Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra
sáng kiến môn Mĩ thuật hoạt động nhóm

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thực
Ngày gửi: 14h:37' 19-12-2024
Dung lượng: 161.5 KB
Số lượt tải: 24
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thực
Ngày gửi: 14h:37' 19-12-2024
Dung lượng: 161.5 KB
Số lượt tải: 24
Số lượt thích:
0 người
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số giải pháp dạy học môn Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch
ở lớp 4 nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Mĩ thuật
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Trong công tác dạy và học, người thầy giáo có tâm huyết bao giờ cũng t ập trung vào vi ệc đ ổi m ới
cách dạy và học. Bởi mục tiêu của người thầy luôn chú trọng vào đ ối t ượng ng ười h ọc, giúp ng ười
học hiểu và nhận thức ra vấn đề cần chuyển tải một cách hi ệu qu ả. “Kh ổng T ử “ đã có câu nói r ất
hay: Thầy dạy không biết mỏi, trò học không biết chán. Đạt được như v ậy có nghĩa là ng ười th ầy đã
đổi mới cách dạy - trò đã đổi mới cách học.
Thông thường, việc dạy học Mĩ thuật trong trường tiểu học ở Việt Nam dạy theo phân ph ối
chương trình với các phân môn độc lập như vẽ trang trí, v ẽ theo m ẫu, v ẽ tranh, th ường th ức mĩ
thuật và tập nặn tạo dáng. Với môn học này học sinh chỉ cần một quy ển v ở tập v ẽ, bút chì, h ộp màu
hoặc đất nặn. Điều này cũng giới hạn phần nào s ự hứng thú và sáng t ạo c ủa h ọc sinh. Vi ệc phân
phối các phân môn xen kẽ nhau chủ yếu nhằm mục đích để học sinh không c ảm th ấy nhàm chán
khi học nên sự liên kết giữa bài trước với bài sau thường lỏng lẻo, đôi khi không liên quan. Vi ệc này
hạn chế sự liên tưởng, vận dụng kiến thức cũ vào bài học mới và khó tích h ợp ki ến th ức liên
môn.
So với phương pháp truyền thống, dạy học Mĩ thuật theo phương pháp mới c ủa Đan M ạch có
nhiều ưu điểm trong việc phát huy khả năng sáng tạo c ủa học sinh, ti ết h ọc r ất tho ải mái, sinh đ ộng.
Phương pháp này không chỉ đơn giản là cung c ấp tri thức, hướng d ẫn th ực hành, mà còn phát tri ển
các năng lực toàn diện cho học sinh như: năng lực tr ải nghi ệm, bi ểu đ ạt, phân tích - gi ải thích, trình
bày, giao tiếp - đánh giá, tạo cơ hội cho học sinh thực hành, ứng d ụng trong h ọc t ập và cu ộc s ống.
Trên cơ sở lý thuyết giáo dục và giảng dạy Mĩ thuật, giáo viên sẽ t ổ ch ức d ạy cho các em h ọc Mĩ
thuật qua các hoạt động Vẽ cùng nhau, Vẽ theo nhạc, Vẽ biểu đạt, tạo hình 3D t ừ các v ật tìm đ ược,
Xây dựng cốt truyện... Thông qua các hoạt động tạo hình s ẽ khơi gợi và phát huy đ ược năng khi ếu
thẩm mỹ vốn có ở trẻ, gây hứng thú cho các em trước cái đẹp, tiến t ới hình thành th ị hi ếu th ẩm m ỹ
của học sinh trong cuộc sống. Đây là một chương trình giáo dục Mĩ thu ật Ti ểu h ọc năng đ ộng, phát
huy, rèn luyện được nhiều kỹ năng cho học sinh, đặc biệt là kỹ năng sống, một s ự thay đổi lớn c ả v ề
phương pháp lẫn mục tiêu giáo dục của bộ môn Mĩ thuật ở Tiểu học. Ngoài vi ệc thay đ ổi n ội dung
phân phối chương trình, sự thay đổi hình thức tổ chức lớp học phần lớn được thông qua ho ạt đ ộng
nhóm thì vấn đề để học sinh tiếp thu được kiến thức, phát triển tư duy, sáng tạo ra nh ững s ản ph ẩm
mĩ thuật là một trong những vấn đề trọng tâm khiến giáo viên không kh ỏi tránh đ ược nh ững khó
khăn, vướng mắc. Vì theo phương pháp mới, mỗi chủ đề sẽ thực hiện bằng nhi ều quy trình mĩ thu ật
khác nhau, giáo viên hoàn toàn không hướng dẫn học sinh thực hành mà ch ủ y ếu do h ọc sinh t ự
tìm hiểu vấn đề.
Có thể nói ưu điểm của phương pháp dạy học mới theo dự án SAEPS là tích c ực, mà ở đó h ọc
sinh chủ động, tự lực khai thác tri thức dưới sự hướng dẫn c ủa giáo viên. Các ph ương pháp d ạy
học mới được triển khai trong dự án đã kích thích sự say mê, hứng thú trong h ọc t ập, b ồi d ưỡng
phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ, năng lực tư duy và trí tưởng t ượng c ủa h ọc sinh.Chính t ừ tính
ưu việt của phương pháp này, tôi đã mạnh dạn tiến hành nghiên cứu và thực hiện đ ề tài: “M ột s ố
Biện pháp dạy học môn Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch ở khối lớp 4 nhằm nâng cao ch ất
lượng giáo dục Mĩ thuật.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Giúp học sinh lớp 4 thêm yêu thích môn học thông qua các hoạt động học tập.
- Giúp học sinh phát huy được trí tưởng tượng, sáng tạo, khả năng tư duy, rèn luyện cho các em có
khả năng biểu đạt, phân tích và tăng cường kỹ năng giao tiếp.
Mặt khác, qua việc đúc kết những kinh nghi ệm cũng chính là m ột trong nh ững cách đ ể ghi nh ận và
xem xét lại quá trình thực hành giảng - dạy, để hoàn thi ện k ỹ năng s ư ph ạm c ủa b ản thân, đ ể ch ọn
lọc ra những gì đã làm tốt, cái gì c ần phải làm t ốt h ơn và nghĩ cách kh ắc ph ục nh ững gì ch ưa t ốt.
Việc tự phân tích thiết yếu này có ý nghĩa quan trọng đối v ới s ự phát triển ngh ề nghi ệp c ủa m ỗi giáo
viên, đồng thời giúp cho mỗi giáo viên có cơ hội để trao đổi, học hỏi kinh nghi ệm l ẫn nhau nh ằm
hướng tới mục tiêu giáo dục đạt kết quả cao hơn.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Chủ thể: Biện pháp dạy học môn Mĩ thuật cho học sinh lớp 4 theo phương pháp Đan Mạch.
Khách thể: Học sinh 4A5 trường Tiểu học Định công- Q.Hoàng Mai- Hà Nội
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1. Nghiên cứu lí luận
- Những định hướng và mục tiêu giáo dục Mĩ thuật bậc Tiểu học.
- Đặc điểm tâm lý học sinh lớp 4.
- Một số vấn đề về giải pháp dạy học Mĩ thuật theo phương pháp mới (thuộc dự án do Đan M ạch h ỗ
trợ).
2. Nghiên cứu thực trạng
- Khái quát tình hình chung về nhà trường.
- Thực trạng việc dạy và học bộ môn Mĩ thuật lớp 4 trường Tiểu học Định Công.
3. Đề xuất biện pháp mới
Biện pháp 1: Lập kế hoạch dạy học chi tiết, khoa học và đảm bảo đúng tinh thần đổi mới theo
phương pháp của Đan Mạch
Biện pháp 2: Xây dựng các chủ đề học tập có nội dung gần gũi, quen thuộc và phù h ợp v ới
khả năng nhận thức của các em.
Biện pháp 3: Vận dụng linh hoạt 7 quy trình Mĩ thuật mới phù hợp với khả năng nh ận th ức
của học sinh và điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường.
Biện pháp 4: Xây dựng bầu không khí lớp học thân thiện, tạo hứng thú học t ập cho h ọc sinh
thông qua các hoạt động thi đua, trò chơi.
Biện pháp 5: Tăng cường nhận xét, đánh giá học sinh
4. Tổ chức thử nghiệm hoặc khảo nghiệm.
Tổ chức dạy thực nghiệm với lớp 4A5
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Sưu tầm tài liệu có liên quan:
2. Vấn đáp:
3. Quan sát:
4. Thực nghiệm:
5. Phân tích, tổng hợp:
VI. PHẠM VI VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu quá trình dạy và học bộ môn Mĩ thuật ở lớp 4.
- Tìm hiểu những vấn đề cơ bản thường gặp, những tình huống, ưu điểm, hạn chế qua quá trình
dạy và học bộ môn mĩ thuật học sinh khối 4 trường Tiểu học Định công- Q.Hoàng Mai- Hà
- Thời gian nghiên cứu từ đầu năm học 2018- 2019 đến nay
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1. Khái niệm: Giáo dục mĩ thuật là giúp học sinh có khả năng c ảm nhận, khám phá ra n ặng l ực
của mình thông qua các phương tiện khác nhau cũng như tr ải nghi ệm nh ững ni ềm vui thích khi t ạo
ra những sản phẩm, những biểu đạt mang tính độc lập và đặc s ắc c ủa mình. Đi ều này giúp h ọc sinh
có thể sử dụng và ứng dụng ngôn ngữ mĩ thuật để có thể biểu đạt kinh nghi ệm và thái đ ộ c ủa các
em bằng nhiều cách khác nhau. Trong các quy trình dạy - học mĩ thu ật sáng t ạo, giáo viên ph ải luôn
chỉ ra cho học sinh thấy rằng sẽ có vô vàn cách thức biểu đạt khác nhau ch ứ không ph ải ch ỉ có m ột
cách duy nhất.
Môn học Mỹ thuật trong trường tiểu học không nhằm đào tạo các em trở thành họa sĩ mà thông
qua các hoạt động tạo hình để khơi gợi và phát huy khiếu thẩm mỹ v ốn có ở tr ẻ, gây h ứng thú cho
các em trước cái đẹp tiến tới hình thành thị hiếu thẩm mỹ c ủa riêng mình trong cu ộc s ống hàng
ngày.
