua rượu
Em uống cho say đến não lòng
Uống say cười vỡ ba gian gác
Ném cái chung tình xuống đáy sông
Thiên hạ “Chi nghinh Nam Bắc điểu”
Tình đời “Diệp tống vãng lai phong”
Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một chút lòng
Sương muối gió may rầu rĩ lắm
Còn vài hôm nữa hết mùa đông
Xuân đến cho em thêm một tuổi
Thế nào em cũng phải thành công
Em không khóc nữa, không buồn nữa
Đây một bài thơ hận cuối cùng
Không than chắc hẳn hồn tươi lại
Không khóc tha hồ đôi mắt trong
Chị ơi, Em Cưới Mùa Xuân nhé?
Đốt pháo cho thơm với rượu hồng
Xa nhà xa chị tuy buồn thật
Cũng cố vui ngang gái được chồng
Em sẽ uống say hơn mọi bận
Cho hồn về tận xứ Hà Đông.
Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng
Với lá thư này là tất cả
Những lời tâm sự một đêm đông
Thôn gà eo óc ngoài xa vắng
Trời đất tàn canh tối mịt mùng
Đêm nay em thức thi cùng nến
Ai biết tình em với núi sông
Mấy sông mấy núi mà xa được
Lòng chị em ta vẫn một lòng
Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng
Cầu mong cho chị vui như Tết
Tóc chị bền xanh, má chị hồng
Trong mùa nắng mới sầu không đến
Giữa hội hoa tươi ấm lại lòng
Chắc chị đời nào quên nhắc nhở:
- Xa nhà, rượu uống có say không?
(Huế, tháng chạp năm Nhâm Ngọ 1942)
* Bài thơ trên ở bản in lần đầu trong "Mười hai bến nước" (1942) dài 100 câu, nhưng bản in
trong "Nước giếng thơi" (1957) được rút gọn còn 46 câu.
* "Thiên hạ “Chi nghinh Nam Bắc điểu” / Tình đời “Diệp tống vãng lai phong”": Có bản không
in hai câu này. Hai câu trích dẫn là thơ của Tiết Đào 薛濤 (768-831), nữ thi nhân thời Trung
Đường (Trung Quốc), câu trước có nghĩa “Cành đón tiếp chim chóc từ mọi hướng tới đậu”, câu
sau có nghĩa “Lá tiễn đưa các cơn gió thổi qua lại”.
* Nguyễn Bính, tên thật là Nguyễn Trọng Bính (1918-1966), sinh tại Nam Định. Mồ côi mẹ, tự
học và bắt đầu làm thơ từ năm 13 tuổi. Ông nổi tiếng với phong cách thơ "chân quê", giản dị,
mộc mạc, đậm chất ca dao và tình cảm lãng mạn về làng quê. Ông từng được giải khuyến khích
của Tự lực văn đoàn năm 1937. Tham gia kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, sau đó tập kết ra
Bắc và làm việc tại Hội văn nghệ Việt Nam. Ông còn là chủ bút báo Trăm hoa. Mặc dù nhiều tài
liệu ghi ông mất tại Hà Nội, nhà văn Vũ Bão lại cho rằng ông qua đời tại Hà Nam. Các tác
phẩm tiêu biểu của ông bao gồm các tập thơ như "Tâm hồn tôi", "Lỡ bước sang ngang",
"Chân quê", "Hương cố nhân", và các truyện thơ, kịch thơ, chèo cổ khác. Thơ Nguyễn Bính
được Giáo sư Lê Đình Kỵ đánh giá cao về yếu tố ca dao trong cả cảm xúc và tư duy.
(*) Giới thiệu bài thơ (nhan đề, tác giả) và nêu ấn tượng chung về bài thơ:
- "Xuân tha hương" của Nguyễn Bính, sáng tác vào tháng chạp năm Nhâm Ngọ (1942) tại
Huế, là một khúc tự tình đầy xúc động của người con xa quê mỗi độ xuân về. Bài thơ mang
đậm dấu ấn phong cách chân quê, mộc mạc của Nguyễn Bính, đồng thời thể hiện sâu sắc nỗi
nhớ nhà, nhớ người thân, đặc biệt là người chị nơi quê nhà, cùng những tâm sự riêng tư về
tình duyên và cuộc đời. Ấn tượng chung về bài thơ là sự hòa quyện giữa nỗi buồn xa xứ da
diết và khát vọng về một tương lai tươi sáng hơn, tất cả được thể hiện qua ngôn ngữ thơ giản
dị, giàu hình ảnh và nhạc điệu.
