Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

-su-kien-tao-xa-hoi-ve-thuc-tai

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:14' 09-02-2026
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Sự Kiến Tạo Xã Hội Về Thực Tại
—★—
Tác giả: Peter L. Berger & Thomas Luckmann
Người dịch: Trần Hữu Quang & nhóm dịch
Nhà xuất bản Tri Thức 6/2016
ebook©vctvegroup
12-11-2018

Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

BÀI GIỚI THIỆU
MỘT LÝ THUYẾT VỀ XÃ HỘI THEO LỐI TIẾP
CẬN HIỆN TƯỢNG HỌC CỦA P. BERGER VÀ T.
LUCKMANN

Mở đầu
Nề nếp sinh hoạt bình thường và thực tại cuộc sống hằng ngày được
người có ý thức thông thường trong xã hội coi là chuyện đương nhiên, không
có gì phải bàn. Ai cũng “biết” những điều mà mọi người coi là “có thực”
trong đời sống thường nhật.
Dưới mắt người bình thường, thực tại ấy có thể được nhìn nhận như “có
một sự tồn tại độc lập với ý muốn của chúng ta” và chúng ta “không thể 'rũ
bỏ đi' được”, theo lời Peter Berger và Thomas Luckmann. Tuy nhiên, dưới
cái nhìn xã hội học, thực tại ấy không phải là một thứ thực tại tự nó như thế
và không hề tồn tại tách rời khỏi cuộc đời của từng con người cá thể, mà
thực ra nó chính là một sản phẩm, một công trình được tạo lập bởi đời sống
xã hội và trong đời sống xã hội.
Theo Berger và Luckmann, thực tại mà mỗi người chúng ta chứng kiến và
trải nghiệm trong đời sống hằng ngày chính là “thực tại được kiến tạo về mặt
xã hội” (reality is socially constructed).
Nếu “thực tại” là thực tại được kiến tạo về mặt xã hội, thì cái mà người ta
“biết” trong đời sống thường nhật, tức là “kiến thức đời thường”, cũng là cái
đã được kiến tạo về mặt xã hội.
Cuốn Sự kiến tạo xã hội về thực tại của Berger và Luckmann là một tập
khảo luận xã hội học về “tất cả những gì được coi là 'kiến thức' trong xã
hội”, đặc biệt là về loại “kiến thức đời thường” mà bất cứ thành viên bình
thường nào trong một xã hội cũng đều có và chia sẻ với nhau.
Theo hai tác giả, chính thứ “kiến thức đời thường” ấy cấu tạo nên “thực
tại” của đời sống thường nhật. Như vậy, hai thuật ngữ mang tính chất chìa
khóa của công trình này chính là “kiến thức” và “thực tại”.
Đối với người bình thường, chẳng có ai băn khoăn hay thắc mắc về
chuyện cái gì là “có thực” (real) và về những điều mà mình “biết” (trừ phi

họ gặp một vấn đề trục trặc nào đó), bởi lẽ người ta thường coi “thực tại” và
“kiến thức” của mình là những chuyện đương nhiên phải như vậy (taken for
granted).
Nhưng nhà xã hội học thì lại không thể coi đấy là những “chuyện đương
nhiên”. Chính vì thế mà hai thuật ngữ “thực tại” và “kiến thức” ở đây được
đóng trong ngoặc kép, tức là hiểu theo lối nhìn của “người bình thường”
(men in the Street). Nhà xã hội học luôn có ý thức về sự kiện sau đây: người
bình thường luôn coi “thực tại” của xã hội mình đang sống là chuyện đương
nhiên, mặc dù các “thực tại” thường khác xa nhau giữa xã hội này với xã hội
khác. Nói như Pascal, chân lý ở bên này dãy Pyrénées lại bị coi là điều sai
lầm ở phía bên kia dãy núi ấy. Theo Berger và Luckmann, “cái 'có thực' đối
với một vị tu sĩ Tây Tạng có thể không 'có thực' đối với một nhà doanh
nghiệp Mỹ. 'Kiến thức' của kẻ phạm pháp khác với 'kiến thức' của một nhà
tội phạm học”.
Đối với nhãn quan xã hội học, người ta chỉ có thể hiểu được sự khác biệt
ấy nếu đặt “thực tại” và “kiến thức” của một người bình thường vào trong
bối cảnh xã hội đặc thù của anh ta, để so sánh với những điều đương nhiên”
của những người bình thường khác trong một bối cảnh xã hội đặc thù khác.
Như đã ghi trong tựa phụ của cuốn sách, đây là một tập khảo luận về xã
hội học nhận thức của Berger và Luckmann. Công trình này phân tích về các
nguồn gốc và các đặc trưng của kiến thức trong đời sống thường nhật, nhưng
không phân tích các dữ kiện thực nghiệm (mặc dù hai ông đưa ra rất nhiều
thí dụ thực tế), mà phân tích trên bình diện lý thuyết về xã hội. Điểm độc đáo
của công trình này là hai tác giả đã vận dụng lối tiếp cận hiện tượng học, và
kết quả phân tích đã đặc biệt khám phá ra mối liên hệ biện chứng giữa tiến
trình xã hội hóa của con người cá nhân với tiến trình kiến tạo nên thực tại xã
hội.
Đây là một trong những công trình xã hội học được đọc nhiều nhất trên
thế giới. Theo một cuộc thăm dò vào năm 1997 của Hiệp hội Xã hội học
Quốc tế, đây là một trong mười công trình xã hội học có ảnh hưởng lớn nhất