Điểm nổi bật của phương pháp dạy học mới môn Mỹ thuật là giáo viên có th ể ch ủ đ ộng theo
từng nội dung của từng tiết dạy mà kết hợp nhiều kỹ thuật trong một bài như: V ẽ biểu c ảm- V ẽ cùng
nhau- Vẽ theo nhạc- Xây dựng cốt chuyện, so với phương pháp truy ền th ống, ph ương pháp m ới
phát huy khả năng sang tạo cao của học sinh, tiết h ọc tho ải mái, sinh đ ộng h ơn. T ừ môn h ọc này
tạo cơ hội cho học sinh thực hành, ứng dụng trong học tập và cuộc sống.
2. Về mục tiêu của dạy học môn Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch
Mục tiêu chính của phương pháp này nhằm giúp học sinh hình thành và phát triển các năng l ực:
+ Năng lực trải nghiệm: Cho các em được làm việc v ới những ch ủ đ ề liên quan đ ến kinh nghi ệm đã
có của bản thân.
+ Năng lực kỹ năng và kỹ thuật thông qua các hoạt động : Vẽ cùng nhau, chân dung bi ểu đ ạt, v ẽ
theo nhạc, tạo hình từ vật tìm được, nặn hoặc uốn tạo dáng, xây dựng c ốt truy ện(xây dựng b ối c ảnh
câu chuyện).
+ Năng lực biểu đạt: Có nghĩa là học sinh ứng dụng ngôn ng ữ mĩ thu ật đ ể di ễn đ ạt s ự tr ải nghi ệm
và thái độ của bản thân.
+ Năng lực phân tích và trình bày: Thông qua các hoạt đ ộng trình bày v ề tác ph ẩm c ủa mình, tham
gia giải thích, phân tích, nhận xét về nghệ thuật, kỹ thuật thể hiện tác phẩm.
+ Năng lực giao tiếp và đánh giá: Học sinh tham gia giao ti ếp, th ảo lu ận và đánh giá t ất c ả các ho ạt
động trong tiết Mĩ thuật, đánh giá những gì đã làm được, có như mong muốn hay không?.
3. Ý nghĩa của dạy học môn Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch
Ý nghĩa của vấn đề chính là dựa trên nền tảng c ủa Luật Giáo dục điều 24.2 đã ghi: "Phương
pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng t ạo c ủa h ọc sinh; phù
hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luy ện kĩ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình c ảm, đem lại ni ềm vui, h ứng thú h ọc t ập cho
học sinh". Đồng thời còn nêu rõ: “Mục tiêu giáo dục Tiểu h ọc nh ằm giúp cho h ọc sinh nh ững c ơ s ở
ban đầu nhưng rất quan trọng cho sự hình thành và phát triển nhân cách m ột con ng ười, chu ẩn b ị
tốt cho các em về các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và lao đ ộng đ ể h ọc sinh ti ếp t ục h ọc
lên trung học hoặc đi vào cuộc sống tùy theo nhu c ầu và nguy ện v ọng b ằng nh ững hình th ức thích
hợp”. Điều này khẳng định giáo dục thẩm mĩ trong tr ường Ti ểu h ọc là m ột n ội dung có ảnh h ưởng
mạnh mẽ đối với các mặt giáo dục khác, tạo nên s ự hoàn thiện trong vi ệc phát tri ển nhân cách c ủa
học sinh. Chính vì vậy việc giáo dục và bồi dưỡng cho học sinh có trình đ ộ văn hoá th ẩm mĩ ph ổ
thông là hết sức cần thiết.
4. Nội dung của dạy học theo phương pháp Đan Mạch
Điểm nổi bật của phương pháp dạy học này là giáo viên có thể ch ủ đ ộng theo t ừng n ội dung ti ết
dạy mà kết hợp nhiều kỹ thuật trong một bài dạy. Nội dung chương trình giáo d ục Mĩ thu ật theo
phương pháp mới không theo trình tự các bài như chương trình hiện hành, mà giáo viên căn c ứ vào
đó để xây dựng các chủ đề cho phù hợp. Mỗi chủ đề tạo thành m ột quy trình m ỹ thu ật t ương tác và
tích hợp giữa 5 nội dung: Vẽ theo mẫu, Vẽ trang trí, Vẽ tranh, T ập n ặn t ạo dáng, Th ường th ức M ỹ
thuật. Mỗi chủ đề sẽ lồng ghép giáo dục nhiều mục tiêu và được thực hi ện ít nh ất là 2 ti ết, nhi ều
nhất là 5 tiết hoặc cũng có thể hơn.
Tóm lại: Qua quá trình áp dụng hiệu quả như thế nào, chúng ta cùng tìm hiểu thực tr ạng d ạy và
học môn Mĩ thuật 4 tại trường Tiểu học.
II.THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MĨ THUẬT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
1. Nhận xét thực trạng dạy và học mĩ thuật ở trường tiểu học
Hiện nay ở các trường Tiểu học hầu hết đã có đủ giáo viên được đào tạo chuyên d ạy môn Mĩ
thuật. Do vậy chất lượng giảng dạy luôn được giáo viên quan tâm, đầu tư đúng m ức. Tuy nhiên vi ệc
dạy bộ môn Mĩ thuật vẫn còn rất nhiều bất cập do nhiều y ếu t ố khác nhau, ch ưa đ ạt đ ược k ết qu ả
như mục tiêu giáo dục đề ra.
Qua các đợt tập huấn do Sở Giáo dục Thành phố và phòng Giáo dục qu ận t ổ chức, đ ại đa s ố
giáo viên đều nắm được các bước thực hiện một quy trình dạy mĩ thu ật theo ph ương pháp Đan
Mạch, Các giáo viên tham gia dạy chuyên đề cũng được Ban giám hi ệu nhà tr ường t ạo đi ều ki ện v ề
thời gian, công việc, phối kết hợp với các thầy, cô trong nhóm nghiên cứu để có th ể d ự gi ờ l ẫn nhau,
giúp giáo viên có thể trải nghiệm phương pháp mới cùng các đồng nghiệp. Khi tham tập huấn và dạy
chuyên đề thử nghiệm, chúng tôi nhận thấy tính ưu việt c ủa dự án là l ấy h ọc sinh làm trung tâm,
đồng thời xây dựng quy trình tương tác và tích hợp các phân môn cho từng n ội dung h ọc t ập, nh ưng
áp dụng vào giảng dạy như thế nào thì hầu hết còn rất mơ hồ. Bản thân giáo viên, khi ch ịu trách
nhiệm triển khai và thực hiện tiết dạy vận dụng và lồng ghép phương pháp đan m ạch, cũng nh ư
nhiều giáo viên chuyên trách khác không tránh được những khó khăn vướng mắc, lúng túng khi th ực
hiện. Về nội dung các chủ đề giáo viên có thể xây dựng dựa trên chương trình hi ện hành nh ưng khó
khăn lớn là việc tổ chức các quy trình. Nếu thực hiện t ại l ớp thì không th ể t ổ ch ức đ ược do ph ải s ắp
xếp lại bàn ghế, trong khi thời lượng tiết dạy chỉ có 35 phút. Còn t ổ ch ức h ọc t ập t ại phòng ch ức
năng với trường có 43 lớp học – 2 giáo viên chuyên thì cũng không đ ảm b ảo yêu c ầu, vì l ớp này h ọc
– lớp kia học ở đâu? Bên cạnh đó vẫn còn khá nhiều đi ểm giáo viên băn khoăn, lúng túng, không
biết thực hiện như thế nào cho đúng tinh thần đổi mới, cho đạt hiệu quả.
Từ thực tế giảng dạy bộ môn Mĩ thuật cho học sinh Tiểu học, bản thân tôi cũng g ặp không ít khó
khăn về vấn đề đồ dùng học tập này. Mỗi em được trang bị một h ộp màu sáp, m ột v ở v ẽ kh ổ A4, 1
bịt giấy màu. Nếu thực hiện quy trình Vẽ cùng nhau, V ẽ biểu cảm thì không có gì đáng bàn, nhưng
còn các quy trình khác thì sao? Dây kẽm, giấy bồi, keo, các v ật d ụng khác thì ph ải làm th ế nào đ ể
có? Yêu cầu phụ huynh mua cho các em là điều còn khó h ơn khi yêu c ầu ph ụ huynh đóng các lo ại
quỹ. Lý do:phần lớn phụ huynh là dân lao động tự do nên thiếu quan tâm đến việc học của học
sinh. Một số phụ huynh cho rằng Mĩ thuật là môn phụ nên con em h ọ h ọc đ ược gì, h ọc nh ư th ế nào
cũng chẳng đáng quan tâm. Chính vì vậy, hầu hết các chủ đề đều áp d ụng quy trình V ẽ cùng nhau
hoặc Vẽ biểu cảm, Vẽ theo nhạc, Xây dựng cốt truyện là chính, còn các quy trình khác không th ể
thực hiện được vì lý do trên.
Mặt khác đối với học sinh các em chủ yếu là nhận thức c ảm tính. Các em vẽ hình thường còn quá
nhỏ, không tự tin khi thể hiện (khi vẽ biểu đạt, tạo ngân hàng hình ảnh), bố cục trống trải (khi v ẽ
cùng nhau), tạo hình bằng đất nặn, xé dán hình chưa phong phú dẫn đến s ản phẩm đạt đ ược không
đẹp mắt, khó biểu đạt nội dung chủ đề. Mặt khác do chất liệu bút chì dễ tẩy xoá nên nhiều học sinh
quá lạm dụng tẩy, làm cho bài vẽ bị bẩn, thường bị rách giấy, hình v ẽ thiếu tự nhiên. Các bài v ẽ, các
sản phẩm của học sinh còn mang tính sao chép, na ná gi ống nhau, ch ưa có nhi ều sáng t ạo hay ý
tưởng đột phá. Khi vẽ màu thường đơn điệu, không có đậm nhạt, vẽ màu không g ọn. Trong khi có
thể nói các em rất thích học Mĩ thuật, thích v ẽ, thích xem tranh, thích đ ược sáng t ạo nh ưng các gi ờ
học vẫn đại đa số vẫn chưa thực sự thoải mái, chưa thật s ự là “không gian c ủa s ự sáng t ạo”. Các
em vẽ thường bị gò bó, công thức, đôi khi rập khuôn, sự suy nghĩ, tìm tòi ch ưa đ ược gi ải phóng,
hiện tượng bắt chước, lặp lại từ cách vẽ hình, vẽ màu, cách tìm ch ủ đ ề cho v ẫn còn chung
chung...Nhưng nếu giáo viên thiếu quan sát hay quản lý lớp là các em th ường nói chuy ện riêng, đùa
giỡn,làm ảnh hưởng đến lớp học bên cạnh.
