su-ngheo-nan-cua-thuyet-su-luan

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:26' 09-02-2026
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:26' 09-02-2026
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Thông tin sách
Tên sách: Sự nghèo nàn của thuyết sử
luận
Nguyên tác: The poverty of historicism
- Routledge, 1974
Tác giả: Karl Popper
Người dịch: Chu Lan Đình
Nhà xuất bản: NXB Tri thức
Kích thước: 12x20 cm
Ngày phát hành: 2012
Số trang: 272
Giá bìa : 55.000đ
Thể loại: Triết học - Chính trị
Thông tin ebook
Nguồn: http://tve-4u.org
Type+Làm ebook: banycol
Ngày hoàn thành: 01/01/2016
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Ebook này được thực hiện nhằm chia
sẻ cho những bạn không có điều kiện
mua sách!
Còn nếu bạn có khả năng hãy mua
sách ủng hộ nha!
Để tưởng nhớ đến tầng tầng lớp đàn
ông và phụ nữ thuộc mọi tín ngưỡng,
mọi quốc gia hay mọi sắc tộc, từng là
nạn nhân của niềm tin phát xít và
niềm tin theo lối công xã vào những
định luật vô cảm của vận mệnh lịch
sử.
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
LỜI NHÀ XUẤT
BẢN
Trên tay bạn đọc là bản dịch tiếng Việt
cuốn sách The Poverty of Historicism
(Sự nghèo nàn của thuyết sử luận). Tác
giả của nó là Karl Raimund Popper
(28/07/1902, Wien, Áo - 17/09/1994,
London, Anh), triết gia Anh, gốc Áo,
nguyên giáo sư Viện Kinh Tế London,
được đánh giá là một trong những triết
gia có nhiều ảnh hưởng nhất thế kỷ XX.
Như giới triết học đánh giá, ông đã đưa
ra một thứ “triết lý phê phán không-biệnminh đầu tiên trong lịch sử triết học”. Tư
tưởng triết học của ông bao trùm các lĩnh
vực:
- Triết học khoa học với các tác phẩm
Logic phát kiến khoa học (Logik der
forschung, Wien, 1934), Phỏng định và
Bác bỏ (Conjectures and refutation,
1953), Tri thức khách quan (Objective
knowledge, 1972). Qua loạt tác phẩm
này, ông phê phán gay gắt quan điểm duy
nghiệm luận và cho rằng các lý thuyết
khoa học về bản chất là trừu tượng, nên
chỉ có thể trắc nghiệm chúng một cách
gián tiếp thông qua sự quy chiếu với các
hệ quả thực nghiệm của chúng. Tuy
nhiên, Popper thừa nhận ông chỉ xây
dựng một tri thức luận mới cho các khoa
học thường nghiệm chứ không hề bác bỏ
tính hợp thức và giá trị của những cách
tiếp cận tự nhiên khác (như triết học,
siêu hình học, phân tâm học.v..v.).
- Triết học chính trị và xã hội với các
tác phẩm Sự nghèo nàn của thuyết sử
luận (The poverty of historicism, 1936,
1957), và Xã hội mở và những kẻ thù
của nó (The open society and its
enemies, 1945). Ở đây, Popper chủ yếu
tập trung phê phán các ông gọi là thuyết
sử luận hoặc là quan điểm duy vật lịch
sử (historicism) và những lý thuyết chính
trị được xây dựng trên cơ sở quan điểm
đó, đồng thời đưa ra một cái nhìn bất
định (indeterminist) về thế giới. Thay
v à o thuyết sử luận, Popper đề xướng
một triết lý căn bản trên nền tảng thuyết
bất định, phù hợp với quan điểm tri thức
luận của ông, theo đó tri thức tiến bộ
thông qua quá trình thử và loại bỏ sai
lầm: để giải quyết một vấn đề người ta
phải đề xuất nhiều giải pháp mang tính
giả thuyết rồi mang ra thử và loại bỏ
những sai lầm.
- Về tiến hóa và chức năng của ngôn
ngữ: Karl Popper không những quan tâm
tới triết học khoa học, triết học chính trị
mà còn đưa ra nhiều quan điểm hết sức
độc đáo và sâu sắc về thuyết tiến hóa, về
logic học, về nghiên cứu ngôn ngữ và
nhiều lĩnh vực tư tưởng khác. Những ý
niệm về các lĩnh vực đó được trình bày
rải rác trong các tác phẩm lớn nói trên
và trong các tác phẩm khác như
Quantum theory and the Schism in
physics (1956/57), Realism and the aim
of science (1956/57), Unended quest:
an intellectual autobiography (1976),...
Năm 2012, thế giới kỷ niệm 110 năm
ngày sinh của Karl Popper, cũng là lúc
chúng ta tìm hiểu kỹ hơn về di sản triết
học của ông. Mặc dù có không ít ý kiến
phê phán các quan điểm của Popper
nhưng ảnh hưởng của ông là rất rõ nét
đối với các trào lưu triết học phương
Tây trong thế kỷ XX và cho đến hiện
nay. Chúng tôi xin lưu ý bạn đọc rằng
đây là sách tham khảo, chủ yếu dành cho
những người làm công tác nghiên cứu.
Để đảm bảo tính khách quan cũng như sự
tôn trọng tính toàn vẹn của tác phẩm,
chúng tôi xin được giới thiệu đầy đủ bản
dịch đến bạn đọc. Rất mong bạn đọc cân
nhắc khi tiếp nhận quan điểm của các tác
giả với tinh thần phê phán cần thiết.
Bản in này chúng tôi đặc biệt dành để
tưởng nhớ đến dịch giả Chu Lan Đình
(1942 - 2012) vì sự trân trọng và cẩn
trọng của ông với từng chữ, từng ý tưởng
của tác giả.
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
CHÚ THÍCH VỀ
NIÊN BIỂU
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Luận điểm chính được đề cập đến trong
cuốn sách này - tức là luận điểm cho
rằng niềm tin vào vận mệnh lịch sử là
một niềm tin mang màu sắc mê tín tuyệt
đối, và cũng là luận điểm cho rằng dù có
sử dụng những phương pháp khoa học
hay bất cứ phương pháp có lý tính nào
khác, cũng không ai có thể đoán trước
những bước phát triển của lịch sử loài
người - được manh nha hình thành từ
những năm 1919 - 1920. Những nét cơ
bản của luận điểm này được phác thảo
đầy đủ vào năm 1935, và được trình bày
lần đầu vào tháng Hai năm 1936 dưới
hình thức một bài viết có nhan đề “Sự
nghèo nàn của thuyết sử luận” (The
Poverty of Historicism) trong một cuộc
tọa đàm tự tổ chức tại tư gia của bạn tôi
là Alfred Braunthal ở Brussels. Tại buổi
tọa đàm này, một sinh viên cũ của tôi đã
đưa ra một số ý kiến đóng góp quan
trọng. Đó là tiến sĩ Karl Hilferding,
người đã sớm trở thành nạn nhân của
Gestapo và của những niềm tin mang tính
sử luận dị đoan của Đệ Tam Quốc Xã.