(*) Trình bày cảm nghĩ về nội dung (mạch cảm xúc, chủ đề, thông điệp,....) của bài thơ:
- Mạch cảm xúc:
+ Mạch cảm xúc của bài thơ diễn tiến một cách tự nhiên và sâu lắng, như một dòng chảy tâm
tư không ngừng:
-> Nỗi nhớ nhà da diết: Xuyên suốt bài thơ là nỗi nhớ quê hương, nhớ chị da diết, đặc biệt
trỗi dậy mạnh mẽ mỗi khi Tết đến xuân về. Câu thơ "Tết này chưa chắc em về được" lặp đi
lặp lại như một lời than nghẹn ngào, khắc sâu sự khắc khoải trong lòng người đọc. Hình ảnh
"Chiều nay ngồi ngắm hoàng hôn xuống / Nhớ chị làm sao, nhớ lạ lùng!" diễn tả một nỗi nhớ
cụ thể, cồn cào khi đối diện với khoảnh khắc gợi buồn của đất trời.
-> Sự cô đơn, lạc lõng: Sống giữa chốn tha hương, người em cảm thấy cô đơn, lạc lõng giữa
không khí náo nức sắm Tết của mọi người ("Thiên hạ đua nhau mà sắm Tết / Một mình em
vẫn cứ tay không"). Nỗi cô đơn càng nhân lên khi không có người tri kỷ để sẻ chia ("Tha
hương chẳng gặp người tri kỷ / Một cánh hoa tươi đã lạnh lòng").
Những trăn trở về duyên phận: Bài thơ còn thể hiện những suy tư về tình duyên lận đận ("Ai
bảo mắc duyên vào bút mực / Sòng đời mang lấy số long đong"). Người em tự ý thức được sự
khác biệt của mình so với những người khác, chấp nhận số phận long đong và có phần bi
quan về tình yêu ("Một trăm con gái đời nay ấy / Đừng nói ân tình với thuỷ chung!").
-> Sự thấu hiểu và thương xót dành cho chị: Tình cảm chị em sâu nặng được thể hiện qua nỗi
nhớ và sự lo lắng cho chị ở quê nhà ("Chị vẫn môi son vẫn má hồng?", "Áo rét ai đan mà
ngóng đợi"). Người em thấu hiểu nỗi cô đơn của chị ("Chị ở vuông tròn phận lãnh cung") và
gửi gắm những lời chúc tốt đẹp đến chị ("Cầu mong cho chị vui như Tết / Tóc chị bền xanh,
má chị hồng").
-> Niềm hy vọng và khát khao đổi thay: Ở những khổ cuối, đặc biệt là khổ 6, xuất hiện một
thoáng niềm hy vọng và ý chí vươn lên ("Xuân đến cho em thêm một tuổi / Thế nào em cũng
phải thành công"). Quyết định "Em Cưới Mùa Xuân nhé?" có thể là một cách để người em
tìm kiếm một bến đỗ mới, một sự thay đổi trong cuộc đời cô đơn. Tuy nhiên, ẩn sau đó vẫn là
nỗi buồn xa quê, nhớ chị ("Xa nhà xa chị tuy buồn thật / Cũng cố vui ngang gái được
chồng").
-> Sự bất lực và buông xuôi: Xen lẫn niềm hy vọng là sự bất lực trước những ngang trái của
cuộc đời, thể hiện qua hành động muốn quên đi những đau khổ ("Uống say cười vỡ ba gian
gác / Ném cái chung tình xuống đáy sông").
- Chủ đề:
+ Chủ đề chính của bài thơ là nỗi nhớ quê hương và tình thân trong cảnh ngộ xa xứ. Bên cạnh
đó, bài thơ còn đề cập đến những chủ đề khác như:
-> Sự cô đơn và lạc lõng của người tha hương.
-> Những trăn trở về duyên phận và hạnh phúc cá nhân.
-> Tình cảm gia đình thiêng liêng, đặc biệt là tình chị em.
-> Khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn.
- Thông điệp:
+ Bài thơ "Xuân tha hương" gửi gắm nhiều thông điệp sâu sắc:
-> Giá trị của tình thân và quê hương: Dù ở đâu, tình cảm gia đình và quê hương vẫn là
những điều thiêng liêng, là điểm tựa tinh thần vững chắc cho mỗi người. Sự xa cách càng làm
cho những tình cảm ấy thêm trân trọng.
-> Sự đồng cảm với những người con xa xứ: Bài thơ khơi gợi sự đồng cảm, thấu hiểu đối với
những người phải rời xa quê hương, đặc biệt trong những dịp lễ Tết sum vầy.