trong thế kỷ 20. Nó đã được dịch ra nhiều thứ tiếng như: tiếng Đức năm
1969, tiếng Bồ Đào Nha (ở Brazil) 1976, tiếng Pháp 1986 (tái bản có hiệu
đính năm 2012), tiếng Tây Ban Nha (ở Argentina) 1986, tiếng Nga 1995,
tiếng Ý 1997, tiếng Hoa 2001, tiếng Rumani 2005, và một số bản dịch tiếng
Ả Rập và tiếng Ba Tư đang tiến hành. Đây cũng là một cuốn sách gây nhiều
dấu ấn và ảnh hưởng mạnh đến tư tưởng học thuật của nhiều người, đến mức
mà người ta có thể nói là đã hình thành một cộng đồng vô hình bao gồm
những người từng đọc nó, thậm chí nhiều nhà xã hội học còn sẵn sàng kể lại
thời điểm mà họ lần đầu tiên bắt gặp cuốn sách của Berger và Luckmann
trong cuộc đời sự nghiệp của mình. Nói như Danilo Martuccelli, “đây là một
trong những cuốn sách hiếm hoi mà người ta có ấn tượng là đã ít nhiều làm
thay đổi mình”.
Tuy mang tên là tập khảo luận về xã hội học nhận thức, nhưng theo chúng
tôi, đây thực sự là một công trình mang ý nghĩa xã hội học tổng quát, vì nó
đã đi đến chỗ lý giải những khái niệm nền tảng của ngành xã hội học như
quá trình xã hội hóa, quá trình định chế hóa, và mối liên hệ biện chứng giữa
sự nhận thức của con người với thế giới xã hội.
Có thể nói những ý tưởng mà hai tác giả khai triển liên quan tới các quá
trình định chế hóa, chính đáng hóa và xã hội hóa đã gợi ra những kiến giải
mới vượt ra khỏi ngành xã hội học và đem đến những suy tưởng mới đáng
chú ý cho cả những ngành khoa học xã hội khác như nhân học, tâm lý học,
sử học, và kể cả triết học.