Trong cuộc tọa đàm này còn có sự tham
gia của một vài triết gia khác. Ngay
không lâu sau đó, tôi có trình bày một
tham luận tương tự tại cuộc hội thảo do
F. A. Hayek tổ chức ở Học Viện Kinh Tế
London. Việc xuất bản chậm trễ mất vài
năm vì bản thảo tôi giao cho một tập san
triết học định kỳ bị từ chối. Sau đó bài
viết đã được đăng tải lần đầu vào ba kỳ
trên tạp chí Economica, Bộ Mới, tập XI,
số 42 và 43, 1944, và tập XII, số 46,
1945. Tiếp đó, một bản dịch tiếng Italia
(Milano, 1954) và một bản dịch tiếng
Pháp (Paris, 1956) đã được ra mắt dưới
dạng sách. Trong lần xuất bản mới này,
bài viết đã được chỉnh sửa và bổ sung.
LỜI TỰA
Trong cuốn Sự nghèo nàn của thuyết sử
luận, tôi muốn chứng minh rằng thuyết sử
luận là một phương pháp nghèo nàn - một
phương pháp không đơm hoa kết trái.
Nhưng tôi đã không thể thực sự bác bỏ
được thuyết này.
Nhưng rồi về sau, tôi nghĩ mình đã thành
công trong việc tìm ra một lời bác bỏ đối
với thuyết sử luận: bằng những lí lẽ
hoàn toàn logic, tôi đã chứng minh
được rằng chúng ta không cách gì tiên
đoán được tiến trình tương lai của lịch
sử.
Luận cứ được đưa ra để chứng minh điều
đó nằm trong bài viết của tôi có tựa đề
Thuyết bất định trong vật lý cổ điển và
trong vật lý lượng tử (Indeterminism in
classical physics and in quantum
physics) được công bố năm 1950. Nhưng
nay tôi không còn thấy thỏa mãn với bài
viết này nữa. Một cách diễn giải thỏa
đáng hơn được trình bày tiếp đó trong
chương viết về Thuyết bất định, là một
phần của Lời bạt: Sau hai mươi năm
(Postscript: after twenty years) trong
cuốn Logic phát kiến khoa học (Logic
of scientific discovery) của tôi.
Để độc giả nắm được những kết luận mới
hơn này, tôi xin phác qua những nét chính
của luận cứ nhằm bác bỏ thuyết sử luận.
Luận cứ này có thể được tóm lược trong
năm phát biểu ghi nhận như sau:
1. Tiến trình lịch sử nhân loại bị ảnh
hưởng rất mạnh bởi sự phát triển đi lên
của tri thức nhân loại (thậm chí những ai
chỉ cần thấy được những sản phẩm phụ
của những quá trình phát triển mang tính
hữu hình này kia trong các ý niệm của
chúng ta, gồm cả những ý niệm khoa học,
cũng đều phải công nhận một tiền đề như
vậy là đúng đắn).
2. Bằng những phương pháp có lý tính
hoặc những phương pháp khoa học,
chúng ta cũng không thể tiên đoán sự
phát triển đi lên của tri thức khoa học
trong tương lai (lời khẳng định này có
thể được chứng minh một cách logic
thông qua những nhận định sơ lược sau
đây).
3. Bởi vậy, chúng ta không thể tiên đoán
tiến trình tương lai của lịch sử nhân loại.
4. Điều đó có nghĩa là chúng ta phải loại
bỏ khả năng có một môn sử học lý
thuyết, tức là một khoa học về lịch sử xã
hội tương đương môn vật lý lý thuyết.
Không thể có một lý thuyết nào về sự
phát triển lịch sử được lấy làm cơ sở
cho tiên đoán lịch sử.
5. Mục đích cơ bản của những phương
pháp sử luận (xem các mục từ 11 đến 16
của sách này) do đó đã bị hiểu sai; và
thuyết sử luận như vậy là sụp đổ.
Luận cứ trên tất nhiên không nhằm bác
bỏ tất cả những khả năng tiên đoán xã
hội; ngược lại, nó hoàn toàn tương thích
với khả năng trắc nghiệm các lý thuyết xã
hội - chẳng hạn các lý thuyết về kinh tế bằng việc tiên đoán rằng một vài quá
trình phát triển nhất định nào đó sẽ diễn
ra trong những điều kiện nhất định. Nó
chỉ nhằm bác bỏ khả năng tiên đoán các
quá trình phát triển lịch sử dựa trên quan
điểm coi chúng như những quá trình bị
tác động bởi sự phát triển đi lên về tri
thức của chúng ta.
Bước quyết định trong luận cứ này là
phát biểu ghi nhận (2). Tôi cho rằng bản
thân nó đã mang tính thuyết phục: nếu có
cái gọi là sự phát triển đi lên của tri
thức ấy, thì thậm chí ở ngày hôm nay
chúng ta cũng chẳng thể dự đoán được
ngày mai chúng ta sẽ biết được điều gì.
Tôi cho rằng nói như vậy nghe có vẻ hợp
lý nhưng không thể là một phép chứng
minh logic cho lời phát biểu. Những
bước chứng minh cho (2) mà tôi đã trình
bày trong những ấn phẩm vừa được nhắc
đến rất phức tạp; và tôi cũng không ngạc
nhiên nếu thấy có được những phép
chứng minh đơn giản hơn. Tôi chứng
minh bằng cách chỉ ra rằng không có một
nhà tiên tri khoa học nào - dù đó là một
nhà khoa học bằng xương bằng thịt hay
một cỗ máy tính - có khả năng, bằng
những phương pháp khoa học, tiên
đoán được những kết quả trong tương
lai của chính mình. Những nỗ lực thực
hiện điều đó chỉ có thể đạt được kết quả
sau khi việc đã rồi, lúc đã quá muộn cho
một lời tiên đoán; kết quả chỉ có thể có
sau khi lời tiên đoán đã biến thành lời
hồi đoán.
Mang tính thuần túy logic, luận cứ này áp
dụng được cho tất cả các nhà tiên tri
khoa học thuộc mọi thể thức, bao gồm cả
những “hội” các nhà tiên tri đang trong
mối tương giao. Và điều đó muốn nói lên
rằng không một xã hội nào có thể tiên
đoán một cách khoa học những tri thức
mà bản thân mình sẽ có được trong tương
lai.
Luận cứ của tôi ít nhiều mang tính hình
thức, và do vậy có quyền bị nghi ngờ là
không mang một ý nghĩa thực tiễn nào, kể
cả nếu về mặt logic nó được hoàn toàn
đảm bảo là có giá trị hiệu lực.
Tuy nhiên, tôi đã cố chỉ ra ý nghĩa của
vấn đề trong hai công trình khảo cứu. Ở
công trình khảo cứu thứ hai, Xã hội mở
và những kẻ thù của nó (The open
society and its enemies), tôi đã chọn ra
vài sự kiện từ lịch sử của thuyết sử luận
nhằm minh họa cho ảnh hưởng dai dẳng
và độc hại của nó đến triết học xã hội và
triết học chính trị, từ Heraclitus và Plato
cho tới Hegel và Marx. Trong công trình
thứ nhất, Sự nghèo nàn của thuyết sử
luận (The poverty of historicism), được
công bố lần đầu dưới dạng sách như thế
này, tôi đã cố chỉ ra ý nghĩa của thuyết
sử luận với tính chất một cấu trúc trí tuệ
đầy quyến rũ. Tôi đã cố phân tích cái
logic của thứ chủ thuyết ấy - một thứ chủ
thuyết nhiều khi rất tinh vi, rất hấp dẫn
và rất xảo trá - và cũng đã cố lập luận
rằng nó đang mắc phải một thứ bệnh cố
hữu, một thứ bệnh vô phương cứu chữa.