-> Sức mạnh của nỗi nhớ: Nỗi nhớ không chỉ là một cảm xúc buồn bã mà còn là động lực để
con người hướng về nguồn cội, tìm kiếm sự kết nối và sẻ chia.
-> Sự phức tạp của tình cảm con người: Bài thơ cho thấy những cung bậc cảm xúc đa dạng,
từ nỗi buồn, cô đơn đến hy vọng, thậm chí cả sự buông xuôi, thể hiện sự phức tạp trong tâm
hồn con người khi đối diện với những khó khăn của cuộc sống.
(*) Nêu cảm nghĩ về những yếu tố nghệ thuật và tác dụng của chúng trong việc biểu đạt nội
dung; nêu tác dụng của thể thơ bảy chữ trong việc tạo nên nét đặc sắc của bài thơ:
- Cảm nghĩ về những yếu tố nghệ thuật và tác dụng của chúng:
+ Thể thơ bảy chữ: Thể thơ này với nhịp điệu chậm rãi, uyển chuyển, tạo nên một giọng điệu
tâm tình, da diết, phù hợp để diễn tả những nỗi niềm sâu kín của nhân vật trữ tình. Mỗi dòng
thơ như một lời than thở nhẹ nhàng, khắc khoải. Sự đều đặn trong số chữ ở mỗi dòng cũng
góp phần tạo nên sự cân đối, hài hòa cho toàn bài, như chính nỗi lòng cố gắng kìm nén những
cảm xúc trào dâng.
+ Điệp ngữ "Tết này chưa chắc em về được": Câu thơ này được lặp lại nhiều lần ở đầu mỗi
khổ thơ, tạo thành một điệp khúc buồn bã, nhấn mạnh vào hoàn cảnh éo le, sự xa cách và nỗi
thất vọng của người con không thể trở về quê hương sum vầy trong dịp Tết. Mỗi lần điệp lại,
nó như một tiếng thở dài, một nỗi niềm day dứt không nguôi.
+ Hình ảnh thơ đậm chất quê hương: Nguyễn Bính đã khéo léo sử dụng những hình ảnh quen
thuộc, mang đậm dấu ấn của làng quê Việt Nam như "vườn ai thấp thoáng hoa đào nở", "cột
nhà hàng xóm lên câu đối", "gạo nếp", "phiên chợ", "hoa còn nở", "thôn gà eo óc ngoài xa
vắng". Những hình ảnh này không chỉ gợi lên khung cảnh Tết đến xuân về mà còn khơi gợi
nỗi nhớ da diết về quê hương, về những điều thân thuộc đã ăn sâu vào tâm trí người xa xứ.
+ Sử dụng các biện pháp tu từ:
-> So sánh: "Chị ở vuông tròn phận lãnh cung" gợi lên hình ảnh người chị cô đơn, buồn bã
như người sống trong cung cấm.
-> Ẩn dụ: "Một cánh hoa tươi đã lạnh lòng" diễn tả sự cô đơn, hụt hẫng của người con xa xứ
khi không tìm được người đồng cảm. "Chén rượu tha hương" ẩn dụ cho nỗi buồn, sự cô đơn
nơi đất khách.
-> Câu hỏi tu từ: "Chị vẫn môi son vẫn má hồng?" thể hiện sự quan tâm, lo lắng của người
em dành cho chị, đồng thời gợi lên sự hoài niệm về những hình ảnh tươi đẹp của người thân ở
quê nhà.
-> Lời than: "Ôi, chị một em, em một chị/Trời làm xa cách mấy con sông", "Chao ơi, Tết đến
em không được/Trông thấy quê hương thật não nùng", "Khốn nạn, tưởng yêu thì khó
chứ/Không yêu thì thực dễ như không!" thể hiện trực tiếp những cảm xúc buồn bã, xót xa, bất
lực của nhân vật trữ tình.
+ Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc: Nguyễn Bính sử dụng ngôn ngữ đời thường, gần gũi với
lời ăn tiếng nói của người dân quê. Điều này tạo nên sự chân thật, tự nhiên cho bài thơ, giúp
người đọc dễ dàng đồng cảm với tâm trạng của nhân vật.
+ Sự thay đổi trong giọng điệu: Mặc dù xuyên suốt bài thơ là nỗi buồn nhớ, nhưng ở những
khổ cuối, đặc biệt là khổ 6, giọng điệu có sự chuyển biến. Người em bày tỏ ý định "Em Cưới
Mùa Xuân nhé?", thể hiện một niềm hy vọng, một sự thay đổi trong cuộc sống. Tuy nhiên,
ngay sau đó lại là những dòng thơ đầy chua xót, bất lực trong tình duyên. Sự thay đổi này cho
thấy sự phức tạp trong tâm trạng của nhân vật, vừa muốn thoát khỏi nỗi cô đơn nhưng vẫn
còn nhiều trăn trở.