Tác giả và công trình
Peter Ludwig Berger là nhà xã hội học Mỹ gốc Áo. Ông sinh ngày 17-31929 tại Vienna (Áo). Sau Thế chiến thứ hai, ông di cư sang Mỹ năm 1946
lúc 17 tuổi, nhập quốc tịch Mỹ năm 1952. Berger học xã hội học và triết học,
đậu cử nhân văn khoa tại Wagner College (1949), sau đó lấy bằng thạc sĩ
(1950) và tiến sĩ (1954) tại trường đại học New School for Social Research ở
New York, ông lập gia đình năm 1959 với bà Brigitte Kellner (sau đó bà lấy
tên theo họ chồng là Brigitte Berger).
Sau thời gian làm giảng viên phụ khảo (assistant professor) tại Đại học
North Carolina ở Greensboro (1956-58) và phó giáo sư (associate professor)
tại Học viện thần học Hartford (1958-1963), kể từ năm 1963, Berger là giáo
sư xã hội học tại New School for Social Research, Đại học Rutgers (ở New
Brunswick), và Đại học Boston College. Từ năm 1981, ông là giáo sư xã hội
học và thần học ở Đại học Boston, và từ năm 1985, ông còn đồng thời làm
Viện trưởng Viện nghiên cứu văn hóa kinh tế (Institute for the Study of
Economic Culture), gần đây đổi thành Viện nghiên cứu văn hóa, tôn giáo và
các vấn đề quốc tế (Institute on Culture, Religion and World Affairs).
Lãnh vực học thuật chính của Peter Berger là xã hội học về tôn giáo và xã
hội học về nhận thức. Công trình nổi tiếng nhất của ông là cuốn sách mà độc
giả đang cầm trên tay, viết chung với Thomas Luckmann. Ông xuất bản khá
nhiều công trình, trong đó có những công trình đáng chú ý như: Invitation to
Sociology: A Humanistic Perspective (1963, Lời mời đến với xã hội học:
một nhãn quan nhân bản), A Rumor of Angels: Modern Society and the
Rediscovery of the Supernatural (1969, Một lời đồn đại về các thiên thần: Xã
hội hiện đại và việc tái khám phá cái siêu nhiên; viết cùng với Brigitte
Berger và Hansfried Kellner),The Homeless Mind. Modernization and
Consciousness (1973, Đầu óc vô gia cư. Hiện đại hóa và ý thức).
Thomas Luckmann là nhà xã hội học Mỹ-Áo. Ông sinh ngày 14-10-1927

tại thị trấn Jesenice thuộc vùng Slovenia của Nam Tư. Có cha là một doanh
nhân người Áo và mẹ là người Slovenia, nên ông nói được cả tiếng Slovenia
và tiếng Đức. Lúc nhỏ, ông đi học tại Jesenice, đến Thế chiến thứ hai, ông và
mẹ chuyển sang sống tại Vienna (Áo), ở đó, ông theo học triết học và ngôn
ngữ học tại Đại học Vienna và Đại học Innsbruck. Sau đó, ông đi Mỹ, học và
tốt nghiệp tại New School for Social Research, ở ngôi trường này, ông từng
là học trò của Alfred Schutz, người có ảnh hưởng sâu đậm tới tư tưởng của
ông sau này. Ông lập gia đình vào năm 1950 với bà Benita Luckmann (19251987).
Năm 1960, ông giảng dạy tại New School for Social Research, đến năm
1965, ông được bổ nhiệm giảng dạy tại Đại học Prankfurt (Đức), và từ năm
1970 cho đến khi nghỉ hưu vào năm 1994, ông là giáo sư xã hội học tại Đại
học Konstanz (Đức).
Sự nghiệp học thuật của Luckmann tập trung vào lý thuyết kiến tạo luận
xã hội (social constructivism), xã hội học hiện tượng học (phenomenological
sociology), xã hội học về nhận thức, xã hội học về tôn giáo, xã hội học về
truyền thông, và triết học về nhận thức. Các công trình nổi tiếng nhất của
ông là: The Social Constniction of Reality (1966, viết chung với Peter L.
Berger),The Invisible Religion (1967, Tôn giáo vô hình), và The Structures
of the Life-World (1973, Các cấu trúc của thế giới đời sống - đây là công
trình mà Luckmann tập hợp và biên tập bài vở của Alfred Schutz để xuất bản
sau khi Schutz qua đời).
Berger và Luckmann đã trải qua những giai đoạn trong cuộc đời khá
giống nhau. Cả hai đều học trung học ở Vienna (Áo), rồi đều sang Mỹ để
lánh nạn phát-xít, đều là sinh viên của trường đại học New School for Social
Research ở New York, một định chế học thuật cổ xúy cho những dòng tư
tưởng mới, tách rời khỏi truyền thống xã hội học đương thời đang nằm dưới
sự thống trị của tư tưởng chức năng luận của Talcott Parsons (1902-1979) ở
Đại học Harvard trong thập niên 1950. Nhờ có được nhiều học giả khoa học
xã hội vừa nhập cư từ châu Âu trước và sau Thế chiến thứ hai, trường New