Penn, Buckinghamshire,
Tháng Bảy 1957
Một số người tham gia biên tập cuốn
sách này có ý băn khoăn về cái tên của
nó. Nhan đề như vậy chẳng qua là muốn
ám chỉ cuốn Sự nghèo nàn của triết học
(The poverty of philosophy) do Marx
viết nhằm đáp lại cuốn Triết học của sự
nghèo nàn (The philosophy of poverty)
của Proudhon.
Penn, Buckinghamshire,
Tháng Bảy 1959
DẪN NHẬP
Không dễ gì có thể nói sự quan tâm đến
tính chất khoa học của những vấn đề xã
hội và chính trị xuất hiện muộn hơn so
với sự quan tâm đến tính chất khoa học
của nghiên cứu vũ trụ và của vật lý học.
Bởi ngay từ thời Cổ Đại, có những giai
đoạn mà khoa học về xã hội tưởng chừng
đã có sự phát triển vươn xa hơn so với
khoa học về tự nhiên (nói như vậy là tôi
nghĩ đến luận thuyết chính trị của Plato
và bộ hiến pháp của Aristotle). Nhưng
với Galileo và Newton, vật lý học đã có
những thành công ngoài mong đợi, qua
mặt hầu hết các bộ môn khoa học khác;
và kể từ Pasteur, người được coi là
Galileo của sinh học, các khoa học sinh
học cũng đã đạt được những thành tựu
không thua kém. Trong khi đó, có vẻ như
các bộ môn khoa học xã hội vẫn chưa
tìm được cho mình một Galileo.
Trong hoàn cảnh ấy, các nhà nghiên cứu
ở nhiều lĩnh vực khoa học xã hội khác
nhau đã thể hiện một mối quan tâm lớn
đến vấn đề phương pháp. Có rất nhiều
cuộc thảo luận xoay quanh vấn đề này đã
dẫn dắt họ đến với những phương pháp
được sử dụng trong các bộ môn khoa học
phát triển rực rỡ nhất, đặc biệt là vật lý
học. Chẳng hạn, trong thế hệ của
Wilhelm Wundt, những nỗ lực sao chép
một cách có ý thức phương pháp thực
nghiệm của vật lý học đã dẫn tới một
cuộc cải cách trong bộ môn tâm lý học;
và bắt đầu từ J. S. Mill, hết nỗ lực này
đến nỗ lực khác đã được đưa ra nhằm
cải biến phương pháp của các bộ môn
khoa học xã hội theo đường hướng đó. Ở
một chừng mực nhất định, có thể nói
những cuộc cách tân như vậy trong lĩnh
vực tâm lý học cũng đã đạt được một số
thành tựu, mặc dù có không ít kết quả
tiêu cực. Còn ở các bộ môn khoa học lý
thuyết về xã hội, trừ kinh tế học, những
nỗ lực này không mang lại thành quả gì
nhiều, nếu không muốn nói là chúng đã
mang lại toàn những thất vọng. Khi tranh
cãi về những thất bại, một câu hỏi đã
sớm được đặt ra: liệu có thực sự áp dụng
được các phương pháp của vật lý học
cho khoa học xã hội hay không? Phải
chăng sự cố gắng tin vào khả năng áp
dụng những phương pháp như vậy đã là
nguyên nhân gây ra tình trạng đáng thất
vọng của những công trình nghiên cứu
nói trên?
Câu hỏi này cho phép ta nghĩ đến một sự
phân loại đơn giản các trường phái tư
duy liên quan đến những phương pháp
được áp dụng trong các bộ môn khoa học
kém thành công hơn cả. Hiểu theo cách
quan niệm của từng trường phái về khả
năng áp dụng các phương pháp vật lý
học, ta có thể chia những trường phải này
thành hai nhóm: duy tự nhiên luận (pronaturalistic) và phản tự nhiên luận
(anti-naturalistic). Ta gọi những trường
phái ủng hộ việc áp dụng các phương
pháp vật lý học vào các bộ môn khoa
học xã hội là những trường phái “duy tự
nhiên luận” hay là những trường phái
“lạc quan”; còn những trường phái phản
đối việc áp dụng này thì ta gọi là những
trường phái “phản tự nhiên luận” hay là
những trường phái “bi quan”.
Người chuyên nghiên cứu về phương
pháp có thể hoặc tán thành cách nhìn
“duy tự nhiên luận” hoặc tán thành cách
nhìn “phản tự nhiên luận”, mà cũng có
thể chấp nhận một học thuyết nào đó kết
hợp cả hai cách nhìn; việc này phụ thuộc
rất nhiều vào quan niệm của anh ta về
đặc tính của lĩnh vực đề tài anh ta đang
nghiên cứu. Không những thế, lập trường
của anh ta lại còn tùy thuộc vào việc anh
ta hiểu các phương pháp được sử dụng
trong vật lý học như thế nào. Tôi cho
rằng điểm sau cùng này quan trọng hơn
cả. Tôi cũng tin rằng những sai lầm có
tính then chốt trong hầu hết các cuộc
tranh cãi về phương pháp đều xuất phát
từ những sự ngộ nhận rất phổ biến đối
với các phương pháp vật lý học. Đặc
biệt tôi đồ rằng chúng xuất phát từ sự
ngộ giải đối với dạng thức logic của lý
thuyết vật lý, đối với những phương pháp
trắc nghiệm các lý thuyết đó và đối với
chức năng logic của quan sát và của thực
nghiệm. Theo quan điểm của tôi, những
sự ngộ nhận như vậy sẽ chắc chắn dẫn
đến những hậu quả nghiêm trọng; và tôi
sẽ cố biện minh cho quan điểm này ở
phần III và IV của cuốn sách. Tôi sẽ cố
chứng minh rằng những luận cứ và những
luận điểm đa dạng và đôi khi đối lập
nhau, dù là duy tự nhiên luận hay phản
tự nhiên luận, đều thực ra xuất phát từ
việc hiểu sai các phương pháp được vật
lý học sử dụng. Tuy nhiên, trong phần I
và phần II, tôi chỉ giới hạn vào việc giải
thích một số luận điểm duy tự nhiên
luận và một số luận điểm phản tự nhiên
luận có liên quan đến một cách tiếp cận
rất đặc biệt mà trong đó ta thấy có sự kết
hợp của cả hai luận điểm trên.
Tôi gọi cách tiếp cận đặc biệt đó là
thuyết sử luận, và việc đầu tiên tôi muốn
làm là cắt nghĩa nó, rồi sau đó mới phê
phán nó. Cách tiếp cận này rất hay được
đề cập trong các cuộc thảo luận về
phương pháp của các bộ môn khoa học
xã hội, mặc dù nó cũng rất hay được vận
dụng một cách thiếu phê phán, hoặc thậm
chí được xem như một cách tiếp cận dĩ
nhiên.
Thế nào là “sử luận”? Điều đó sẽ được
cắt nghĩa đầy đủ trong toàn bộ công trình
khảo cứu này. Ở đây tôi chỉ tạm vắn tắt
như sau: “sử luận” theo tôi là một cách
tiếp cận đối với các bộ môn khoa học xã
hội mà với cách tiếp cận đó người ta
khẳng định rằng nhiệm vụ chủ yếu của
các bộ môn khoa học xã hội là tiên đoán
lịch sử, và người ta còn khẳng định rằng
mục đích này hẳn sẽ được đạt tới thông
qua việc phát hiện ra những “nhịp độ”
hoặc những “khuôn mẫu”, những “quy
luật” hoặc những “xu hướng” được coi là
nền tảng của quá trình tiến hóa lịch sử.