Dựa trên những bất cập đó có thể tóm tắt một s ố thuận lợi và khó khăn khi áp d ụng ph ương
pháp mới vào giảng dạy bộ môn Mĩ thuật cho học sinh lớp 4 như sau.
2. Thuận lợi và khó khăn:
a. Thuận lợi:
* Về phía giáo viên:
- Giáo viên dạy Mĩ thuật luôn được sự quan tâm của Ngành c ấp trên, đ ặc bi ệt là Ban Giám
hiệu nhà trường thường xuyên động viên, khuyến khích giáo viên áp d ụng ph ương pháp m ới vào
giảng dạy, luôn tạo mọi điều kiện để giáo viên an tâm công tác và thực hiện tốt nhiệm v ụ được giao.
- Cơ sở vật chất của nhà trường khang trang, sạch đẹp.
- Nội dung chương trình Mĩ thuật Tiểu học có một s ố bài không phù h ợp vì mang y ếu t ố đ ặc
thù vùng miền, nhưng theo phương pháp mới thì giáo viên có thể đi ều ch ỉnh cho phù h ợp v ới tình
hình thực tế địa phương, khả năng nhận thức của học sinh mà không quá ph ụ thu ộc vào khuôn kh ổ
của chương trình hiện hành.
* Về phía học sinh:
- Các hoạt động của mỗi chủ đề nối tiếp liền mạch nhau, làm cho h ọc sinh luôn c ảm th ấy hào
hứng khi được khám phá, sáng tạo với nhiều trải nghiệm.M ặt khác, các em đ ược th ỏa thích v ới
những sáng tạo, được trao đổi, học hỏi từ bạn rất nhiều. Thông qua hoạt đ ộng m ỹ thu ật th ực t ế, h ọc
sinh tự mình làm tích lũy được cách biểu đạt, phân tích, đánh giá, t ự l ựa ch ọn và nh ận th ức đ ể hình
thành, phát triển những năng lực cá nhân. Chính bản thân các em s ẽ t ự tin trình bày nh ững ý ki ến
cá nhân trước tập thể.
- Có thể nói việc giảng dạy bộ môn Mĩ thuật rất hiện hành r ất t ốt, h ọc sinh r ất yêu thích môn
học vì là một giờ học không gò bó, không có nhiều áp l ực. Đó chính là m ột l ợi th ế, không ph ải môn
học nào cũng có được.
b. Khó khăn:
* Về phía giáo viên:
- Trang thiết bị phục vụ môn học chưa nhiều, chưa đủ đáp ứng nhu cầu cho d ạy - h ọc Mĩ
thuật.
- Nhà trường chưa có phòng học chức năng. Đối v ới phương pháp mới này ĐDDH cho giáo
viên là không có sẵn, hầu hết giáo viên phải tự chuẩn bị vật mẫu cho giáo viên và học sinh, phương
tiện, đồ dùng trực quan.. .
* Về phía học sinh:
Bảy quy trình dạy - học Mĩ thuật chủ yếu là đề cao khả năng tự học của học sinh, nhưng đ ể th ực
hiện được một quy trình các em phải chuẩn bị rất nhiều v ật dụng nh ư : gi ấy A0, A4, gi ấy b ồi, k ẽm,
băng keo, hộp giấy, vật dụng tìm được. Điều này quả là khó khăn cho c ả giáo viên và h ọc sinh, vì
bản thân các em chưa thể tự chuẩn bị được mà phải có s ự hỗ tr ợ t ừ phía ph ụ huynh. V ới “v ị trí” c ủa
môn học như hiện nay thì sự nhiệt tình của phụ huynh có đ ược nh ư mong mu ốn? Nhi ều em hoàn
cảnh khó khăn có được hộp màu và giấy vẽ đã là may mắn.
III. NỘI DUNG THỰC HIỆN
1. Điều tra cơ bản.
Trong những năm học vừa qua, tôi được phân công giảng dạy môn Mĩ thuật lớp 4A5, tôi thấy h ầu
hết các em đều thích học vẽ, các em học tập v ới tinh thần hăng say, c ảm nh ận đ ược cái hay, cái
đẹp được thể hiện từ nội dung và hình thức mỗi khi các em v ẽ một b ức tranh. Bên c ạnh đó còn m ột
số học sinh nhút nhát, rụt rè chưa mạnh dạn nói lên những suy nghĩ c ủa mình, m ột s ố em còn chán
nản không thích học vẽ, dẫn đến chất lượng bài vẽ hưa tốt. Tất c ả những v ấn đ ề trên r ất đáng lo
ngại, ảnh hưởng lớn đến việc học Mĩ thuật của học sinh cho nên tôi đã ti ến hành đi ều tra đ ầu năm
Tại lớp 4A5 năm học 2018 - 2019, xem các em đạt ở mức độ nào từ đó tìm ra bi ện pháp kh ắc ph ục
và kết quả như sau:
2. Biện pháp thực hiện
Từ thực tế giảng dạy ở giai đoạn đầu, phần đông học sinh yêu thích môn h ọc. Tuy nhiên v ẫn có
một số em rất thờ ơ, thậm chí chán nản mỗi khi đến giờ học, điều này khi ến cho ti ết h ọc tr ở nên
nặng nề, không hứng thú. Vì vậy việc khắc phục tâm lý cho học sinh quả là khó khăn và h ết s ức c ần
thiết. Dựa vào tâm lý của học sinh là thích khen ngợi, động viên và hay tò mò nên tr ước th ời gian
thực hành, tôi giới thiệu cho các em một số tác phẩm v ẽ tiêu biểu c ủa nh ững ho ạ sĩ nhí để các em
xem và tự học tập theo cách vẽ, cách thể hiện tranh. Phân tích cho các em th ấy đ ược cái hay, cái
đẹp được thể hiện qua các tác phẩm, động viên các em ai cũng có thể v ẽ đẹp. Vì thế s ự căng
thẳng và chán nản trong mỗi giờ học được giảm bớt đi, các em đã có h ứng thú h ơn v ới các ti ết h ọc.
Sau đó trong những bài học vẽ tranh tôi khuy ến khích các em v ẽ nhi ều và v ẽ đ ẹp cho h ọc sinh t ự
nhận xét, tự đánh giá tác phẩm của bạn có đẹp hay không đẹp và vì sao? Như v ậy tôi đã hướng d ẫn
cho các em biết tự nhận xét, đánh giá được bài vẽ của bạn và mình.
Môn học Mĩ thuật Đan Mạch không chỉ đòi hỏi các em vẽ phải có tính sáng t ạo, v ẽ đ ẹp mà các
bài tập thực hành còn đòi hỏi các em có sự c ảm nhận giá tr ị ngh ệ thu ật, n ắm đ ược m ục tiêu giáo
dục ở trong mỗi bài học. Vì thế trong quá trình giảng dạy tôi đã đưa ra m ột s ố bi ện pháp sau đây
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Mĩ thuật.
IV. CÁC BIỆN PHÁP DẠY HỌC MĨ THUẬT THEO PHƯƠNG PHÁP ĐAN MẠCH NH ẰM NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC MĨ THUẬT
1. Biện pháp 1: Lập kế hoạch dạy học thực hiện bảy quy trình mĩ thuật theo phương pháp
mới
1.1. Mục tiêu: Lập kế hoạch dạy chi tiết từng hoạt động giúp giáo viên chủ động và ứng phó k ịp
thời, đúng đắn các tình huống sư phạm có thể xảy ra trên lớp.
1.2. Cách thực hiện:
Khi dạy học dưới bất cứ phương pháp nào đều yêu cầu giáo viên phải lập được k ế ho ạch d ạy
học hoàn chỉnh. Đó không chỉ là đơn thuần thực hiện cho đúng nhi ệm v ụ khi lên l ớp mà nó còn th ể
hiện tinh thần trách nhiệm của mỗi giáo viên đối với học sinh. Có thể nói việc lập kế hoạch giảng dạy
tốt là đã thành công một nửa của quá trình dạy học. Giáo viên là ng ười đi ều khi ển quá trình và t ạo
điều kiện cho học sinh phát triển tư duy bằng các câu h ỏi m ở và khuy ến khích các em chia s ẻ
những kinh nghiệm sẵn có của mình. Điều này tạo ra nền tảng cần thi ết đ ể giúp các em ki ến t ạo
được quy trình học tập của mình bằng cách liên hệ những điều đã bi ết v ới nh ững đi ều s ẽ h ọc. Khi
lập kế hoạch giáo viên phải căn cứ vào tình hình thực tế của lớp để điều chỉnh, thay đổi cho phù h ợp
và sát với khả năng tiếp thu của học sinh. Kế hoạch cho t ừng ho ạt đ ộng ho ặc cho toàn b ộ quy trình
theo phương pháp Đan Mạch có thể ngắn, dài và kết nối, liên kết, xâu chu ỗi các ho ạt đ ộng quy trình
với nhau, kết thúc hoạt động này sẽ là mở đầu cho hoạt động tiếp theo… C ụ th ể khi xây d ựng k ế
hoạch dạy học theo phương pháp mới, giáo viên cần phải chú ý tới:
+ Mục tiêu bài học: Mỗi bài học, tiết học đều có mục tiêu chung là hướng tới hình thành cho h ọc sinh
phát huy khả năng tưởng tượng, sáng tạo và năng lực diễn đạt bằng l ời nói, h ọc sinh t ưởng t ượng
và sáng tạo được một câu chuyện bằng ngôn ngữ mĩ thuật. Tuy nhiên, giáo viên v ẫn c ần xác đ ịnh rõ
mục tiêu cụ thể của bài học đó là học sinh hiểu được gì? Thực hiện như thế nào và làm được gì?
1.3. Ví dụ minh họa:
1.3.1. Chủ đề Em sáng tạo cùng những con chữ
+ Nội dung tiết 1 là: Tìm hiểu về kiểu chữ nét đều, chữ nét thanh nét đậm
- Mục tiêu tiết 1là:Hs nêu được đặc điểm của kiểu chữ nét đều, nét thanh nét đ ậm và ki ểu ch ữ
trang trí.
-Tạo dáng chữ tên mình hoặc người thân theo ý thích.
- Biết giới thiệu và nhận xét sản phẩm
- Nội dung chủ đề: Nội dung các chủ đề phải v ừa s ức học sinh, phù h ợp v ới tâm lý l ứa tu ổi
của các em.