- Tác dụng của thể thơ bảy chữ trong việc tạo nên nét đặc sắc của bài thơ:
+ Thể thơ bảy chữ với kết cấu chặt chẽ, nhịp điệu hài hòa đã góp phần quan trọng tạo nên nét
đặc sắc cho "Xuân tha hương":
-> Tạo nhịp điệu chậm rãi, sâu lắng: Số lượng chữ vừa phải trong mỗi dòng tạo điều kiện cho
việc diễn tả những cảm xúc nhẹ nhàng, sâu kín một cách từ tốn, thấm thía.
-> Dễ dàng truyền tải tâm trạng: Với khả năng diễn đạt linh hoạt, thể thơ bảy chữ giúp tác giả
dễ dàng thể hiện những cung bậc cảm xúc khác nhau, từ nỗi nhớ nhung da diết, sự cô đơn
buồn bã đến những suy tư về cuộc đời, tình duyên.
-> Gần gũi với dân ca, ca dao: Thể thơ này mang âm hưởng của ca dao, dân ca, tạo nên sự
gần gũi, thân thuộc với độc giả, đồng thời góp phần thể hiện vẻ đẹp truyền thống của văn hóa
Việt Nam.
-> Tính nhạc cao: Sự cân đối về số chữ và cách gieo vần (vần chân) tạo nên âm hưởng nhịp
nhàng, du dương cho bài thơ, dễ đi vào lòng người đọc.
=> Tóm lại, Nguyễn Bính đã sử dụng một cách nhuần nhuyễn và tài tình các yếu tố nghệ
thuật, đặc biệt là thể thơ bảy chữ, để diễn tả một cách sâu sắc và xúc động nỗi lòng của người
con xa xứ trong những ngày Tết đến. Bài thơ không chỉ là tiếng lòng của một cá nhân mà còn
là tiếng lòng chung của những người con xa quê, luôn hướng về cội nguồn và những người
thân yêu.
(*) Khái quát cảm nghĩ về bài thơ:
Tóm lại, bài thơ "Xuân tha hương" của Nguyễn Bính đã khắc họa một cách chân thực và xúc
động nỗi nhớ nhà da diết, sự cô đơn lạc lõng của người con xa xứ cùng những trăn trở về
cuộc đời trong khoảnh khắc giao mùa. Dẫu vậy, ẩn sâu trong đó vẫn le lói niềm hy vọng và
tình cảm gia đình sâu nặng, tạo nên một khúc ca vừa buồn bã, vừa ấm áp. Bài thơ không chỉ
chạm đến trái tim của những người con xa quê mà còn gợi lên trong lòng mỗi chúng ta sự
trân trọng những giá trị gia đình và quê hương. Như nhà thơ Tản Đà từng ngậm ngùi:
"Khách không nhà, xuân một đóa tường vi". Câu thơ ấy càng làm nổi bật thêm nỗi niềm khắc
khoải của những người con xa xứ mỗi độ xuân về, khi mà hạnh phúc sum vầy dường như trở
nên xa vời hơn bao giờ hết.
(Nguyễn Bính)
Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng
Ôi, chị một em, em một chị
Trời làm xa cách mấy con sông
Em đi trăng gió đời sương gió
Chị ở vuông tròn phận lãnh cung
Chén rượu tha hương, giời: đắng lắm
Trăm hờn nghìn giận một mùa đông
Chiều nay ngồi ngắm hoàng hôn xuống
Nhớ chị làm sao, nhớ lạ lùng!
Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng
Vườn ai thấp thoáng hoa đào nở
Chị vẫn môi son vẫn má hồng?
Áo rét ai đan mà ngóng đợi
Còn vài hôm nữa hết mùa đông!
Cột nhà hàng xóm lên câu đối
Em đọc tương tư giữa giấy hồng
Gạo nếp nơi đây sao trắng quá
Mỗi ngày phiên chợ lại thêm đông
Thiên hạ đua nhau mà sắm Tết
Một mình em vẫn cứ tay không
Vườn nhà Tết đến hoa còn nở
Chị gửi cho em một cánh hồng
(Tha hương chẳng gặp người tri kỷ
Một cánh hoa tươi đã lạnh lòng)
Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng
Chao ơi, Tết đến em không được
Trông thấy quê hương thật não nùng
Ai bảo mắc duyên vào bút mực
Sòng đời mang lấy số long đong
Người ta đi kiếm giàu sang cả
Mình chỉ mơ hoài chuyện viễn vông
Em biết giàu sang đâu đến lượt
Nợ đời nặng quá gỡ sao xong?
Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng
Tết này, ô thế mà vui chán
Nhưng một mình em uống rượu nồng
Rượu cay nhớ chị hồi con gái
Thương chị từ khi chị lấy chồng
Cố nhân chẳng biết làm sao ấy
Rặt những tin đồn chuyện bướm ong
Thôi, em chẳng dám đa mang nữa
Chẳng buộc vào chân sợi chỉ hồng
Nàng bèo bọt quá, em lăn lóc
Chấp nối nhau hoài cũng uổng công!
(Một trăm con gái đời nay ấy
Đừng nói ân tình với thuỷ chung!)
Người ấy xuân già chê gối lẻ
Nên càng nôn nả chuyện sang sông
Đò ngang bến dọc tha hồ đấy
Quý hoá gì đâu một chữ đồng!
Vâng, em trẻ dại, em đâu dám
Thôi, để người ta được kén chồng
Thiếu nữ hoài xuân mơ cát sĩ
Chịu làm sao được những đêm đông
(Khốn nạn, tưởng yêu thì khó chứ
Không yêu thì thực dễ như không!)
Chị ơi, Tết đến em mua rượu
Em uống cho say đến não lòng
Uống say cười vỡ ba gian gác
Ném cái chung tình xuống đáy sông
Thiên hạ “Chi nghinh Nam Bắc điểu”
Tình đời “Diệp tống vãng lai phong”
Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một chút lòng
Sương muối gió may rầu rĩ lắm
Còn vài hôm nữa hết mùa đông
Xuân đến cho em thêm một tuổi
Thế nào em cũng phải thành công
Em không khóc nữa, không buồn nữa
Đây một bài thơ hận cuối cùng
Không than chắc hẳn hồn tươi lại
Không khóc tha hồ đôi mắt trong
Chị ơi, Em Cưới Mùa Xuân nhé?
Đốt pháo cho thơm với rượu hồng
Xa nhà xa chị tuy buồn thật
Cũng cố vui ngang gái được chồng
Em sẽ uống say hơn mọi bận
Cho hồn về tận xứ Hà Đông.
Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng
Với lá thư này là tất cả
Những lời tâm sự một đêm đông
Thôn gà eo óc ngoài xa vắng
Trời đất tàn canh tối mịt mùng
Đêm nay em thức thi cùng nến
Ai biết tình em với núi sông
Mấy sông mấy núi mà xa được
Lòng chị em ta vẫn một lòng
Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng
Cầu mong cho chị vui như Tết
Tóc chị bền xanh, má chị hồng
Trong mùa nắng mới sầu không đến
Giữa hội hoa tươi ấm lại lòng
Chắc chị đời nào quên nhắc nhở:
- Xa nhà, rượu uống có say không?
(Huế, tháng chạp năm Nhâm Ngọ 1942)
* Bài thơ trên ở bản in lần đầu trong "Mười hai bến nước" (1942) dài 100 câu, nhưng bản in
trong "Nước giếng thơi" (1957) được rút gọn còn 46 câu.
* "Thiên hạ “Chi nghinh Nam Bắc điểu” / Tình đời “Diệp tống vãng lai phong”": Có bản không
in hai câu này. Hai câu trích dẫn là thơ của Tiết Đào 薛濤 (768-831), nữ thi nhân thời Trung
Đường (Trung Quốc), câu trước có nghĩa “Cành đón tiếp chim chóc từ mọi hướng tới đậu”, câu
sau có nghĩa “Lá tiễn đưa các cơn gió thổi qua lại”.
* Nguyễn Bính, tên thật là Nguyễn Trọng Bính (1918-1966), sinh tại Nam Định. Mồ côi mẹ, tự
học và bắt đầu làm thơ từ năm 13 tuổi. Ông nổi tiếng với phong cách thơ "chân quê", giản dị,
mộc mạc, đậm chất ca dao và tình cảm lãng mạn về làng quê. Ông từng được giải khuyến khích
của Tự lực văn đoàn năm 1937. Tham gia kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, sau đó tập kết ra
Bắc và làm việc tại Hội văn nghệ Việt Nam. Ông còn là chủ bút báo Trăm hoa. Mặc dù nhiều tài
liệu ghi ông mất tại Hà Nội, nhà văn Vũ Bão lại cho rằng ông qua đời tại Hà Nam. Các tác
phẩm tiêu biểu của ông bao gồm các tập thơ như "Tâm hồn tôi", "Lỡ bước sang ngang",
"Chân quê", "Hương cố nhân", và các truyện thơ, kịch thơ, chèo cổ khác. Thơ Nguyễn Bính
được Giáo sư Lê Đình Kỵ đánh giá cao về yếu tố ca dao trong cả cảm xúc và tư duy.