Do tôi hoàn toàn tin rằng những luận
điểm sử luận về phương pháp như vậy là
nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng
không thỏa đáng của các bộ môn khoa
học lý thuyết về xã hội (ngoại trừ kinh tế
học), cho nên cách diễn giải của tôi về
các luận điểm ấy hẳn sẽ không tránh khỏi
những thiên kiến. Thế nhưng tôi đã cố hết
sức tìm ra những lý do để bênh vực cho
thuyết sử luận để làm hậu thuẫn cho
những lý do nhằm bênh vực cho thuyết
sử luận để làm hậu thuẫn cho những phê
phán của tôi sau này. Tôi đã cố thử trình
bày thuyết sử luận như một thứ triết lí đã
được cân nhắc kỹ lưỡng và bao gồm
những luận cứ chặt chẽ. Và rồi tôi đã
không ngần ngại đưa ra những luận cứ
nhằm bênh vực cho chủ thuyết ấy, mà
theo tôi biết thì bản thân các nhà sử luận
cũng chưa từng có được những luận cứ
như vậy. Bằng cách ấy, tôi hy vọng mình
đã tiếp tục tạo được cho thuyết sử luận
một thế đứng đáng bỏ công sức để công
kích. Nói cách khác, tôi đã cố hoàn thiện
một lý thuyết thường xuyên được áp
dụng, nhưng có lẽ chưa bao giờ được
triển khai đầy đủ. Đó là lý do vì sao tôi
đã rất thận trọng trong việc chọn dùng
một cái nhãn có phần không thuận tai lắm
là thuyết sử luận. Với việc đưa ra khái
niệm này, tôi chỉ hy vọng tránh được
những ý kiến chỉ trích vụn vặt về mặt câu
chữ mà thôi, bởi lẽ tôi hy vọng rằng sẽ
không có ai mất công nêu ra câu hỏi xem
liệu có luận cứ nào được nêu ra trong
cuộc thảo luận này thực sự là, hoặc chính
xác là, hoặc về cơ bản là, một luận cứ
theo lối của thuyết sử luận hay không,
hay sẽ không có ai mất công thắc mắc
xem cụm từ thuyết sử luận thực sự muốn
nói, hoặc chính xác muốn nói, hoặc về
cơ bản muốn nói lên điều gì.
PHẦN I: NHỮNG
LUẬN THUYẾT
PHẢN TỰ NHIÊN
LUẬN CỦA
THUYẾT SỬ
LUẬN
Ngược hẳn với chủ thuyết duy tự nhiên
phương pháp luận trong địa hạt xã hội
học, thuyết sử luận khẳng định rằng do
những khác biệt sâu sắc giữa xã hội học
và vật lý học, nên không thể đem áp dụng
một số phương pháp đặc trưng cho vật lý
học vào các bộ môn khoa học xã hội
được. Thuyết này nói với ta rằng, những
định luật vật lý, hay những “định luật của
giới tự nhiên” lúc nào cũng có giá trị
hiệu lực ở bất cứ đâu và bất cứ lúc nào;
bởi vì thế giới vật chất bị chi phối bởi
một hệ thống những tính chất bất biến về
mặt vật lý, dàn trải trong toàn bộ không
gian và thời gian. Ngược lại, những định
luật xã hội học, hay những định luật của
đời sống xã hội, lại khác nhau tùy theo
địa điểm và tùy theo từng giai đoạn. Mặc
dù vẫn công nhận là có thể quan sát thấy
rất nhiều những điều kiện xã hội điển
hình tái diễn một cách đều đặc, thuyết sử
luận vẫn không cho rằng những sự lặp đi
lặp lại đều đặn theo trình tự nhận thấy
được trong đời sống xã hội đó có cùng
một đặc tính như những sự lặp đi lặp lại
đều đặn mang tính bất biến của thế giới
vật chất. Do chúng còn phải tùy thuộc
vào lịch sử và vào những dị biệt về văn
hoá. Chúng phụ thuộc vào từng tình
huống lịch sử đặc thù. Chẳng hạn, người
ta không thể nói về những định luật kinh
tế một cách chung chung, mà bất quá chỉ
có thể nói về những định luật kinh tế của
thời kỳ phong kiến, hoặc của giai đoạn
sớm của thời đại công nghiệp,.v..v.; luôn
luôn phải xác định rõ giai đoạn lịch sử
trong đó các định luật được nói đến đang
chiếm ưu thế.
Thuyết sử luận khẳng định rằng tính
tương đối về mặt lịch sử của các định
luật xã hội khiến hầu hết những phương
pháp của vật lý học không thể áp dụng
cho xã hội học. Những luận cứ điển hình
mà quan niệm ấy dựa vào luôn liên quan
đ ế n phép khái quát hóa, đến thực
nghiệm, đến tính phức hợp của các hiện
tượng xã hội, đến những trở ngại trong
việc đưa ra lời tiên đoán chính xác, và
đến ý nghĩa của chủ thuyết duy bản chất
phương pháp luận. Tôi sẽ lần lượt phân
tích những luận cứ này.
1. KHÁI QUÁT HÓA
Theo thuyết sử luận, khả năng khái quát
hóa và sự thành công của phép khái quát
hóa trong lĩnh vực các khoa học vật lý là
dựa vào tính chất chung bất biến của giới
tự nhiên: dựa vào việc quan sát thấy rằng
- có lẽ nên gọi là “dựa trên giả định
rằng” thì hay hơn - trong những hoàn
cảnh tương tự thì hẳn những điều tương
tự sẽ phải xảy ra. Nguyên lý này được
cho là đúng trong toàn bộ không gian
cũng như thời gian, và được coi là nền
tảng phương pháp luận của vật lý học.
Thuyết sử luận nhấn mạnh rằng nguyên lý
đó rõ ràng là không áp dụng được đối
với xã hội học. Những hoàn cảnh giống
nhau chỉ có thể xuất hiện trong cùng một
giai đoạn lịch sử nhất định. Chúng không
bao giờ tồn tại kéo dài từ giai đoạn này
sang giai đoạn khác. Do đó, không có
những tính chất bất biến và kéo dài trong
xã hội để làm chỗ dựa cho những phép
khái quát hóa bền vững - nói như vậy tất
nhiên là không tính đến những sự lặp đi
lặp lại đều đặn thông thường, chẳng hạn
như việc loài người, hoặc nguồn cung
cấp một số thứ luôn có hạn còn những
thứ như không khí thì vô hạn, và rồi chỉ
có những thứ trước mới có thể gắn với
thị trường hoặc có giá trị trao đội.
Theo thuyết sử luận, một phương pháp
không tính đến sự hạn chế như nói trên
và cố gắng tìm cách khái quát hóa những
tính chất bất biến về mặt xã hội sẽ vô
hình trung dẫn đến sự khẳng định rằng
những sự lặp đi lặp lại đều đặn theo trình
tự đó sẽ kéo dài mãi mãi; một quan niệm
ngây thơ về mặt phương pháp luận - quan
niệm cho rằng các bộ môn khoa học xã
hội hoàn toàn có thể tiếp nhận phương
pháp khái quát hóa của vật lý học - do
đó chắc chắn sẽ sản sinh ra một thứ lý
thuyết xã hội học sai lầm và lệch lạc một
cách nguy hiểm. Đó sẽ là một lý thuyết
phủ nhận sự phát triển xã hội; hoặc phủ
nhận việc xã hội luôn có những thay đổi
đáng kể; hoặc phủ nhận việc xã hội phát
triển, nếu có, có thể tác động đến những
sự lặp đi lặp lại đều đặn thông thường
của đời sống xã hội.