+ Nội dung tiết 2 là: Sáng tạo cùng những con chữ (cá nhân)
+ Mục tiêu tiết 2 là - Trang trí và vẽ màu sản phẩm tiết 1.
- Biết giới thiệu, nhận xét sản phẩm.
+ Nội dung tiết 3 là: - Sáng tạo cùng những con chữ (theo nhóm)
+ Mục tiêu tiết 3 là : - Biết sắp xếp sản phẩm của cá nhân trang trí tạo thành s ản phẩm nhóm.
- Biết giới thiệu, nhận xét sản phẩm.
- Điều kiện tiên quyết: Đó là những yêu c ầu thiết y ếu đ ể quá tình gi ảng d ạy có hi ệu qu ả, bao
gồm: Tạo điều kiện để học sinh học qua nhiều kênh; chú ý kh ả năng, phong cách h ọc c ủa t ừng h ọc
sinh; kết hợp kiến thức của bản thân học sinh và chiến l ược h ọc t ập;xây d ựng môi tr ường h ọc t ập
thân thiện, truyền cảm hứng cho các em.
- Môi trường học tập: Học tại lớp, học ở phòng chức năng hay sân tr ường. Môi tr ường h ọc t ập
thoải mái sẽ hỗ trợ rất nhiều cho quá trình dạy và học.
- Quá trình đánh giá học: Mỗi quá trình học là một sâu chuỗi các hoạt động diễn ra.
- Đánh giá: giá từng giai đoạn và đánh giá cả quá trình thực hiện.
Môn Mĩ thuật là môn dành thời gian chủ yếu cho học sinh thực hành, do v ậy giáo viên c ần
thiết kế tổ chức các hoạt động trải nghiệm phong phú, đa dạng nhưng không quá dài, m ất nhi ều th ời
gian. Tuyệt đối không đưa ra tranh vẽ, sản phẩm làm mẫu để học sinh quan sát tr ước khi th ực hành
mà phải để học sinh chủ động tích cực tìm hiểu và tham gia vào quá trình tranh lu ận, th ảo lu ận, bàn
bạc khi làm việc cùng các bạn. Để thực hiện việc lập k ế hoạch dạy h ọc chi ti ết, khoa h ọc và đ ảm
bảo đúng tinh thần đổi mới theo phương pháp của SAEPS , giáo viên cần tiến hành như sau:
a. Dự kiến các hoạt động dạy-học diễn ra theo trình tự hợp lý và nối tiếp nhau.
Mỗi tiết dạy, mỗi giai đoạn của một quy trình đều có những hoạt động và m ục tiêu giáo d ục
khác nhau, do đó đòi hỏi giáo viên phải xây dựng và đ ề ra nh ững n ội dung công vi ệc c ụ th ể, hình
thức học tập, cách thực hiện... Ví dụ ở
tiết 1: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu chủ đề ( chủ đề Ngày Tết, lễ hội và mùa xuân) trình tự các
hoạt động như sau:
- Tổ chức trò chơi: Ai nhanh hơn. Luật chơi: Mỗi nhóm cử 1 đại diện lên v ẽ cây. Học sinh dưới
lớp hát 1 bài. Khi hát hết bài thì các đội thi v ẽ phải ng ừng tay. Đ ội nào có h ọc sinh v ẽ nhanh, v ẽ
được nhiều hình cây nhất là đội thắng cuộc.
- Giáo viên cùng học sinh nhận xét phần thi đua của các đội.
- GV giới thiệu chủ đề: Đặt câu hỏi tìm hiểu chủ đề
*Em quan sát thấy những hình ảnh gì? Đó là những hoạt động nào? diễn ra ở đâu, khi nào?
*Không khí, cảnh vật, màu sắc trong hình như thế nào?
*Em hãy kể tên những lễ hội mà em biết?
*Em hãy kể một số hoạt động khác trong dịp tết c ổ truy ền c ủa dân t ộc ngoài nh ững ho ạt đ ộng em
thấy trong hình?
*Em yêu thích nhất hoạt động nào trong ngày tết, lễ hội và mùa xuân?
+ Để giúp các em thấy được vẻ đẹp của cảnh vật xung quanh chúng ta và vẽ được những
bức tranh thật đẹp, hôm nay cô và các em cùng tìm hiểu qua chủ đề: Ngày tết lễ hội và mùa xuân
- Giáo viên cho học sinh quan sát hình 6.2 SGK và nêu câu hỏi thảo luận:
* Em thích sản phẩm tạo hình nào nhất? đó là hoạt động gì của ngày tết, lễ hội và mùa xuân?
*Hình ảnh nào là hình ảnh chính? Hình ảnh nào là hình ảnh phụ trong mỗi s ản phẩm?
*Hình ảnh phụ có phù hợp với hình ảnh chính không?
*Sản phẩm em thích được tạo hình bằng chất liệu gì? Các hình ảnh được sắp x ếp như thế nào?
- Giáo viên tóm tắt :
+ Có rất nhiều hoạt động lễ hội và mùa xuân các con hãy cùng nhau cùng th ảo lu ận, tìm ra ho ạt
động mà mình thích.
- Học sinh thảo luận nhóm đôi: Kể cho bạn nghe v ề lễ hội hoặc hoạt đ ộng mùa xuân mình
thích.
- Một số học sinh kể trước lớp..
- GV kết luận: Vẽ tranh chủ đề về Ngày tết và mùa xuân đẹp em có thể vẽ được rất nhiều các
hình ảnh khác nhau. Có thể là gói bánh trưng, đua thuy ền...trong đó có thêm hình ảnh các cây đào,
hoa lá, người cho bức tranh thêm sinh động.
- Giáo viên và học sinh cùng nhận xét, rút ra cách vẽ.
- Học sinh hát một bài kết hợp vận động để kết thúc tiết học.
b. Dự kiến cách giới thiệu bài phong phú, đa dạng để lôi cuốn học sinh tham gia tích
cực vào tiết học.
Nhiều giáo viên quan niệm: Giới thiệu chỉ cần ngắn gọn, c ứ nêu ngay tên bài là xong mà ch ưa chú ý
nhiều đến tác dụng giáo dục của việc này. Nếu làm phép thử nghi ệm đ ể so sánh gi ữa hai hình th ức
giới thiệu bài trực tiếp và giới thiệu bài gián tiếp sẽ thấy rõ ngay hiệu quả như thế nào.
Ví dụ khi giới thiệu chủ đề Chúng em với thế giới động vật:
+ Cách 1:
- Giới thiệu trực tiếp: Hôm này cô và các em cùng tìm hi ểu v ề ch ủ đ ề Chúng em với thế giới động
vật:
- Hiệu quả: Học sinh nắm được tên bài học. Không khí lớp h ọc không thay đ ổi, h ọc sinh chăm chú
nghe nhưng chưa nắm được thêm bất cứ kiến thức gì ngoài tên bài.
+ Cách 2:
- Giới thiệu gián tiếp: Giáo viên tổ chức trò chơi ô ch ữ đoán tên con v ật (chú ý ch ỉ nêu tên và hình
con vật ), gợi ý học sinh tìm chữ. Khi học sinh đoán đúng thì hình con v ật đ ược l ật ra. K ết thúc trò
chơi, giáo viên giới thiệu: Đây là những con v ật quen thuộc. Đ ể giúp các em có th ể t ạo hình đ ược
những con vật mà mình thích, hôm nay cô và các em cùng tìm hiểu qua ch ủ đ ề Chúng em với thế
giới động vật
- Hiệu quả: học sinh nắm được tên bài học, biết được những con v ật nuôi và nh ưng con v ật s ống
trong tự nhiên, không khí lớp học sinh động, học sinh thích thú khi đ ược tham gia trò ch ơi. V ậy nên
giáo viên cần chú ý giới thiệu bài thông qua nhi ều hình thức nh ư: thông qua trò ch ơi, k ể m ột câu
chuyện nhỏ, một tình huống hay đóng vai, tạo dáng, tr ải nghi ệm th ực t ế…v ừa t ạo h ứng thú h ọc t ập
cho học sinh vừa cung cấp kiện thức một cách dễ hiểu nhất.
Chính vì vậy khi giới thiệu bài, giáo viên nên tạo không khí ph ấn kh ởi cho gi ờ h ọc, thu hút s ự chú ý,
gây tâm lý chờ đón, hồi hộp cho học sinh, không nên “đi ngay” vào nội dung.
c. Xây dựng các nội dung giúp học sinh trải nghiệm.
Trong giáo dục mĩ thuật giáo viên cần xây dựng các nội dung giúp h ọc sinh đ ược tr ải nghi ệm,
phát triển không ngừng. Ở học sinh có sự khác biệt ở mỗi em về khả năng quan sát, trí tưởng t ượng,
trí nhớ, cách thức thể hiện con người, con vật, đồ v ật v ề hình dáng, đ ặc đi ểm, c ấu trúc, t ỉ l ệ...H ọc
sinh được kích thích thông qua các khả năng c ủa bản thân cũng nh ư tr ải nghi ệm v ới ng ười khác
như: những thành viên trong gia đình, bạn bè và thậm chí nh ững ng ười m ới quen bi ết, v ới con v ật
yêu thích, đồ vật thân quen. Học sinh bị ảnh hưởng thông qua tiếp xúc v ới s ự v ật, hi ện t ượng xung
quanh thông qua các kênh thông tin như: ti vi, tạp chí, sách v ở, truy ện tranh, qu ảng cáo, internet và
các tác phẩm điêu khắc công cộng. Dần dần học sinh nhận biết được những cách thức thể hiện hình
ảnh con người khác nhau về hình dáng, cấu trúc, tỉ lệ như: phác họa con người, biểu cảm của nhân
vật, biểu tượng người khái quát... Do đó việc để học sinh tr ải nghi ệm r ất quan tr ọng, tùy theo t ừng
chủ đề mà giáo viên lựa chọn các hoạt động cho phù hợp giúp h ọc sinh nh ớ l ại ki ến th ức, nh ững k ỷ
niệm và tưởng tượng, đồng thời cho các em cơ hội chia s ẻ những gì các em đã bi ết khi trình bày v ề
sở thích, mối quan tâm, mơ ước hay ý tưởng. Qua quá trình này học sinh s ẽ có đ ược nh ững ki ến
thức thực tế để gợi mở cách nhìn nhận, cảm giác, sự tò mò, trí nhớ, trí t ưởng t ượng và phát tri ển
sức sáng tạo và biểu đạt thông qua việc được nghe k ể chuy ện, chia s ẻ ...