(*) Giới thiệu bài thơ (nhan đề, tác giả) và nêu ấn tượng chung về bài thơ:
- "Xuân tha hương" của Nguyễn Bính, sáng tác vào tháng chạp năm Nhâm Ngọ (1942) tại
Huế, là một khúc tự tình đầy xúc động của người con xa quê mỗi độ xuân về. Bài thơ mang
đậm dấu ấn phong cách chân quê, mộc mạc của Nguyễn Bính, đồng thời thể hiện sâu sắc nỗi
nhớ nhà, nhớ người thân, đặc biệt là người chị nơi quê nhà, cùng những tâm sự riêng tư về
tình duyên và cuộc đời. Ấn tượng chung về bài thơ là sự hòa quyện giữa nỗi buồn xa xứ da
diết và khát vọng về một tương lai tươi sáng hơn, tất cả được thể hiện qua ngôn ngữ thơ giản
dị, giàu hình ảnh và nhạc điệu.
(*) Trình bày cảm nghĩ về nội dung (mạch cảm xúc, chủ đề, thông điệp,....) của bài thơ:
- Mạch cảm xúc:
+ Mạch cảm xúc của bài thơ diễn tiến một cách tự nhiên và sâu lắng, như một dòng chảy tâm
tư không ngừng:
-> Nỗi nhớ nhà da diết: Xuyên suốt bài thơ là nỗi nhớ quê hương, nhớ chị da diết, đặc biệt
trỗi dậy mạnh mẽ mỗi khi Tết đến xuân về. Câu thơ "Tết này chưa chắc em về được" lặp đi
lặp lại như một lời than nghẹn ngào, khắc sâu sự khắc khoải trong lòng người đọc. Hình ảnh
"Chiều nay ngồi ngắm hoàng hôn xuống / Nhớ chị làm sao, nhớ lạ lùng!" diễn tả một nỗi nhớ
cụ thể, cồn cào khi đối diện với khoảnh khắc gợi buồn của đất trời.
-> Sự cô đơn, lạc lõng: Sống giữa chốn tha hương, người em cảm thấy cô đơn, lạc lõng giữa
không khí náo nức sắm Tết của mọi người ("Thiên hạ đua nhau mà sắm Tết / Một mình em
vẫn cứ tay không"). Nỗi cô đơn càng nhân lên khi không có người tri kỷ để sẻ chia ("Tha
hương chẳng gặp người tri kỷ / Một cánh hoa tươi đã lạnh lòng").
Những trăn trở về duyên phận: Bài thơ còn thể hiện những suy tư về tình duyên lận đận ("Ai
bảo mắc duyên vào bút mực / Sòng đời mang lấy số long đong"). Người em tự ý thức được sự
khác biệt của mình so với những người khác, chấp nhận số phận long đong và có phần bi
quan về tình yêu ("Một trăm con gái đời nay ấy / Đừng nói ân tình với thuỷ chung!").
-> Sự thấu hiểu và thương xót dành cho chị: Tình cảm chị em sâu nặng được thể hiện qua nỗi
nhớ và sự lo lắng cho chị ở quê nhà ("Chị vẫn môi son vẫn má hồng?", "Áo rét ai đan mà
ngóng đợi"). Người em thấu hiểu nỗi cô đơn của chị ("Chị ở vuông tròn phận lãnh cung") và
gửi gắm những lời chúc tốt đẹp đến chị ("Cầu mong cho chị vui như Tết / Tóc chị bền xanh,
má chị hồng").
-> Niềm hy vọng và khát khao đổi thay: Ở những khổ cuối, đặc biệt là khổ 6, xuất hiện một
thoáng niềm hy vọng và ý chí vươn lên ("Xuân đến cho em thêm một tuổi / Thế nào em cũng
phải thành công"). Quyết định "Em Cưới Mùa Xuân nhé?" có thể là một cách để người em
tìm kiếm một bến đỗ mới, một sự thay đổi trong cuộc đời cô đơn. Tuy nhiên, ẩn sau đó vẫn là
nỗi buồn xa quê, nhớ chị ("Xa nhà xa chị tuy buồn thật / Cũng cố vui ngang gái được
chồng").
-> Sự bất lực và buông xuôi: Xen lẫn niềm hy vọng là sự bất lực trước những ngang trái của
cuộc đời, thể hiện qua hành động muốn quên đi những đau khổ ("Uống say cười vỡ ba gian
gác / Ném cái chung tình xuống đáy sông").