Các nhà sử luận hay nhấn mạnh rằng ẩn
sau những lý thuyết sai lầm như vậy
thường là một chủ định cần được thông
cảm và trên thực tế, việc mặc định là có
những định luật xã hội bất biến có thể dễ
dàng được lạm dụng vì những mục đích
như thế. Trước hết, hoàn toàn có khả
năng xuất hiện một luận cứ cho rằng có
những cái không dễ chịu chút nào hoặc
không hề được trông đợi nhưng ta vẫn
phải chấp nhận,
Tên sách: Sự nghèo nàn của thuyết sử
luận
Nguyên tác: The poverty of historicism
- Routledge, 1974
Tác giả: Karl Popper
Người dịch: Chu Lan Đình
Nhà xuất bản: NXB Tri thức
Kích thước: 12x20 cm
Ngày phát hành: 2012
Số trang: 272
Giá bìa : 55.000đ
Thể loại: Triết học - Chính trị
Thông tin ebook
Nguồn: http://tve-4u.org
Type+Làm ebook: banycol
Ngày hoàn thành: 01/01/2016
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Ebook này được thực hiện nhằm chia
sẻ cho những bạn không có điều kiện
mua sách!
Còn nếu bạn có khả năng hãy mua
sách ủng hộ nha!
Để tưởng nhớ đến tầng tầng lớp đàn
ông và phụ nữ thuộc mọi tín ngưỡng,
mọi quốc gia hay mọi sắc tộc, từng là
nạn nhân của niềm tin phát xít và
niềm tin theo lối công xã vào những
định luật vô cảm của vận mệnh lịch
sử.
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
LỜI NHÀ XUẤT
BẢN
Trên tay bạn đọc là bản dịch tiếng Việt
cuốn sách The Poverty of Historicism
(Sự nghèo nàn của thuyết sử luận). Tác
giả của nó là Karl Raimund Popper
(28/07/1902, Wien, Áo - 17/09/1994,
London, Anh), triết gia Anh, gốc Áo,
nguyên giáo sư Viện Kinh Tế London,
được đánh giá là một trong những triết
gia có nhiều ảnh hưởng nhất thế kỷ XX.
Như giới triết học đánh giá, ông đã đưa
ra một thứ “triết lý phê phán không-biệnminh đầu tiên trong lịch sử triết học”. Tư
tưởng triết học của ông bao trùm các lĩnh
vực:
- Triết học khoa học với các tác phẩm
Logic phát kiến khoa học (Logik der
forschung, Wien, 1934), Phỏng định và
Bác bỏ (Conjectures and refutation,
1953), Tri thức khách quan (Objective
knowledge, 1972). Qua loạt tác phẩm
này, ông phê phán gay gắt quan điểm duy
nghiệm luận và cho rằng các lý thuyết
khoa học về bản chất là trừu tượng, nên
chỉ có thể trắc nghiệm chúng một cách
gián tiếp thông qua sự quy chiếu với các
hệ quả thực nghiệm của chúng. Tuy
nhiên, Popper thừa nhận ông chỉ xây
dựng một tri thức luận mới cho các khoa
học thường nghiệm chứ không hề bác bỏ
tính hợp thức và giá trị của những cách
tiếp cận tự nhiên khác (như triết học,
siêu hình học, phân tâm học.v..v.).
- Triết học chính trị và xã hội với các
tác phẩm Sự nghèo nàn của thuyết sử
luận (The poverty of historicism, 1936,
1957), và Xã hội mở và những kẻ thù
của nó (The open society and its
enemies, 1945). Ở đây, Popper chủ yếu
tập trung phê phán các ông gọi là thuyết
sử luận hoặc là quan điểm duy vật lịch
sử (historicism) và những lý thuyết chính
trị được xây dựng trên cơ sở quan điểm
đó, đồng thời đưa ra một cái nhìn bất
định (indeterminist) về thế giới. Thay
v à o thuyết sử luận, Popper đề xướng
một triết lý căn bản trên nền tảng thuyết
bất định, phù hợp với quan điểm tri thức
luận của ông, theo đó tri thức tiến bộ
thông qua quá trình thử và loại bỏ sai
lầm: để giải quyết một vấn đề người ta
phải đề xuất nhiều giải pháp mang tính
giả thuyết rồi mang ra thử và loại bỏ
những sai lầm.
- Về tiến hóa và chức năng của ngôn
ngữ: Karl Popper không những quan tâm
tới triết học khoa học, triết học chính trị
mà còn đưa ra nhiều quan điểm hết sức
độc đáo và sâu sắc về thuyết tiến hóa, về
logic học, về nghiên cứu ngôn ngữ và
nhiều lĩnh vực tư tưởng khác. Những ý
niệm về các lĩnh vực đó được trình bày
rải rác trong các tác phẩm lớn nói trên
và trong các tác phẩm khác như
Quantum theory and the Schism in
physics (1956/57), Realism and the aim
of science (1956/57), Unended quest:
an intellectual autobiography (1976),...
Năm 2012, thế giới kỷ niệm 110 năm
ngày sinh của Karl Popper, cũng là lúc
chúng ta tìm hiểu kỹ hơn về di sản triết
học của ông. Mặc dù có không ít ý kiến
phê phán các quan điểm của Popper
nhưng ảnh hưởng của ông là rất rõ nét
đối với các trào lưu triết học phương
Tây trong thế kỷ XX và cho đến hiện
nay. Chúng tôi xin lưu ý bạn đọc rằng
đây là sách tham khảo, chủ yếu dành cho
những người làm công tác nghiên cứu.
Để đảm bảo tính khách quan cũng như sự
tôn trọng tính toàn vẹn của tác phẩm,
chúng tôi xin được giới thiệu đầy đủ bản
dịch đến bạn đọc. Rất mong bạn đọc cân
nhắc khi tiếp nhận quan điểm của các tác
giả với tinh thần phê phán cần thiết.
Bản in này chúng tôi đặc biệt dành để
tưởng nhớ đến dịch giả Chu Lan Đình
(1942 - 2012) vì sự trân trọng và cẩn
trọng của ông với từng chữ, từng ý tưởng
của tác giả.
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
CHÚ THÍCH VỀ
NIÊN BIỂU
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Luận điểm chính được đề cập đến trong
cuốn sách này - tức là luận điểm cho
rằng niềm tin vào vận mệnh lịch sử là
một niềm tin mang màu sắc mê tín tuyệt
đối, và cũng là luận điểm cho rằng dù có
sử dụng những phương pháp khoa học
hay bất cứ phương pháp có lý tính nào
khác, cũng không ai có thể đoán trước
những bước phát triển của lịch sử loài
người - được manh nha hình thành từ
những năm 1919 - 1920. Những nét cơ
bản của luận điểm này được phác thảo
đầy đủ vào năm 1935, và được trình bày
lần đầu vào tháng Hai năm 1936 dưới
hình thức một bài viết có nhan đề “Sự
nghèo nàn của thuyết sử luận” (The
Poverty of Historicism) trong một cuộc
tọa đàm tự tổ chức tại tư gia của bạn tôi
là Alfred Braunthal ở Brussels. Tại buổi
tọa đàm này, một sinh viên cũ của tôi đã
đưa ra một số ý kiến đóng góp quan
trọng. Đó là tiến sĩ Karl Hilferding,
người đã sớm trở thành nạn nhân của
Gestapo và của những niềm tin mang tính
sử luận dị đoan của Đệ Tam Quốc Xã.