ở lớp 4 nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Mĩ thuật
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Trong công tác dạy và học, người thầy giáo có tâm huyết bao giờ cũng t ập trung vào vi ệc đ ổi m ới
cách dạy và học. Bởi mục tiêu của người thầy luôn chú trọng vào đ ối t ượng ng ười h ọc, giúp ng ười
học hiểu và nhận thức ra vấn đề cần chuyển tải một cách hi ệu qu ả. “Kh ổng T ử “ đã có câu nói r ất
hay: Thầy dạy không biết mỏi, trò học không biết chán. Đạt được như v ậy có nghĩa là ng ười th ầy đã
đổi mới cách dạy - trò đã đổi mới cách học.
Thông thường, việc dạy học Mĩ thuật trong trường tiểu học ở Việt Nam dạy theo phân ph ối
chương trình với các phân môn độc lập như vẽ trang trí, v ẽ theo m ẫu, v ẽ tranh, th ường th ức mĩ
thuật và tập nặn tạo dáng. Với môn học này học sinh chỉ cần một quy ển v ở tập v ẽ, bút chì, h ộp màu
hoặc đất nặn. Điều này cũng giới hạn phần nào s ự hứng thú và sáng t ạo c ủa h ọc sinh. Vi ệc phân
phối các phân môn xen kẽ nhau chủ yếu nhằm mục đích để học sinh không c ảm th ấy nhàm chán
khi học nên sự liên kết giữa bài trước với bài sau thường lỏng lẻo, đôi khi không liên quan. Vi ệc này
hạn chế sự liên tưởng, vận dụng kiến thức cũ vào bài học mới và khó tích h ợp ki ến th ức liên
môn.
So với phương pháp truyền thống, dạy học Mĩ thuật theo phương pháp mới c ủa Đan M ạch có
nhiều ưu điểm trong việc phát huy khả năng sáng tạo c ủa học sinh, ti ết h ọc r ất tho ải mái, sinh đ ộng.
Phương pháp này không chỉ đơn giản là cung c ấp tri thức, hướng d ẫn th ực hành, mà còn phát tri ển
các năng lực toàn diện cho học sinh như: năng lực tr ải nghi ệm, bi ểu đ ạt, phân tích - gi ải thích, trình
bày, giao tiếp - đánh giá, tạo cơ hội cho học sinh thực hành, ứng d ụng trong h ọc t ập và cu ộc s ống.
Trên cơ sở lý thuyết giáo dục và giảng dạy Mĩ thuật, giáo viên sẽ t ổ ch ức d ạy cho các em h ọc Mĩ
thuật qua các hoạt động Vẽ cùng nhau, Vẽ theo nhạc, Vẽ biểu đạt, tạo hình 3D t ừ các v ật tìm đ ược,
Xây dựng cốt truyện... Thông qua các hoạt động tạo hình s ẽ khơi gợi và phát huy đ ược năng khi ếu
thẩm mỹ vốn có ở trẻ, gây hứng thú cho các em trước cái đẹp, tiến t ới hình thành th ị hi ếu th ẩm m ỹ
của học sinh trong cuộc sống. Đây là một chương trình giáo dục Mĩ thu ật Ti ểu h ọc năng đ ộng, phát
huy, rèn luyện được nhiều kỹ năng cho học sinh, đặc biệt là kỹ năng sống, một s ự thay đổi lớn c ả v ề
phương pháp lẫn mục tiêu giáo dục của bộ môn Mĩ thuật ở Tiểu học. Ngoài vi ệc thay đ ổi n ội dung
phân phối chương trình, sự thay đổi hình thức tổ chức lớp học phần lớn được thông qua ho ạt đ ộng
nhóm thì vấn đề để học sinh tiếp thu được kiến thức, phát triển tư duy, sáng tạo ra nh ững s ản ph ẩm
mĩ thuật là một trong những vấn đề trọng tâm khiến giáo viên không kh ỏi tránh đ ược nh ững khó
khăn, vướng mắc. Vì theo phương pháp mới, mỗi chủ đề sẽ thực hiện bằng nhi ều quy trình mĩ thu ật
khác nhau, giáo viên hoàn toàn không hướng dẫn học sinh thực hành mà ch ủ y ếu do h ọc sinh t ự
tìm hiểu vấn đề.
Có thể nói ưu điểm của phương pháp dạy học mới theo dự án SAEPS là tích c ực, mà ở đó h ọc
sinh chủ động, tự lực khai thác tri thức dưới sự hướng dẫn c ủa giáo viên. Các ph ương pháp d ạy
học mới được triển khai trong dự án đã kích thích sự say mê, hứng thú trong h ọc t ập, b ồi d ưỡng
phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ, năng lực tư duy và trí tưởng t ượng c ủa h ọc sinh.Chính t ừ tính
ưu việt của phương pháp này, tôi đã mạnh dạn tiến hành nghiên cứu và thực hiện đ ề tài: “M ột s ố
Biện pháp dạy học môn Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch ở khối lớp 4 nhằm nâng cao ch ất
lượng giáo dục Mĩ thuật.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Giúp học sinh lớp 4 thêm yêu thích môn học thông qua các hoạt động học tập.
- Giúp học sinh phát huy được trí tưởng tượng, sáng tạo, khả năng tư duy, rèn luyện cho các em có
khả năng biểu đạt, phân tích và tăng cường kỹ năng giao tiếp.
Mặt khác, qua việc đúc kết những kinh nghi ệm cũng chính là m ột trong nh ững cách đ ể ghi nh ận và
xem xét lại quá trình thực hành giảng - dạy, để hoàn thi ện k ỹ năng s ư ph ạm c ủa b ản thân, đ ể ch ọn
lọc ra những gì đã làm tốt, cái gì c ần phải làm t ốt h ơn và nghĩ cách kh ắc ph ục nh ững gì ch ưa t ốt.
Việc tự phân tích thiết yếu này có ý nghĩa quan trọng đối v ới s ự phát triển ngh ề nghi ệp c ủa m ỗi giáo
viên, đồng thời giúp cho mỗi giáo viên có cơ hội để trao đổi, học hỏi kinh nghi ệm l ẫn nhau nh ằm
hướng tới mục tiêu giáo dục đạt kết quả cao hơn.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Chủ thể: Biện pháp dạy học môn Mĩ thuật cho học sinh lớp 4 theo phương pháp Đan Mạch.
Khách thể: Học sinh 4A5 trường Tiểu học Định công- Q.Hoàng Mai- Hà Nội
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1. Nghiên cứu lí luận
- Những định hướng và mục tiêu giáo dục Mĩ thuật bậc Tiểu học.
- Đặc điểm tâm lý học sinh lớp 4.
- Một số vấn đề về giải pháp dạy học Mĩ thuật theo phương pháp mới (thuộc dự án do Đan M ạch h ỗ
trợ).
2. Nghiên cứu thực trạng
- Khái quát tình hình chung về nhà trường.
- Thực trạng việc dạy và học bộ môn Mĩ thuật lớp 4 trường Tiểu học Định Công.
3. Đề xuất biện pháp mới
Biện pháp 1: Lập kế hoạch dạy học chi tiết, khoa học và đảm bảo đúng tinh thần đổi mới theo
phương pháp của Đan Mạch
Biện pháp 2: Xây dựng các chủ đề học tập có nội dung gần gũi, quen thuộc và phù h ợp v ới
khả năng nhận thức của các em.
Biện pháp 3: Vận dụng linh hoạt 7 quy trình Mĩ thuật mới phù hợp với khả năng nh ận th ức
của học sinh và điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường.
Biện pháp 4: Xây dựng bầu không khí lớp học thân thiện, tạo hứng thú học t ập cho h ọc sinh
thông qua các hoạt động thi đua, trò chơi.
Biện pháp 5: Tăng cường nhận xét, đánh giá học sinh
4. Tổ chức thử nghiệm hoặc khảo nghiệm.
Tổ chức dạy thực nghiệm với lớp 4A5
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Sưu tầm tài liệu có liên quan:
2. Vấn đáp:
3. Quan sát:
4. Thực nghiệm:
5. Phân tích, tổng hợp:
VI. PHẠM VI VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu quá trình dạy và học bộ môn Mĩ thuật ở lớp 4.
- Tìm hiểu những vấn đề cơ bản thường gặp, những tình huống, ưu điểm, hạn chế qua quá trình
dạy và học bộ môn mĩ thuật học sinh khối 4 trường Tiểu học Định công- Q.Hoàng Mai- Hà
- Thời gian nghiên cứu từ đầu năm học 2018- 2019 đến nay
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1. Khái niệm: Giáo dục mĩ thuật là giúp học sinh có khả năng c ảm nhận, khám phá ra n ặng l ực
của mình thông qua các phương tiện khác nhau cũng như tr ải nghi ệm nh ững ni ềm vui thích khi t ạo
ra những sản phẩm, những biểu đạt mang tính độc lập và đặc s ắc c ủa mình. Đi ều này giúp h ọc sinh
có thể sử dụng và ứng dụng ngôn ngữ mĩ thuật để có thể biểu đạt kinh nghi ệm và thái đ ộ c ủa các
em bằng nhiều cách khác nhau. Trong các quy trình dạy - học mĩ thu ật sáng t ạo, giáo viên ph ải luôn
chỉ ra cho học sinh thấy rằng sẽ có vô vàn cách thức biểu đạt khác nhau ch ứ không ph ải ch ỉ có m ột
cách duy nhất.
Môn học Mỹ thuật trong trường tiểu học không nhằm đào tạo các em trở thành họa sĩ mà thông
qua các hoạt động tạo hình để khơi gợi và phát huy khiếu thẩm mỹ v ốn có ở tr ẻ, gây h ứng thú cho
các em trước cái đẹp tiến tới hình thành thị hiếu thẩm mỹ c ủa riêng mình trong cu ộc s ống hàng
ngày.
Điểm nổi bật của phương pháp dạy học mới môn Mỹ thuật là giáo viên có th ể ch ủ đ ộng theo
từng nội dung của từng tiết dạy mà kết hợp nhiều kỹ thuật trong một bài như: V ẽ biểu c ảm- V ẽ cùng
nhau- Vẽ theo nhạc- Xây dựng cốt chuyện, so với phương pháp truy ền th ống, ph ương pháp m ới
phát huy khả năng sang tạo cao của học sinh, tiết h ọc tho ải mái, sinh đ ộng h ơn. T ừ môn h ọc này
tạo cơ hội cho học sinh thực hành, ứng dụng trong học tập và cuộc sống.