- Chủ đề:
+ Chủ đề chính của bài thơ là nỗi nhớ quê hương và tình thân trong cảnh ngộ xa xứ. Bên cạnh
đó, bài thơ còn đề cập đến những chủ đề khác như:
-> Sự cô đơn và lạc lõng của người tha hương.
-> Những trăn trở về duyên phận và hạnh phúc cá nhân.
-> Tình cảm gia đình thiêng liêng, đặc biệt là tình chị em.
-> Khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn.
- Thông điệp:
+ Bài thơ "Xuân tha hương" gửi gắm nhiều thông điệp sâu sắc:
-> Giá trị của tình thân và quê hương: Dù ở đâu, tình cảm gia đình và quê hương vẫn là
những điều thiêng liêng, là điểm tựa tinh thần vững chắc cho mỗi người. Sự xa cách càng làm
cho những tình cảm ấy thêm trân trọng.
-> Sự đồng cảm với những người con xa xứ: Bài thơ khơi gợi sự đồng cảm, thấu hiểu đối với
những người phải rời xa quê hương, đặc biệt trong những dịp lễ Tết sum vầy.
-> Sức mạnh của nỗi nhớ: Nỗi nhớ không chỉ là một cảm xúc buồn bã mà còn là động lực để
con người hướng về nguồn cội, tìm kiếm sự kết nối và sẻ chia.
-> Sự phức tạp của tình cảm con người: Bài thơ cho thấy những cung bậc cảm xúc đa dạng,
từ nỗi buồn, cô đơn đến hy vọng, thậm chí cả sự buông xuôi, thể hiện sự phức tạp trong tâm
hồn con người khi đối diện với những khó khăn của cuộc sống.
(*) Nêu cảm nghĩ về những yếu tố nghệ thuật và tác dụng của chúng trong việc biểu đạt nội
dung; nêu tác dụng của thể thơ bảy chữ trong việc tạo nên nét đặc sắc của bài thơ:
- Cảm nghĩ về những yếu tố nghệ thuật và tác dụng của chúng:
+ Thể thơ bảy chữ: Thể thơ này với nhịp điệu chậm rãi, uyển chuyển, tạo nên một giọng điệu
tâm tình, da diết, phù hợp để diễn tả những nỗi niềm sâu kín của nhân vật trữ tình. Mỗi dòng
thơ như một lời than thở nhẹ nhàng, khắc khoải. Sự đều đặn trong số chữ ở mỗi dòng cũng
góp phần tạo nên sự cân đối, hài hòa cho toàn bài, như chính nỗi lòng cố gắng kìm nén những
cảm xúc trào dâng.
+ Điệp ngữ "Tết này chưa chắc em về được": Câu thơ này được lặp lại nhiều lần ở đầu mỗi
khổ thơ, tạo thành một điệp khúc buồn bã, nhấn mạnh vào hoàn cảnh éo le, sự xa cách và nỗi
thất vọng của người con không thể trở về quê hương sum vầy trong dịp Tết. Mỗi lần điệp lại,
nó như một tiếng thở dài, một nỗi niềm day dứt không nguôi.
+ Hình ảnh thơ đậm chất quê hương: Nguyễn Bính đã khéo léo sử dụng những hình ảnh quen
thuộc, mang đậm dấu ấn của làng quê Việt Nam như "vườn ai thấp thoáng hoa đào nở", "cột
nhà hàng xóm lên câu đối", "gạo nếp", "phiên chợ", "hoa còn nở", "thôn gà eo óc ngoài xa
vắng". Những hình ảnh này không chỉ gợi lên khung cảnh Tết đến xuân về mà còn khơi gợi
nỗi nhớ da diết về quê hương, về những điều thân thuộc đã ăn sâu vào tâm trí người xa xứ.
+ Sử dụng các biện pháp tu từ:
-> So sánh: "Chị ở vuông tròn phận lãnh cung" gợi lên hình ảnh người chị cô đơn, buồn bã
như người sống trong cung cấm.
-> Ẩn dụ: "Một cánh hoa tươi đã lạnh lòng" diễn tả sự cô đơn, hụt hẫng của người con xa xứ
khi không tìm được người đồng cảm. "Chén rượu tha hương" ẩn dụ cho nỗi buồn, sự cô đơn
nơi đất khách.
-> Câu hỏi tu từ: "Chị vẫn môi son vẫn má hồng?" thể hiện sự quan tâm, lo lắng của người
em dành cho chị, đồng thời gợi lên sự hoài niệm về những hình ảnh tươi đẹp của người thân ở
quê nhà.