Trong cuộc tọa đàm này còn có sự tham
gia của một vài triết gia khác. Ngay
không lâu sau đó, tôi có trình bày một
tham luận tương tự tại cuộc hội thảo do
F. A. Hayek tổ chức ở Học Viện Kinh Tế
London. Việc xuất bản chậm trễ mất vài
năm vì bản thảo tôi giao cho một tập san
triết học định kỳ bị từ chối. Sau đó bài
viết đã được đăng tải lần đầu vào ba kỳ
trên tạp chí Economica, Bộ Mới, tập XI,
số 42 và 43, 1944, và tập XII, số 46,
1945. Tiếp đó, một bản dịch tiếng Italia
(Milano, 1954) và một bản dịch tiếng
Pháp (Paris, 1956) đã được ra mắt dưới
dạng sách. Trong lần xuất bản mới này,
bài viết đã được chỉnh sửa và bổ sung.
LỜI TỰA
Trong cuốn Sự nghèo nàn của thuyết sử
luận, tôi muốn chứng minh rằng thuyết sử
luận là một phương pháp nghèo nàn - một
phương pháp không đơm hoa kết trái.
Nhưng tôi đã không thể thực sự bác bỏ
được thuyết này.
Nhưng rồi về sau, tôi nghĩ mình đã thành
công trong việc tìm ra một lời bác bỏ đối
với thuyết sử luận: bằng những lí lẽ
hoàn toàn logic, tôi đã chứng minh
được rằng chúng ta không cách gì tiên
đoán được tiến trình tương lai của lịch
sử.
Luận cứ được đưa ra để chứng minh điều
đó nằm trong bài viết của tôi có tựa đề
Thuyết bất định trong vật lý cổ điển và
trong vật lý lượng tử (Indeterminism in
classical physics and in quantum
physics) được công bố năm 1950. Nhưng
nay tôi không còn thấy thỏa mãn với bài
viết này nữa. Một cách diễn giải thỏa
đáng hơn được trình bày tiếp đó trong
chương viết về Thuyết bất định, là một
phần của Lời bạt: Sau hai mươi năm
(Postscript: after twenty years) trong
cuốn Logic phát kiến khoa học (Logic
of scientific discovery) của tôi.
Để độc giả nắm được những kết luận mới
hơn này, tôi xin phác qua những nét chính
của luận cứ nhằm bác bỏ thuyết sử luận.
Luận cứ này có thể được tóm lược trong
năm phát biểu ghi nhận như sau:
1. Tiến trình lịch sử nhân loại bị ảnh
hưởng rất mạnh bởi sự phát triển đi lên
của tri thức nhân loại (thậm chí những ai
chỉ cần thấy được những sản phẩm phụ
của những quá trình phát triển mang tính
hữu hình này kia trong các ý niệm của
chúng ta, gồm cả những ý niệm khoa học,
cũng đều phải công nhận một tiền đề như
vậy là đúng đắn).
2. Bằng những phương pháp có lý tính
hoặc những phương pháp khoa học,
chúng ta cũng không thể tiên đoán sự
phát triển đi lên của tri thức khoa học
trong tương lai (lời khẳng định này có
thể được chứng minh một cách logic
thông qua những nhận định sơ lược sau
đây).
3. Bởi vậy, chúng ta không thể tiên đoán
tiến trình tương lai của lịch sử nhân loại.
4. Điều đó có nghĩa là chúng ta phải loại
bỏ khả năng có một môn sử học lý
thuyết, tức là một khoa học về lịch sử xã
hội tương đương môn vật lý lý thuyết.
Không thể có một lý thuyết nào về sự
phát triển lịch sử được lấy làm cơ sở
cho tiên đoán lịch sử.
5. Mục đích cơ bản của những phương
pháp sử luận (xem các mục từ 11 đến 16
của sách này) do đó đã bị hiểu sai; và
thuyết sử luận như vậy là sụp đổ.
Luận cứ trên tất nhiên không nhằm bác
bỏ tất cả những khả năng tiên đoán xã
hội; ngược lại, nó hoàn toàn tương thích
với khả năng trắc nghiệm các lý thuyết xã
hội - chẳng hạn các lý thuyết về kinh tế bằng việc tiên đoán rằng một vài quá
trình phát triển nhất định nào đó sẽ diễn
ra trong những điều kiện nhất định. Nó
chỉ nhằm bác bỏ khả năng tiên đoán các
quá trình phát triển lịch sử dựa trên quan
điểm coi chúng như những quá trình bị
tác động bởi sự phát triển đi lên về tri
thức của chúng ta.
Bước quyết định trong luận cứ này là
phát biểu ghi nhận (2). Tôi cho rằng bản
thân nó đã mang tính thuyết phục: nếu có
cái gọi là sự phát triển đi lên của tri
thức ấy, thì thậm chí ở ngày hôm nay
chúng ta cũng chẳng thể dự đoán được
ngày mai chúng ta sẽ biết được điều gì.
Tôi cho rằng nói như vậy nghe có vẻ hợp
lý nhưng không thể là một phép chứng
minh logic cho lời phát biểu. Những
bước chứng minh cho (2) mà tôi đã trình
bày trong những ấn phẩm vừa được nhắc
đến rất phức tạp; và tôi cũng không ngạc
nhiên nếu thấy có được những phép
chứng minh đơn giản hơn. Tôi chứng
minh bằng cách chỉ ra rằng không có một
nhà tiên tri khoa học nào - dù đó là một
nhà khoa học bằng xương bằng thịt hay
một cỗ máy tính - có khả năng, bằng
những phương pháp khoa học, tiên
đoán được những kết quả trong tương
lai của chính mình. Những nỗ lực thực
hiện điều đó chỉ có thể đạt được kết quả
sau khi việc đã rồi, lúc đã quá muộn cho
một lời tiên đoán; kết quả chỉ có thể có
sau khi lời tiên đoán đã biến thành lời
hồi đoán.
Mang tính thuần túy logic, luận cứ này áp
dụng được cho tất cả các nhà tiên tri
khoa học thuộc mọi thể thức, bao gồm cả
những “hội” các nhà tiên tri đang trong
mối tương giao. Và điều đó muốn nói lên
rằng không một xã hội nào có thể tiên
đoán một cách khoa học những tri thức
mà bản thân mình sẽ có được trong tương
lai.
Luận cứ của tôi ít nhiều mang tính hình
thức, và do vậy có quyền bị nghi ngờ là
không mang một ý nghĩa thực tiễn nào, kể
cả nếu về mặt logic nó được hoàn toàn
đảm bảo là có giá trị hiệu lực.
Tuy nhiên, tôi đã cố chỉ ra ý nghĩa của
vấn đề trong hai công trình khảo cứu. Ở
công trình khảo cứu thứ hai, Xã hội mở
và những kẻ thù của nó (The open
society and its enemies), tôi đã chọn ra
vài sự kiện từ lịch sử của thuyết sử luận
nhằm minh họa cho ảnh hưởng dai dẳng
và độc hại của nó đến triết học xã hội và
triết học chính trị, từ Heraclitus và Plato
cho tới Hegel và Marx. Trong công trình
thứ nhất, Sự nghèo nàn của thuyết sử
luận (The poverty of historicism), được
công bố lần đầu dưới dạng sách như thế
này, tôi đã cố chỉ ra ý nghĩa của thuyết
sử luận với tính chất một cấu trúc trí tuệ
đầy quyến rũ. Tôi đã cố phân tích cái
logic của thứ chủ thuyết ấy - một thứ chủ
thuyết nhiều khi rất tinh vi, rất hấp dẫn
và rất xảo trá - và cũng đã cố lập luận
rằng nó đang mắc phải một thứ bệnh cố
hữu, một thứ bệnh vô phương cứu chữa.