2. Về mục tiêu của dạy học môn Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch
Mục tiêu chính của phương pháp này nhằm giúp học sinh hình thành và phát triển các năng l ực:
+ Năng lực trải nghiệm: Cho các em được làm việc v ới những ch ủ đ ề liên quan đ ến kinh nghi ệm đã
có của bản thân.
+ Năng lực kỹ năng và kỹ thuật thông qua các hoạt động : Vẽ cùng nhau, chân dung bi ểu đ ạt, v ẽ
theo nhạc, tạo hình từ vật tìm được, nặn hoặc uốn tạo dáng, xây dựng c ốt truy ện(xây dựng b ối c ảnh
câu chuyện).
+ Năng lực biểu đạt: Có nghĩa là học sinh ứng dụng ngôn ng ữ mĩ thu ật đ ể di ễn đ ạt s ự tr ải nghi ệm
và thái độ của bản thân.
+ Năng lực phân tích và trình bày: Thông qua các hoạt đ ộng trình bày v ề tác ph ẩm c ủa mình, tham
gia giải thích, phân tích, nhận xét về nghệ thuật, kỹ thuật thể hiện tác phẩm.
+ Năng lực giao tiếp và đánh giá: Học sinh tham gia giao ti ếp, th ảo lu ận và đánh giá t ất c ả các ho ạt
động trong tiết Mĩ thuật, đánh giá những gì đã làm được, có như mong muốn hay không?.
3. Ý nghĩa của dạy học môn Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch
Ý nghĩa của vấn đề chính là dựa trên nền tảng c ủa Luật Giáo dục điều 24.2 đã ghi: "Phương
pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng t ạo c ủa h ọc sinh; phù
hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luy ện kĩ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình c ảm, đem lại ni ềm vui, h ứng thú h ọc t ập cho
học sinh". Đồng thời còn nêu rõ: “Mục tiêu giáo dục Tiểu h ọc nh ằm giúp cho h ọc sinh nh ững c ơ s ở
ban đầu nhưng rất quan trọng cho sự hình thành và phát triển nhân cách m ột con ng ười, chu ẩn b ị
tốt cho các em về các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và lao đ ộng đ ể h ọc sinh ti ếp t ục h ọc
lên trung học hoặc đi vào cuộc sống tùy theo nhu c ầu và nguy ện v ọng b ằng nh ững hình th ức thích
hợp”. Điều này khẳng định giáo dục thẩm mĩ trong tr ường Ti ểu h ọc là m ột n ội dung có ảnh h ưởng
mạnh mẽ đối với các mặt giáo dục khác, tạo nên s ự hoàn thiện trong vi ệc phát tri ển nhân cách c ủa
học sinh. Chính vì vậy việc giáo dục và bồi dưỡng cho học sinh có trình đ ộ văn hoá th ẩm mĩ ph ổ
thông là hết sức cần thiết.
4. Nội dung của dạy học theo phương pháp Đan Mạch
Điểm nổi bật của phương pháp dạy học này là giáo viên có thể ch ủ đ ộng theo t ừng n ội dung ti ết
dạy mà kết hợp nhiều kỹ thuật trong một bài dạy. Nội dung chương trình giáo d ục Mĩ thu ật theo
phương pháp mới không theo trình tự các bài như chương trình hiện hành, mà giáo viên căn c ứ vào
đó để xây dựng các chủ đề cho phù hợp. Mỗi chủ đề tạo thành m ột quy trình m ỹ thu ật t ương tác và
tích hợp giữa 5 nội dung: Vẽ theo mẫu, Vẽ trang trí, Vẽ tranh, T ập n ặn t ạo dáng, Th ường th ức M ỹ
thuật. Mỗi chủ đề sẽ lồng ghép giáo dục nhiều mục tiêu và được thực hi ện ít nh ất là 2 ti ết, nhi ều
nhất là 5 tiết hoặc cũng có thể hơn.
Tóm lại: Qua quá trình áp dụng hiệu quả như thế nào, chúng ta cùng tìm hiểu thực tr ạng d ạy và
học môn Mĩ thuật 4 tại trường Tiểu học.
II.THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MĨ THUẬT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
1. Nhận xét thực trạng dạy và học mĩ thuật ở trường tiểu học
Hiện nay ở các trường Tiểu học hầu hết đã có đủ giáo viên được đào tạo chuyên d ạy môn Mĩ
thuật. Do vậy chất lượng giảng dạy luôn được giáo viên quan tâm, đầu tư đúng m ức. Tuy nhiên vi ệc
dạy bộ môn Mĩ thuật vẫn còn rất nhiều bất cập do nhiều y ếu t ố khác nhau, ch ưa đ ạt đ ược k ết qu ả
như mục tiêu giáo dục đề ra.
Qua các đợt tập huấn do Sở Giáo dục Thành phố và phòng Giáo dục qu ận t ổ chức, đ ại đa s ố
giáo viên đều nắm được các bước thực hiện một quy trình dạy mĩ thu ật theo ph ương pháp Đan
Mạch, Các giáo viên tham gia dạy chuyên đề cũng được Ban giám hi ệu nhà tr ường t ạo đi ều ki ện v ề
thời gian, công việc, phối kết hợp với các thầy, cô trong nhóm nghiên cứu để có th ể d ự gi ờ l ẫn nhau,
giúp giáo viên có thể trải nghiệm phương pháp mới cùng các đồng nghiệp. Khi tham tập huấn và dạy
chuyên đề thử nghiệm, chúng tôi nhận thấy tính ưu việt c ủa dự án là l ấy h ọc sinh làm trung tâm,
đồng thời xây dựng quy trình tương tác và tích hợp các phân môn cho từng n ội dung h ọc t ập, nh ưng
áp dụng vào giảng dạy như thế nào thì hầu hết còn rất mơ hồ. Bản thân giáo viên, khi ch ịu trách
nhiệm triển khai và thực hiện tiết dạy vận dụng và lồng ghép phương pháp đan m ạch, cũng nh ư
nhiều giáo viên chuyên trách khác không tránh được những khó khăn vướng mắc, lúng túng khi th ực
hiện. Về nội dung các chủ đề giáo viên có thể xây dựng dựa trên chương trình hi ện hành nh ưng khó
khăn lớn là việc tổ chức các quy trình. Nếu thực hiện t ại l ớp thì không th ể t ổ ch ức đ ược do ph ải s ắp
xếp lại bàn ghế, trong khi thời lượng tiết dạy chỉ có 35 phút. Còn t ổ ch ức h ọc t ập t ại phòng ch ức
năng với trường có 43 lớp học – 2 giáo viên chuyên thì cũng không đ ảm b ảo yêu c ầu, vì l ớp này h ọc
– lớp kia học ở đâu? Bên cạnh đó vẫn còn khá nhiều đi ểm giáo viên băn khoăn, lúng túng, không
biết thực hiện như thế nào cho đúng tinh thần đổi mới, cho đạt hiệu quả.
Từ thực tế giảng dạy bộ môn Mĩ thuật cho học sinh Tiểu học, bản thân tôi cũng g ặp không ít khó
khăn về vấn đề đồ dùng học tập này. Mỗi em được trang bị một h ộp màu sáp, m ột v ở v ẽ kh ổ A4, 1
bịt giấy màu. Nếu thực hiện quy trình Vẽ cùng nhau, V ẽ biểu cảm thì không có gì đáng bàn, nhưng
còn các quy trình khác thì sao? Dây kẽm, giấy bồi, keo, các v ật d ụng khác thì ph ải làm th ế nào đ ể
có? Yêu cầu phụ huynh mua cho các em là điều còn khó h ơn khi yêu c ầu ph ụ huynh đóng các lo ại
quỹ. Lý do:phần lớn phụ huynh là dân lao động tự do nên thiếu quan tâm đến việc học của học
sinh. Một số phụ huynh cho rằng Mĩ thuật là môn phụ nên con em h ọ h ọc đ ược gì, h ọc nh ư th ế nào
cũng chẳng đáng quan tâm. Chính vì vậy, hầu hết các chủ đề đều áp d ụng quy trình V ẽ cùng nhau
hoặc Vẽ biểu cảm, Vẽ theo nhạc, Xây dựng cốt truyện là chính, còn các quy trình khác không th ể
thực hiện được vì lý do trên.
Mặt khác đối với học sinh các em chủ yếu là nhận thức c ảm tính. Các em vẽ hình thường còn quá
nhỏ, không tự tin khi thể hiện (khi vẽ biểu đạt, tạo ngân hàng hình ảnh), bố cục trống trải (khi v ẽ
cùng nhau), tạo hình bằng đất nặn, xé dán hình chưa phong phú dẫn đến s ản phẩm đạt đ ược không
đẹp mắt, khó biểu đạt nội dung chủ đề. Mặt khác do chất liệu bút chì dễ tẩy xoá nên nhiều học sinh
quá lạm dụng tẩy, làm cho bài vẽ bị bẩn, thường bị rách giấy, hình v ẽ thiếu tự nhiên. Các bài v ẽ, các
sản phẩm của học sinh còn mang tính sao chép, na ná gi ống nhau, ch ưa có nhi ều sáng t ạo hay ý
tưởng đột phá. Khi vẽ màu thường đơn điệu, không có đậm nhạt, vẽ màu không g ọn. Trong khi có
thể nói các em rất thích học Mĩ thuật, thích v ẽ, thích xem tranh, thích đ ược sáng t ạo nh ưng các gi ờ
học vẫn đại đa số vẫn chưa thực sự thoải mái, chưa thật s ự là “không gian c ủa s ự sáng t ạo”. Các
em vẽ thường bị gò bó, công thức, đôi khi rập khuôn, sự suy nghĩ, tìm tòi ch ưa đ ược gi ải phóng,
hiện tượng bắt chước, lặp lại từ cách vẽ hình, vẽ màu, cách tìm ch ủ đ ề cho v ẫn còn chung
chung...Nhưng nếu giáo viên thiếu quan sát hay quản lý lớp là các em th ường nói chuy ện riêng, đùa
giỡn,làm ảnh hưởng đến lớp học bên cạnh.