School này là nơi phát triển truyền thống xã hội học Âu châu trên đất Mỹ,
một truyền thống có đặc trưng là gắn kết chặt chẽ ngành triết học với các
ngành khoa học xã hội. Chính là ở trường này mà Berger và Luckmann lần
đầu tiên gặp nhau tại một cuộc tọa đàm được tổ chức bởi nhà triết học Đức
Karl Löwith (1897-1973). Có lẽ ảnh hưởng quan trọng nhất quyết định
đường hướng sự nghiệp của Berger và Luckmann chính là những công trình
của nhà triết học Mỹ gốc Áo Alfred Schutz (1899-1959), thầy của Luckmann
ở trường New School.
Cả Berger và Luckmann đều cùng dạy tại trường đại học New School for
Social Research ở New York khoảng những năm 1963-65, cùng quan tâm tới
xã hội học tôn giáo, đều đi theo xu hướng hiện tượng học của Alfred Schutz,
và đều cảm thấy thất vọng trước tình hình các lý thuyết xã hội ở Mỹ trong
thập niên 1960. Trong thời gian giảng dạy ở New School, hai ông đã viết
chung bốn công trình, trong đó có cuốn mà độc giả đang cầm trên tay, và hai
bài liên quan tới xã hội học về tôn giáo. Ngoài ra, hai ông còn viết khá nhiều
công trình về xã hội học tôn giáo.
Sở dĩ Berger và Luckmann quan tâm nhiều tới xã hội học tôn giáo là vì
hai ông quan niệm rằng tôn giáo không phải là một lãnh vực cá biệt, mà
chính là lãnh vực trung tâm của thực tại xã hội, đúng theo quan niệm của
Emile Durkheim và Max Weber mà hai ông cũng chịu ảnh hưởng nhiều. Đó
là một ý tưởng mà các nhà xã hội học đã xem nhẹ hoặc bỏ quên trong nhiều
thập kỷ, nhất là khi xã hội học tôn giáo phát triển thành một bộ môn chuyên
ngành. Ngay trong cuốn Sự kiến tạo xã hội về thực tại này, hai tác giả cũng
đã nhiều lần đề cập tới những hệ thống tư tưởng tôn giáo như những vũ trụ ý
nghĩa có tầm quan trọng đặc biệt trong việc chính đáng hóa hệ thống xã hội
và bảo tồn đời sống xã hội. Berger và Luckmann coi môn xã hội học tôn giáo
là một bộ phận thuộc về môn xã hội học nhận thức - vốn là môn đặt ra một
vấn đề căn bản của ngành xã hội học, đó là làm sao giải thích được các hình
thái xã hội của sự nhận thức và của các kiến thức, cách phân bố kiến thức
trong xã hội, và tiến trình chính đáng hóa các kiến thức trong xã hội.