Penn, Buckinghamshire,
Tháng Bảy 1957
Một số người tham gia biên tập cuốn
sách này có ý băn khoăn về cái tên của
nó. Nhan đề như vậy chẳng qua là muốn
ám chỉ cuốn Sự nghèo nàn của triết học
(The poverty of philosophy) do Marx
viết nhằm đáp lại cuốn Triết học của sự
nghèo nàn (The philosophy of poverty)
của Proudhon.
Penn, Buckinghamshire,
Tháng Bảy 1959
DẪN NHẬP
Không dễ gì có thể nói sự quan tâm đến
tính chất khoa học của những vấn đề xã
hội và chính trị xuất hiện muộn hơn so
với sự quan tâm đến tính chất khoa học
của nghiên cứu vũ trụ và của vật lý học.
Bởi ngay từ thời Cổ Đại, có những giai
đoạn mà khoa học về xã hội tưởng chừng
đã có sự phát triển vươn xa hơn so với
khoa học về tự nhiên (nói như vậy là tôi
nghĩ đến luận thuyết chính trị của Plato
và bộ hiến pháp của Aristotle). Nhưng
với Galileo và Newton, vật lý học đã có
những thành công ngoài mong đợi, qua
mặt hầu hết các bộ môn khoa học khác;
và kể từ Pasteur, người được coi là
Galileo của sinh học, các khoa học sinh
học cũng đã đạt được những thành tựu
không thua kém. Trong khi đó, có vẻ như
các bộ môn khoa học xã hội vẫn chưa
tìm được cho mình một Galileo.
Trong hoàn cảnh ấy, các nhà nghiên cứu
ở nhiều lĩnh vực khoa học xã hội khác
nhau đã thể hiện một mối quan tâm lớn
đến vấn đề phương pháp. Có rất nhiều
cuộc thảo luận xoay quanh vấn đề này đã
dẫn dắt họ đến với những phương pháp
được sử dụng trong các bộ môn khoa học
phát triển rực rỡ nhất, đặc biệt là vật lý
học. Chẳng hạn, trong thế hệ của
Wilhelm Wundt, những nỗ lực sao chép
một cách có ý thức phương pháp thực
nghiệm của vật lý học đã dẫn tới một
cuộc cải cách trong bộ môn tâm lý học;
và bắt đầu từ J. S. Mill, hết nỗ lực này
đến nỗ lực khác đã được đưa ra nhằm
cải biến phương pháp của các bộ môn
khoa học xã hội theo đường hướng đó. Ở
một chừng mực nhất định, có thể nói
những cuộc cách tân như vậy trong lĩnh
vực tâm lý học cũng đã đạt được một số
thành tựu, mặc dù có không ít kết quả
tiêu cực. Còn ở các bộ môn khoa học lý
thuyết về xã hội, trừ kinh tế học, những
nỗ lực này không mang lại thành quả gì
nhiều, nếu không muốn nói là chúng đã
mang lại toàn những thất vọng. Khi tranh
cãi về những thất bại, một câu hỏi đã
sớm được đặt ra: liệu có thực sự áp dụng
được các phương pháp của vật lý học
cho khoa học xã hội hay không? Phải
chăng sự cố gắng tin vào khả năng áp
dụng những phương pháp như vậy đã là
nguyên nhân gây ra tình trạng đáng thất
vọng của những công trình nghiên cứu
nói trên?
Câu hỏi này cho phép ta nghĩ đến một sự
phân loại đơn giản các trường phái tư
duy liên quan đến những phương pháp
được áp dụng trong các bộ môn khoa học
kém thành công hơn cả. Hiểu theo cách
quan niệm của từng trường phái về khả
năng áp dụng các phương pháp vật lý
học, ta có thể chia những trường phải này
thành hai nhóm: duy tự nhiên luận (pronaturalistic) và phản tự nhiên luận
(anti-naturalistic). Ta gọi những trường
phái ủng hộ việc áp dụng các phương
pháp vật lý học vào các bộ môn khoa
học xã hội là những trường phái “duy tự
nhiên luận” hay là những trường phái
“lạc quan”; còn những trường phái phản
đối việc áp dụng này thì ta gọi là những
trường phái “phản tự nhiên luận” hay là
những trường phái “bi quan”.
Người chuyên nghiên cứu về phương
pháp có thể hoặc tán thành cách nhìn
“duy tự nhiên luận” hoặc tán thành cách
nhìn “phản tự nhiên luận”, mà cũng có
thể chấp nhận một học thuyết nào đó kết
hợp cả hai cách nhìn; việc này phụ thuộc
rất nhiều vào quan niệm của anh ta về
đặc tính của lĩnh vực đề tài anh ta đang
nghiên cứu. Không những thế, lập trường
của anh ta lại còn tùy thuộc vào việc anh
ta hiểu các phương pháp được sử dụng
trong vật lý học như thế nào. Tôi cho
rằng điểm sau cùng này quan trọng hơn
cả. Tôi cũng tin rằng những sai lầm có
tính then chốt trong hầu hết các cuộc
tranh cãi về phương pháp đều xuất phát
từ những sự ngộ nhận rất phổ biến đối
với các phương pháp vật lý học. Đặc
biệt tôi đồ rằng chúng xuất phát từ sự
ngộ giải đối với dạng thức logic của lý
thuyết vật lý, đối với những phương pháp
trắc nghiệm các lý thuyết đó và đối với
chức năng logic của quan sát và của thực
nghiệm. Theo quan điểm của tôi, những
sự ngộ nhận như vậy sẽ chắc chắn dẫn
đến những hậu quả nghiêm trọng; và tôi
sẽ cố biện minh cho quan điểm này ở
phần III và IV của cuốn sách. Tôi sẽ cố
chứng minh rằng những luận cứ và những
luận điểm đa dạng và đôi khi đối lập
nhau, dù là duy tự nhiên luận hay phản
tự nhiên luận, đều thực ra xuất phát từ
việc hiểu sai các phương pháp được vật
lý học sử dụng. Tuy nhiên, trong phần I
và phần II, tôi chỉ giới hạn vào việc giải
thích một số luận điểm duy tự nhiên
luận và một số luận điểm phản tự nhiên
luận có liên quan đến một cách tiếp cận
rất đặc biệt mà trong đó ta thấy có sự kết
hợp của cả hai luận điểm trên.
Tôi gọi cách tiếp cận đặc biệt đó là
thuyết sử luận, và việc đầu tiên tôi muốn
làm là cắt nghĩa nó, rồi sau đó mới phê
phán nó. Cách tiếp cận này rất hay được
đề cập trong các cuộc thảo luận về
phương pháp của các bộ môn khoa học
xã hội, mặc dù nó cũng rất hay được vận
dụng một cách thiếu phê phán, hoặc thậm
chí được xem như một cách tiếp cận dĩ
nhiên.