Dựa trên những bất cập đó có thể tóm tắt một s ố thuận lợi và khó khăn khi áp d ụng ph ương
pháp mới vào giảng dạy bộ môn Mĩ thuật cho học sinh lớp 4 như sau.
2. Thuận lợi và khó khăn:
a. Thuận lợi:
* Về phía giáo viên:
- Giáo viên dạy Mĩ thuật luôn được sự quan tâm của Ngành c ấp trên, đ ặc bi ệt là Ban Giám
hiệu nhà trường thường xuyên động viên, khuyến khích giáo viên áp d ụng ph ương pháp m ới vào
giảng dạy, luôn tạo mọi điều kiện để giáo viên an tâm công tác và thực hiện tốt nhiệm v ụ được giao.
- Cơ sở vật chất của nhà trường khang trang, sạch đẹp.
- Nội dung chương trình Mĩ thuật Tiểu học có một s ố bài không phù h ợp vì mang y ếu t ố đ ặc
thù vùng miền, nhưng theo phương pháp mới thì giáo viên có thể đi ều ch ỉnh cho phù h ợp v ới tình
hình thực tế địa phương, khả năng nhận thức của học sinh mà không quá ph ụ thu ộc vào khuôn kh ổ
của chương trình hiện hành.
* Về phía học sinh:
- Các hoạt động của mỗi chủ đề nối tiếp liền mạch nhau, làm cho h ọc sinh luôn c ảm th ấy hào
hứng khi được khám phá, sáng tạo với nhiều trải nghiệm.M ặt khác, các em đ ược th ỏa thích v ới
những sáng tạo, được trao đổi, học hỏi từ bạn rất nhiều. Thông qua hoạt đ ộng m ỹ thu ật th ực t ế, h ọc
sinh tự mình làm tích lũy được cách biểu đạt, phân tích, đánh giá, t ự l ựa ch ọn và nh ận th ức đ ể hình
thành, phát triển những năng lực cá nhân. Chính bản thân các em s ẽ t ự tin trình bày nh ững ý ki ến
cá nhân trước tập thể.
- Có thể nói việc giảng dạy bộ môn Mĩ thuật rất hiện hành r ất t ốt, h ọc sinh r ất yêu thích môn
học vì là một giờ học không gò bó, không có nhiều áp l ực. Đó chính là m ột l ợi th ế, không ph ải môn
học nào cũng có được.
b. Khó khăn:
* Về phía giáo viên:
- Trang thiết bị phục vụ môn học chưa nhiều, chưa đủ đáp ứng nhu cầu cho d ạy - h ọc Mĩ
thuật.
- Nhà trường chưa có phòng học chức năng. Đối v ới phương pháp mới này ĐDDH cho giáo
viên là không có sẵn, hầu hết giáo viên phải tự chuẩn bị vật mẫu cho giáo viên và học sinh, phương
tiện, đồ dùng trực quan.. .
* Về phía học sinh:
Bảy quy trình dạy - học Mĩ thuật chủ yếu là đề cao khả năng tự học của học sinh, nhưng đ ể th ực
hiện được một quy trình các em phải chuẩn bị rất nhiều v ật dụng nh ư : gi ấy A0, A4, gi ấy b ồi, k ẽm,
băng keo, hộp giấy, vật dụng tìm được. Điều này quả là khó khăn cho c ả giáo viên và h ọc sinh, vì
bản thân các em chưa thể tự chuẩn bị được mà phải có s ự hỗ tr ợ t ừ phía ph ụ huynh. V ới “v ị trí” c ủa
môn học như hiện nay thì sự nhiệt tình của phụ huynh có đ ược nh ư mong mu ốn? Nhi ều em hoàn
cảnh khó khăn có được hộp màu và giấy vẽ đã là may mắn.
III. NỘI DUNG THỰC HIỆN
1. Điều tra cơ bản.
Trong những năm học vừa qua, tôi được phân công giảng dạy môn Mĩ thuật lớp 4A5, tôi thấy h ầu
hết các em đều thích học vẽ, các em học tập v ới tinh thần hăng say, c ảm nh ận đ ược cái hay, cái
đẹp được thể hiện từ nội dung và hình thức mỗi khi các em v ẽ một b ức tranh. Bên c ạnh đó còn m ột
số học sinh nhút nhát, rụt rè chưa mạnh dạn nói lên những suy nghĩ c ủa mình, m ột s ố em còn chán
nản không thích học vẽ, dẫn đến chất lượng bài vẽ hưa tốt. Tất c ả những v ấn đ ề trên r ất đáng lo
ngại, ảnh hưởng lớn đến việc học Mĩ thuật của học sinh cho nên tôi đã ti ến hành đi ều tra đ ầu năm
Tại lớp 4A5 năm học 2018 - 2019, xem các em đạt ở mức độ nào từ đó tìm ra bi ện pháp kh ắc ph ục
và kết quả như sau:
2. Biện pháp thực hiện
Từ thực tế giảng dạy ở giai đoạn đầu, phần đông học sinh yêu thích môn h ọc. Tuy nhiên v ẫn có
một số em rất thờ ơ, thậm chí chán nản mỗi khi đến giờ học, điều này khi ến cho ti ết h ọc tr ở nên
nặng nề, không hứng thú. Vì vậy việc khắc phục tâm lý cho học sinh quả là khó khăn và h ết s ức c ần
thiết. Dựa vào tâm lý của học sinh là thích khen ngợi, động viên và hay tò mò nên tr ước th ời gian
thực hành, tôi giới thiệu cho các em một số tác phẩm v ẽ tiêu biểu c ủa nh ững ho ạ sĩ nhí để các em
xem và tự học tập theo cách vẽ, cách thể hiện tranh. Phân tích cho các em th ấy đ ược cái hay, cái
đẹp được thể hiện qua các tác phẩm, động viên các em ai cũng có thể v ẽ đẹp. Vì thế s ự căng
thẳng và chán nản trong mỗi giờ học được giảm bớt đi, các em đã có h ứng thú h ơn v ới các ti ết h ọc.
Sau đó trong những bài học vẽ tranh tôi khuy ến khích các em v ẽ nhi ều và v ẽ đ ẹp cho h ọc sinh t ự
nhận xét, tự đánh giá tác phẩm của bạn có đẹp hay không đẹp và vì sao? Như v ậy tôi đã hướng d ẫn
cho các em biết tự nhận xét, đánh giá được bài vẽ của bạn và mình.
Môn học Mĩ thuật Đan Mạch không chỉ đòi hỏi các em vẽ phải có tính sáng t ạo, v ẽ đ ẹp mà các
bài tập thực hành còn đòi hỏi các em có sự c ảm nhận giá tr ị ngh ệ thu ật, n ắm đ ược m ục tiêu giáo
dục ở trong mỗi bài học. Vì thế trong quá trình giảng dạy tôi đã đưa ra m ột s ố bi ện pháp sau đây
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Mĩ thuật.
IV. CÁC BIỆN PHÁP DẠY HỌC MĨ THUẬT THEO PHƯƠNG PHÁP ĐAN MẠCH NH ẰM NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC MĨ THUẬT
1. Biện pháp 1: Lập kế hoạch dạy học thực hiện bảy quy trình mĩ thuật theo phương pháp
mới
1.1. Mục tiêu: Lập kế hoạch dạy chi tiết từng hoạt động giúp giáo viên chủ động và ứng phó k ịp
thời, đúng đắn các tình huống sư phạm có thể xảy ra trên lớp.
1.2. Cách thực hiện:
Khi dạy học dưới bất cứ phương pháp nào đều yêu cầu giáo viên phải lập được k ế ho ạch d ạy
học hoàn chỉnh. Đó không chỉ là đơn thuần thực hiện cho đúng nhi ệm v ụ khi lên l ớp mà nó còn th ể
hiện tinh thần trách nhiệm của mỗi giáo viên đối với học sinh. Có thể nói việc lập kế hoạch giảng dạy
tốt là đã thành công một nửa của quá trình dạy học. Giáo viên là ng ười đi ều khi ển quá trình và t ạo
điều kiện cho học sinh phát triển tư duy bằng các câu h ỏi m ở và khuy ến khích các em chia s ẻ
những kinh nghiệm sẵn có của mình. Điều này tạo ra nền tảng cần thi ết đ ể giúp các em ki ến t ạo
được quy trình học tập của mình bằng cách liên hệ những điều đã bi ết v ới nh ững đi ều s ẽ h ọc. Khi
lập kế hoạch giáo viên phải căn cứ vào tình hình thực tế của lớp để điều chỉnh, thay đổi cho phù h ợp
và sát với khả năng tiếp thu của học sinh. Kế hoạch cho t ừng ho ạt đ ộng ho ặc cho toàn b ộ quy trình
theo phương pháp Đan Mạch có thể ngắn, dài và kết nối, liên kết, xâu chu ỗi các ho ạt đ ộng quy trình
với nhau, kết thúc hoạt động này sẽ là mở đầu cho hoạt động tiếp theo… C ụ th ể khi xây d ựng k ế
hoạch dạy học theo phương pháp mới, giáo viên cần phải chú ý tới:
+ Mục tiêu bài học: Mỗi bài học, tiết học đều có mục tiêu chung là hướng tới hình thành cho h ọc sinh
phát huy khả năng tưởng tượng, sáng tạo và năng lực diễn đạt bằng l ời nói, h ọc sinh t ưởng t ượng
và sáng tạo được một câu chuyện bằng ngôn ngữ mĩ thuật. Tuy nhiên, giáo viên v ẫn c ần xác đ ịnh rõ
mục tiêu cụ thể của bài học đó là học sinh hiểu được gì? Thực hiện như thế nào và làm được gì?
1.3. Ví dụ minh họa:
1.3.1. Chủ đề Em sáng tạo cùng những con chữ
+ Nội dung tiết 1 là: Tìm hiểu về kiểu chữ nét đều, chữ nét thanh nét đậm
- Mục tiêu tiết 1là:Hs nêu được đặc điểm của kiểu chữ nét đều, nét thanh nét đ ậm và ki ểu ch ữ
trang trí.
-Tạo dáng chữ tên mình hoặc người thân theo ý thích.
- Biết giới thiệu và nhận xét sản phẩm
- Nội dung chủ đề: Nội dung các chủ đề phải v ừa s ức học sinh, phù h ợp v ới tâm lý l ứa tu ổi
của các em.
+ Nội dung tiết 2 là: Sáng tạo cùng những con chữ (cá nhân)
+ Mục tiêu tiết 2 là - Trang trí và vẽ màu sản phẩm tiết 1.