Ý định viết cuốn sách này đã nhen nhóm hình thành từ mùa hè năm 1962
qua những cuộc trò chuyện “ở dưới chân và đôi khi ở trên đỉnh dãy núi Alps
phía tây nước Áo”, theo lời kể của hai tác giả trong Lời tựa. Lúc đầu, dự án
cuốn sách này còn bao gồm cả một nhà xã hội học và hai nhà triết học nữa,
trong đó có Hansfried Kellner và Stanley Pullberg, nhưng cuối cùng chỉ còn
Berger và Luckmann.
Đây không phải là một công trình khảo cứu xã hội học thực nghiệm, tức
là không dựa trên những dữ kiện khảo sát thực tế, mà là một công trình
nghiên cứu lý thuyết về môn xã hội học nhận thức, và có thể coi đây là một
nỗ lực tích hợp về mặt lý thuyết xã hội học.
Cuốn sách này được xuất bản ở New York (Mỹ) vào năm 1966, và ngay
lập tức đã gây tiếng vang trong giới khoa học xã hội, nhất là khi người ta
thấy xuất hiện lần đầu tiên khái niệm “social construction” (sự kiến tạo xã
hội) trong lãnh vực xã hội học. Đây là một cuốn sách tương đối dễ đọc (mặc
dù cũng có người chê là khó đọc) so với nhiều cuốn lý thuyết xã hội học
khác, đáng chú ý là được lồng vào rất nhiều thí dụ minh họa cụ thể dễ hiểu,
và nhất là được viết với lối văn phong khá hài hước ở nhiều đoạn.
Tập sách bao gồm ba phần, trong đó luận điểm then chốt của hai tác giả
nằm trong phần 2 và phần 3. Ở phần nhập đề (Vấn đề của môn xã hội học
nhận thức), hai tác giả đã điểm qua lịch sử hình thành môn xã hội học nhận
thức để định vị cách hiểu và lối tiếp cận của mình, đặc biệt là để định nghĩa
lại đối tượng của bộ môn này. Phần 1 (Những nền tảng của sự nhận thức
trong đời sống thường nhật) đề cập tới những đặc trưng của đời sống thường
nhật, cách lãnh hội của cá nhân đối với đời sống thường nhật, và kiến thức
trong đời sống thường nhật, trong đó phương tiện quan trọng nhất để có
được thứ “kiến thức đời thường” này chính là ngôn ngữ. Phần 2 (Xã hội xét
như là thực tại khách quan) đề cập tới các nội dung của quá trình định chế
hóa và của quá trình chính đáng hóa đối với các trật tự định chế; đây là phần
mà hai tác giả trình bày “quan niệm căn bản” của mình “về các vấn đề của
bộ môn xã hội học nhận thức”. Phần 3 (Xã hội xét như là thực tại chủ quan)

bàn đến quá trình xã hội hóa, trong đó đặc biệt đi sâu vào những nội dung
như tiến trình nội tâm hóa và tiến trình hình thành căn cước của cá nhân; đây
là phần mà hai tác giả “ứng dụng” quan niệm xã hội học nhận thức của mình
“vào bình diện ý thức chủ quan, và từ đó xây dựng một chiếc cầu lý thuyết
nối đến các vấn đề của ngành tâm lý học xã hội”. Phần kết luận (Xã hội học
nhận thức và lý thuyết xã hội học) bàn về tầm quan trọng của môn xã hội học
nhận thức đối với lý thuyết xã hội học xét một cách tổng quát.
Có một điểm hết sức mấu chốt mà độc giả cần lưu ý để tránh ngộ nhận về
mối quan hệ lô-gíc giữa phần 2 với phần 3: “xã hội xét như là thực tại khách
quan” (phần 2), và “xã hội xét như là thực tại chủ quan” (phần 3). Đây
không phải là hai thực tại khác nhau, mà là hai mặt của cùng một thực tại,
xét dưới hai góc nhìn khác nhau. Nhằm tìm hiểu đặc trưng của mối quan hệ
giữa cá nhân với xã hội, hai tác giả đã đi theo một lối tiếp cận độc đáo xuất
phát từ cả quan điểm của Durkheim lẫn quan điểm của Weber để có thể giải
thích được “tính chất lưỡng diện của xã hội xét về mặt kiện tính khách quan
và về mặt ý nghĩa chủ quan”. Trong lúc Durkheim chú trọng “mặt kiện tính
khách quan” của xã hội, coi “các sự kiện xã hội như những đồ vật”), thì
Weber nhấn mạnh đến “mặt ý nghĩa chủ quan” của hành động con người
trong xã hội. Theo Berger và Luckmann, hai quan điểm này không hề đối lập
nhau, mà chỉ là hai góc nhìn chú ý đến hai mặt khác nhau của thực tại xã hội.
Từ đó, hai tác giả đặt ra câu hỏi nghiên cứu sau đây; “Làm thế nào mà
những ý nghĩa chủ quan […] có thể trở thành những kiện tính khách
quan?”. Hay nói khác đi, “làm thế nào hoạt động của con người lại có thể
sản xuất ra được một thế giới đồ vật?” (chỗ nhấn mạnh là do hai tác giả).
Theo hai tác giả, đây không chỉ là câu hỏi của môn xã hội học nhận thức, mà
cũng chính là “câu hỏi trung tâm của lý thuyết xã hội học” mà công trình này
phải trả lời.
Một cách ngắn gọn, có thể nói rằng mục tiêu của toàn bộ công trình này
của Berger và Luckmann là “truy tìm cách thức mà thực tại [xã hội] được
kiến tạo nên”. Ở đây, chúng tôi thiết tưởng cần nói thêm về ý nghĩa của cái