-> Lời than: "Ôi, chị một em, em một chị/Trời làm xa cách mấy con sông", "Chao ơi, Tết đến
em không được/Trông thấy quê hương thật não nùng", "Khốn nạn, tưởng yêu thì khó
chứ/Không yêu thì thực dễ như không!" thể hiện trực tiếp những cảm xúc buồn bã, xót xa, bất
lực của nhân vật trữ tình.
+ Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc: Nguyễn Bính sử dụng ngôn ngữ đời thường, gần gũi với
lời ăn tiếng nói của người dân quê. Điều này tạo nên sự chân thật, tự nhiên cho bài thơ, giúp
người đọc dễ dàng đồng cảm với tâm trạng của nhân vật.
+ Sự thay đổi trong giọng điệu: Mặc dù xuyên suốt bài thơ là nỗi buồn nhớ, nhưng ở những
khổ cuối, đặc biệt là khổ 6, giọng điệu có sự chuyển biến. Người em bày tỏ ý định "Em Cưới
Mùa Xuân nhé?", thể hiện một niềm hy vọng, một sự thay đổi trong cuộc sống. Tuy nhiên,
ngay sau đó lại là những dòng thơ đầy chua xót, bất lực trong tình duyên. Sự thay đổi này cho
thấy sự phức tạp trong tâm trạng của nhân vật, vừa muốn thoát khỏi nỗi cô đơn nhưng vẫn
còn nhiều trăn trở.
- Tác dụng của thể thơ bảy chữ trong việc tạo nên nét đặc sắc của bài thơ:
+ Thể thơ bảy chữ với kết cấu chặt chẽ, nhịp điệu hài hòa đã góp phần quan trọng tạo nên nét
đặc sắc cho "Xuân tha hương":
-> Tạo nhịp điệu chậm rãi, sâu lắng: Số lượng chữ vừa phải trong mỗi dòng tạo điều kiện cho
việc diễn tả những cảm xúc nhẹ nhàng, sâu kín một cách từ tốn, thấm thía.
-> Dễ dàng truyền tải tâm trạng: Với khả năng diễn đạt linh hoạt, thể thơ bảy chữ giúp tác giả
dễ dàng thể hiện những cung bậc cảm xúc khác nhau, từ nỗi nhớ nhung da diết, sự cô đơn
buồn bã đến những suy tư về cuộc đời, tình duyên.
-> Gần gũi với dân ca, ca dao: Thể thơ này mang âm hưởng của ca dao, dân ca, tạo nên sự
gần gũi, thân thuộc với độc giả, đồng thời góp phần thể hiện vẻ đẹp truyền thống của văn hóa
Việt Nam.
-> Tính nhạc cao: Sự cân đối về số chữ và cách gieo vần (vần chân) tạo nên âm hưởng nhịp
nhàng, du dương cho bài thơ, dễ đi vào lòng người đọc.
=> Tóm lại, Nguyễn Bính đã sử dụng một cách nhuần nhuyễn và tài tình các yếu tố nghệ
thuật, đặc biệt là thể thơ bảy chữ, để diễn tả một cách sâu sắc và xúc động nỗi lòng của người
con xa xứ trong những ngày Tết đến. Bài thơ không chỉ là tiếng lòng của một cá nhân mà còn
là tiếng lòng chung của những người con xa quê, luôn hướng về cội nguồn và những người
thân yêu.
(*) Khái quát cảm nghĩ về bài thơ:
Tóm lại, bài thơ "Xuân tha hương" của Nguyễn Bính đã khắc họa một cách chân thực và xúc
động nỗi nhớ nhà da diết, sự cô đơn lạc lõng của người con xa xứ cùng những trăn trở về
cuộc đời trong khoảnh khắc giao mùa. Dẫu vậy, ẩn sâu trong đó vẫn le lói niềm hy vọng và
tình cảm gia đình sâu nặng, tạo nên một khúc ca vừa buồn bã, vừa ấm áp. Bài thơ không chỉ
chạm đến trái tim của những người con xa quê mà còn gợi lên trong lòng mỗi chúng ta sự
trân trọng những giá trị gia đình và quê hương. Như nhà thơ Tản Đà từng ngậm ngùi:
"Khách không nhà, xuân một đóa tường vi". Câu thơ ấy càng làm nổi bật thêm nỗi niềm khắc
khoải của những người con xa xứ mỗi độ xuân về, khi mà hạnh phúc sum vầy dường như trở
nên xa vời hơn bao giờ hết.
 









Các ý kiến mới nhất