- Biết giới thiệu, nhận xét sản phẩm.
+ Nội dung tiết 3 là: - Sáng tạo cùng những con chữ (theo nhóm)
+ Mục tiêu tiết 3 là : - Biết sắp xếp sản phẩm của cá nhân trang trí tạo thành s ản phẩm nhóm.
- Biết giới thiệu, nhận xét sản phẩm.
- Điều kiện tiên quyết: Đó là những yêu c ầu thiết y ếu đ ể quá tình gi ảng d ạy có hi ệu qu ả, bao
gồm: Tạo điều kiện để học sinh học qua nhiều kênh; chú ý kh ả năng, phong cách h ọc c ủa t ừng h ọc
sinh; kết hợp kiến thức của bản thân học sinh và chiến l ược h ọc t ập;xây d ựng môi tr ường h ọc t ập
thân thiện, truyền cảm hứng cho các em.
- Môi trường học tập: Học tại lớp, học ở phòng chức năng hay sân tr ường. Môi tr ường h ọc t ập
thoải mái sẽ hỗ trợ rất nhiều cho quá trình dạy và học.
- Quá trình đánh giá học: Mỗi quá trình học là một sâu chuỗi các hoạt động diễn ra.
- Đánh giá: giá từng giai đoạn và đánh giá cả quá trình thực hiện.
Môn Mĩ thuật là môn dành thời gian chủ yếu cho học sinh thực hành, do v ậy giáo viên c ần
thiết kế tổ chức các hoạt động trải nghiệm phong phú, đa dạng nhưng không quá dài, m ất nhi ều th ời
gian. Tuyệt đối không đưa ra tranh vẽ, sản phẩm làm mẫu để học sinh quan sát tr ước khi th ực hành
mà phải để học sinh chủ động tích cực tìm hiểu và tham gia vào quá trình tranh lu ận, th ảo lu ận, bàn
bạc khi làm việc cùng các bạn. Để thực hiện việc lập k ế hoạch dạy h ọc chi ti ết, khoa h ọc và đ ảm
bảo đúng tinh thần đổi mới theo phương pháp của SAEPS , giáo viên cần tiến hành như sau:
a. Dự kiến các hoạt động dạy-học diễn ra theo trình tự hợp lý và nối tiếp nhau.
Mỗi tiết dạy, mỗi giai đoạn của một quy trình đều có những hoạt động và m ục tiêu giáo d ục
khác nhau, do đó đòi hỏi giáo viên phải xây dựng và đ ề ra nh ững n ội dung công vi ệc c ụ th ể, hình
thức học tập, cách thực hiện... Ví dụ ở
tiết 1: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu chủ đề ( chủ đề Ngày Tết, lễ hội và mùa xuân) trình tự các
hoạt động như sau:
- Tổ chức trò chơi: Ai nhanh hơn. Luật chơi: Mỗi nhóm cử 1 đại diện lên v ẽ cây. Học sinh dưới
lớp hát 1 bài. Khi hát hết bài thì các đội thi v ẽ phải ng ừng tay. Đ ội nào có h ọc sinh v ẽ nhanh, v ẽ
được nhiều hình cây nhất là đội thắng cuộc.
- Giáo viên cùng học sinh nhận xét phần thi đua của các đội.
- GV giới thiệu chủ đề: Đặt câu hỏi tìm hiểu chủ đề
*Em quan sát thấy những hình ảnh gì? Đó là những hoạt động nào? diễn ra ở đâu, khi nào?
*Không khí, cảnh vật, màu sắc trong hình như thế nào?
*Em hãy kể tên những lễ hội mà em biết?
*Em hãy kể một số hoạt động khác trong dịp tết c ổ truy ền c ủa dân t ộc ngoài nh ững ho ạt đ ộng em
thấy trong hình?
*Em yêu thích nhất hoạt động nào trong ngày tết, lễ hội và mùa xuân?
+ Để giúp các em thấy được vẻ đẹp của cảnh vật xung quanh chúng ta và vẽ được những
bức tranh thật đẹp, hôm nay cô và các em cùng tìm hiểu qua chủ đề: Ngày tết lễ hội và mùa xuân
- Giáo viên cho học sinh quan sát hình 6.2 SGK và nêu câu hỏi thảo luận:
* Em thích sản phẩm tạo hình nào nhất? đó là hoạt động gì của ngày tết, lễ hội và mùa xuân?
*Hình ảnh nào là hình ảnh chính? Hình ảnh nào là hình ảnh phụ trong mỗi s ản phẩm?
*Hình ảnh phụ có phù hợp với hình ảnh chính không?
*Sản phẩm em thích được tạo hình bằng chất liệu gì? Các hình ảnh được sắp x ếp như thế nào?
- Giáo viên tóm tắt :
+ Có rất nhiều hoạt động lễ hội và mùa xuân các con hãy cùng nhau cùng th ảo lu ận, tìm ra ho ạt
động mà mình thích.
- Học sinh thảo luận nhóm đôi: Kể cho bạn nghe v ề lễ hội hoặc hoạt đ ộng mùa xuân mình
thích.
- Một số học sinh kể trước lớp..
- GV kết luận: Vẽ tranh chủ đề về Ngày tết và mùa xuân đẹp em có thể vẽ được rất nhiều các
hình ảnh khác nhau. Có thể là gói bánh trưng, đua thuy ền...trong đó có thêm hình ảnh các cây đào,
hoa lá, người cho bức tranh thêm sinh động.
- Giáo viên và học sinh cùng nhận xét, rút ra cách vẽ.
- Học sinh hát một bài kết hợp vận động để kết thúc tiết học.
b. Dự kiến cách giới thiệu bài phong phú, đa dạng để lôi cuốn học sinh tham gia tích
cực vào tiết học.
Nhiều giáo viên quan niệm: Giới thiệu chỉ cần ngắn gọn, c ứ nêu ngay tên bài là xong mà ch ưa chú ý
nhiều đến tác dụng giáo dục của việc này. Nếu làm phép thử nghi ệm đ ể so sánh gi ữa hai hình th ức
giới thiệu bài trực tiếp và giới thiệu bài gián tiếp sẽ thấy rõ ngay hiệu quả như thế nào.
Ví dụ khi giới thiệu chủ đề Chúng em với thế giới động vật:
+ Cách 1:
- Giới thiệu trực tiếp: Hôm này cô và các em cùng tìm hi ểu v ề ch ủ đ ề Chúng em với thế giới động
vật:
- Hiệu quả: Học sinh nắm được tên bài học. Không khí lớp h ọc không thay đ ổi, h ọc sinh chăm chú
nghe nhưng chưa nắm được thêm bất cứ kiến thức gì ngoài tên bài.
+ Cách 2:
- Giới thiệu gián tiếp: Giáo viên tổ chức trò chơi ô ch ữ đoán tên con v ật (chú ý ch ỉ nêu tên và hình
con vật ), gợi ý học sinh tìm chữ. Khi học sinh đoán đúng thì hình con v ật đ ược l ật ra. K ết thúc trò
chơi, giáo viên giới thiệu: Đây là những con v ật quen thuộc. Đ ể giúp các em có th ể t ạo hình đ ược
những con vật mà mình thích, hôm nay cô và các em cùng tìm hiểu qua ch ủ đ ề Chúng em với thế
giới động vật
- Hiệu quả: học sinh nắm được tên bài học, biết được những con v ật nuôi và nh ưng con v ật s ống
trong tự nhiên, không khí lớp học sinh động, học sinh thích thú khi đ ược tham gia trò ch ơi. V ậy nên
giáo viên cần chú ý giới thiệu bài thông qua nhi ều hình thức nh ư: thông qua trò ch ơi, k ể m ột câu
chuyện nhỏ, một tình huống hay đóng vai, tạo dáng, tr ải nghi ệm th ực t ế…v ừa t ạo h ứng thú h ọc t ập
cho học sinh vừa cung cấp kiện thức một cách dễ hiểu nhất.
Chính vì vậy khi giới thiệu bài, giáo viên nên tạo không khí ph ấn kh ởi cho gi ờ h ọc, thu hút s ự chú ý,
gây tâm lý chờ đón, hồi hộp cho học sinh, không nên “đi ngay” vào nội dung.
c. Xây dựng các nội dung giúp học sinh trải nghiệm.
Trong giáo dục mĩ thuật giáo viên cần xây dựng các nội dung giúp h ọc sinh đ ược tr ải nghi ệm,
phát triển không ngừng. Ở học sinh có sự khác biệt ở mỗi em về khả năng quan sát, trí tưởng t ượng,
trí nhớ, cách thức thể hiện con người, con vật, đồ v ật v ề hình dáng, đ ặc đi ểm, c ấu trúc, t ỉ l ệ...H ọc
sinh được kích thích thông qua các khả năng c ủa bản thân cũng nh ư tr ải nghi ệm v ới ng ười khác
như: những thành viên trong gia đình, bạn bè và thậm chí nh ững ng ười m ới quen bi ết, v ới con v ật
yêu thích, đồ vật thân quen. Học sinh bị ảnh hưởng thông qua tiếp xúc v ới s ự v ật, hi ện t ượng xung
quanh thông qua các kênh thông tin như: ti vi, tạp chí, sách v ở, truy ện tranh, qu ảng cáo, internet và
các tác phẩm điêu khắc công cộng. Dần dần học sinh nhận biết được những cách thức thể hiện hình
ảnh con người khác nhau về hình dáng, cấu trúc, tỉ lệ như: phác họa con người, biểu cảm của nhân
vật, biểu tượng người khái quát... Do đó việc để học sinh tr ải nghi ệm r ất quan tr ọng, tùy theo t ừng
chủ đề mà giáo viên lựa chọn các hoạt động cho phù hợp giúp h ọc sinh nh ớ l ại ki ến th ức, nh ững k ỷ
niệm và tưởng tượng, đồng thời cho các em cơ hội chia s ẻ những gì các em đã bi ết khi trình bày v ề
sở thích, mối quan tâm, mơ ước hay ý tưởng. Qua quá trình này học sinh s ẽ có đ ược nh ững ki ến
thức thực tế để gợi mở cách nhìn nhận, cảm giác, sự tò mò, trí nhớ, trí t ưởng t ượng và phát tri ển
sức sáng tạo và biểu đạt thông qua việc được nghe k ể chuy ện, chia s ẻ ...
 









Các ý kiến mới nhất