tựa của công trình này (“sự kiến tạo xã hội về thực tại” - the social
construction of reality), và về cụm từ then chốt mà hai tác giả thường nhắc đi
nhắc lại, đó là “được kiến tạo về mặt xã hội” (socially constructed). Sở dĩ
hai ông nói rằng thực tại “được kiến tạo về mặt xã hội” chứ không nói “bởi
xã hội” (by the society), đó là vì ba lý do sau đây, theo cách hiểu của chúng
tôi. Trước hết, cụm từ này có nghĩa là thực tại luôn được kiến tạo bởi những
nhóm xã hội nhất định, những cộng đồng hay tập thể nào đó, chứ không phải
bởi toàn bộ xã hội nói chung; vả lại, nếu nói “bởi xã hội”, người nghe sẽ dễ
bị rơi vào ngộ nhận cho rằng “xã hội” là một thực thể thuần nhất và biệt lập,
nằm bên ngoài và bên trên con người cá nhân. Kế đến, nói rằng thực tại được
kiến tạo “về mặt xã hội” thì có nghĩa là muốn nhấn mạnh đến khía cạnh hành
động, khía cạnh tiến trình của sự kiến tạo, chứ không chỉ nói về kết quả của
sự kiến tạo ấy. Và thứ ba, ý tưởng mấu chốt ở đây là sự kiến tạo ấy luôn luôn
diễn ra trong sự tương giao xã hội giữa con người với nhau. Nhân tiện đây,
chúng ta có thể lưu ý là trong toàn bộ công trình này, Berger và Luckmann
họa hoằn lắm mới sử dụng cụm từ “bởi xã hội” (chỉ có một lần, “by society”,
ở trang 100 trong bản gốc), còn ngoài ra luôn nói “về mặt xã hội” (socially),
chẳng hạn: “được kiến tạo về mặt xã hội” (socially constructed), hoặc “được
định đoạt về mặt xã hội” (socially determined). Lối nói này chắc hẳn bao
hàm ý tưởng mà chúng tôi vừa nêu.
Ở phần 2, khi nói đến “xã hội xét như là thực tại khách quan”, hai tác giả
đã phân tích những nguồn gốc sinh thành (genesis) của các thành tố của thực
tại này (như các định chế, các vai trò, truyền thống, v.v.) vốn xuất phát từ
các tiến trình khách thể hóa của ý thức chủ quan của các cá nhân trong một
thế giới liên chủ thể (nói cách khác, thực tại khách quan là sản phẩm của sự
khách thể hóa của những tiến trình chủ quan); thực tại xã hội ấy được các cá
nhân coi là thực tại mang tính chất khách quan (họ lãnh hội nó như cái gì có
thực, tự nó hiển nhiên, nằm bên ngoài ý thức của mình). Còn khi đề cập tới
“xã hội xét như là thực tại chủ quan” (phần 3), hai tác giả đi vào phân tích
những tiến trình nội tâm hóa cái thực tại khách quan ấy nơi ý thức cá nhân,

tức là tiến trình biến những ý nghĩa đã-được-khách-thể-hóa về mặt xã hội
thành ý nghĩa của cuộc đời của chính mình; và đây cũng chính là những tiến
trình xã hội hóa của từng cá nhân.

Những điểm độc đáo của công trình
Theo Danilo Martuccelli, cuốn sách này có tầm quan trọng trong vòng
hơn 45 năm qua là do nó “chiếm một vị trí rất đặc biệt, nếu không muốn nói
là duy nhất, trong lịch sử tư tưởng xã hội học”. Sở dĩ như vậy, theo
Martuccelli, đó là do nó có bảy điểm độc đáo sau đây.
Trước hết, cuốn sách đã đề cập tới rất nhiều tác giả xã hội học và triết học
cổ điển và đương đại, nhưng không trực tiếp luận chiến hoặc công kích bất
cứ ai, kể từ Karl Marx, Émile Durkheim, Max Weber, Georg Simmel, cho
tới George H. Mead, Jean-Paul Sartre, Talcott Parsons và Erving Goffman.
Đó cũng là một cách thức đặc trưng góp phần vào cuộc đối thoại hết sức cần
thiết giữa các nhà xã hội học và giữa các trường phái khác nhau, nhằm tránh
xu hướng “cục bộ hóa” mà nhiều trường phái lý thuyết lâu nay thường rơi
vào.
Thứ hai, công trình này đi theo truyền thống hiện tượng học của Edmund
Husserl và Alfred Schutz, nhưng cũng có khai triển thêm những ý tưởng mới
vận dụng vào trong lãnh vực nghiên cứu xã hội học. Chúng tôi sẽ trở lại với
phương pháp hiện tượng học ở một mục sau.
Thứ ba, hai tác giả đã khá nhiều lần đề cập tới những tư tưởng của truyền
thống mác-xít, nhấn mạnh đến chiều kích lịch sử trong mối quan hệ hỗ tương
giữa xã hội với cá nhân, và từ đó khai triển một tầm nhìn mang tính biện
chứng về sự hình thành của trật tự xã hội.
Thứ tư, hai tác giả đã tìm cách nối kết và tích hợp giữa lý thuyết về chủ
thể hành động của George H. Mead với lý thuyết về cấu trúc xã hội của É.
Durkheim nhằm đi đến chỗ nhận diện ra mối quan hệ biện chứng giữa cá
nhân với xã hội. Ý tưởng này về sau được nhiều tác giả khai triển, đặc biệt là
Jürgen Habermas. Theo Martuccelli, sự tích hợp ấy về sau này đã trở thành
điều quen thuộc trong giới xã hội học, nhưng vào thập niên 1960 vẫn còn là
chuyện hết sức xa lạ.

Thứ năm, công trình này nhắc nhiều tới Talcott Parsons, nhưng giữa
Parsons và G. H. Mead thì hai tác giả nghiêng về Mead hơn. Tuy vẫn nhìn
nhận cái lý của lý thuyết chức năng luận, nhưng họ nhấn mạnh hơn đến
những khía cạnh tri nhận của đời sống xã hội; thay vì chú ý đến vai trò hội
nhập của các giá trị, họ nhấn mạnh đến những sự xung đột về tính chính
đáng; thay vì quan tâm tới những sự trung giới vô nhân xưng trong các quá
trình xã hội hóa, họ chọn lựa lối tiếp cận khảo sát các mối liên hệ trao đổi
truyền thông trong đời sống thường nghiệm hằng ngày.
Thứ sáu, đây là một công trình xã hội học nhận thức: hai tác giả không
quan niệm rằng xã hội học nhận thức chỉ là một nhánh chuyên ngành của xã
hội học, mà chính là nền tảng thiết yếu của một lý thuyết tổng quát về xã hội.
Và thứ bảy, cuốn sách này là một công trình khảo cứu liên ngành - đây là
điều vẫn còn khá hiếm hoi trong lãnh vực xã hội học. Lập luận của Berger và
Luckmann đã vận dụng nhiều góc nhìn như: lối tiếp cận triết học; hướng
nghiên cứu những khía cạnh sinh học của ngành nhân học nhân văn (theo
hướng của Arnold Gehlen) cùng những hệ quả của chúng liên quan tới các
tập quán và nề nếp sinh hoạt hằng ngày (đặc biệt là vai trò của những tiến
trình tập quán hóa trong quá trình định chế hóa); những lý thuyết tâm lý học
về quá trình xã hội hóa, để từ đó đi đến những nhận định về việc hình thành
căn cước của cá nhân. Tuy vậy, công trình này không rơi vào một thứ chiết
trung, chỉ tổng hợp nhiều loại lý thuyết khác nhau, mà tỏ rõ đây là một diễn
trình lập luận lô-gíc và chặt chẽ, nhờ đi theo cái trục xương sống là phương
pháp hiện tượng học của Schutz.
Nhìn chung, theo Martuccelli, có thể coi cuốn Sự kiến tạo xã hội về thực
tại là “một bản tóm lược thực sự lịch sử của tư tưởng về xã hội”.
Như đã nói, trong công trình này, Berger và Luckmann đã vận dụng
phương pháp hiện tượng học dựa trên đường hướng của Alfred Schutz, và
hai ông coi đây là tiền đề nền tảng dẫn vào việc phân tí
 
Gửi ý kiến