Thế nào là “sử luận”? Điều đó sẽ được
cắt nghĩa đầy đủ trong toàn bộ công trình
khảo cứu này. Ở đây tôi chỉ tạm vắn tắt
như sau: “sử luận” theo tôi là một cách
tiếp cận đối với các bộ môn khoa học xã
hội mà với cách tiếp cận đó người ta
khẳng định rằng nhiệm vụ chủ yếu của
các bộ môn khoa học xã hội là tiên đoán
lịch sử, và người ta còn khẳng định rằng
mục đích này hẳn sẽ được đạt tới thông
qua việc phát hiện ra những “nhịp độ”
hoặc những “khuôn mẫu”, những “quy
luật” hoặc những “xu hướng” được coi là
nền tảng của quá trình tiến hóa lịch sử.
Do tôi hoàn toàn tin rằng những luận
điểm sử luận về phương pháp như vậy là
nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng
không thỏa đáng của các bộ môn khoa
học lý thuyết về xã hội (ngoại trừ kinh tế
học), cho nên cách diễn giải của tôi về
các luận điểm ấy hẳn sẽ không tránh khỏi
những thiên kiến. Thế nhưng tôi đã cố hết
sức tìm ra những lý do để bênh vực cho
thuyết sử luận để làm hậu thuẫn cho
những lý do nhằm bênh vực cho thuyết
sử luận để làm hậu thuẫn cho những phê
phán của tôi sau này. Tôi đã cố thử trình
bày thuyết sử luận như một thứ triết lí đã
được cân nhắc kỹ lưỡng và bao gồm
những luận cứ chặt chẽ. Và rồi tôi đã
không ngần ngại đưa ra những luận cứ
nhằm bênh vực cho chủ thuyết ấy, mà
theo tôi biết thì bản thân các nhà sử luận
cũng chưa từng có được những luận cứ
như vậy. Bằng cách ấy, tôi hy vọng mình
đã tiếp tục tạo được cho thuyết sử luận
một thế đứng đáng bỏ công sức để công
kích. Nói cách khác, tôi đã cố hoàn thiện
một lý thuyết thường xuyên được áp
dụng, nhưng có lẽ chưa bao giờ được
triển khai đầy đủ. Đó là lý do vì sao tôi
đã rất thận trọng trong việc chọn dùng
một cái nhãn có phần không thuận tai lắm
là thuyết sử luận. Với việc đưa ra khái
niệm này, tôi chỉ hy vọng tránh được
những ý kiến chỉ trích vụn vặt về mặt câu
chữ mà thôi, bởi lẽ tôi hy vọng rằng sẽ
không có ai mất công nêu ra câu hỏi xem
liệu có luận cứ nào được nêu ra trong
cuộc thảo luận này thực sự là, hoặc chính
xác là, hoặc về cơ bản là, một luận cứ
theo lối của thuyết sử luận hay không,
hay sẽ không có ai mất công thắc mắc
xem cụm từ thuyết sử luận thực sự muốn
nói, hoặc chính xác muốn nói, hoặc về
cơ bản muốn nói lên điều gì.
PHẦN I: NHỮNG
LUẬN THUYẾT
PHẢN TỰ NHIÊN
LUẬN CỦA
THUYẾT SỬ
LUẬN
Ngược hẳn với chủ thuyết duy tự nhiên
phương pháp luận trong địa hạt xã hội
học, thuyết sử luận khẳng định rằng do
những khác biệt sâu sắc giữa xã hội học
và vật lý học, nên không thể đem áp dụng
một số phương pháp đặc trưng cho vật lý
học vào các bộ môn khoa học xã hội
được. Thuyết này nói với ta rằng, những
định luật vật lý, hay những “định luật của
giới tự nhiên” lúc nào cũng có giá trị
hiệu lực ở bất cứ đâu và bất cứ lúc nào;
bởi vì thế giới vật chất bị chi phối bởi
một hệ thống những tính chất bất biến về
mặt vật lý, dàn trải trong toàn bộ không
gian và thời gian. Ngược lại, những định
luật xã hội học, hay những định luật của
đời sống xã hội, lại khác nhau tùy theo
địa điểm và tùy theo từng giai đoạn. Mặc
dù vẫn công nhận là có thể quan sát thấy
rất nhiều những điều kiện xã hội điển
hình tái diễn một cách đều đặc, thuyết sử
luận vẫn không cho rằng những sự lặp đi
lặp lại đều đặn theo trình tự nhận thấy
được trong đời sống xã hội đó có cùng
một đặc tính như những sự lặp đi lặp lại
đều đặn mang tính bất biến của thế giới
vật chất. Do chúng còn phải tùy thuộc
vào lịch sử và vào những dị biệt về văn
hoá. Chúng phụ thuộc vào từng tình
huống lịch sử đặc thù. Chẳng hạn, người
ta không thể nói về những định luật kinh
tế một cách chung chung, mà bất quá chỉ
có thể nói về những định luật kinh tế của
thời kỳ phong kiến, hoặc của giai đoạn
sớm của thời đại công nghiệp,.v..v.; luôn
luôn phải xác định rõ giai đoạn lịch sử
trong đó các định luật được nói đến đang
chiếm ưu thế.
Thuyết sử luận khẳng định rằng tính
tương đối về mặt lịch sử của các định
luật xã hội khiến hầu hết những phương
pháp của vật lý học không thể áp dụng
cho xã hội học. Những luận cứ điển hình
mà quan niệm ấy dựa vào luôn liên quan
đ ế n phép khái quát hóa, đến thực
nghiệm, đến tính phức hợp của các hiện
tượng xã hội, đến những trở ngại trong
việc đưa ra lời tiên đoán chính xác, và
đến ý nghĩa của chủ thuyết duy bản chất
phương pháp luận. Tôi sẽ lần lượt phân
tích những luận cứ này.
1. KHÁI QUÁT HÓA
Theo thuyết sử luận, khả năng khái quát
hóa và sự thành công của phép khái quát
hóa trong lĩnh vực các khoa học vật lý là
dựa vào tính chất chung bất biến của giới
tự nhiên: dựa vào việc quan sát thấy rằng
- có lẽ nên gọi là “dựa trên giả định
rằng” thì hay hơn - trong những hoàn
cảnh tương tự thì hẳn những điều tương
tự sẽ phải xảy ra. Nguyên lý này được
cho là đúng trong toàn bộ không gian
cũng như thời gian, và được coi là nền
tảng phương pháp luận của vật lý học.
Thuyết sử luận nhấn mạnh rằng nguyên lý
đó rõ ràng là không áp dụng được đối
với xã hội học. Những hoàn cảnh giống
nhau chỉ có thể xuất hiện trong cùng một
giai đoạn lịch sử nhất định. Chúng không
bao giờ tồn tại kéo dài từ giai đoạn này
sang giai đoạn khác. Do đó, không có
những tính chất bất biến và kéo dài trong
xã hội để làm chỗ dựa cho những phép
khái quát hóa bền vững - nói như vậy tất
nhiên là không tính đến những sự lặp đi
lặp lại đều đặn thông thường, chẳng hạn
như việc loài người, hoặc nguồn cung
cấp một số thứ luôn có hạn còn những
thứ như không khí thì vô hạn, và rồi chỉ
có những thứ trước mới có thể gắn với
thị trường hoặc có giá trị trao đội.
Theo thuyết sử luận, một phương pháp
không tính đến sự hạn chế như nói trên
và cố gắng tìm cách khái quát hóa những
tính chất bất biến về mặt xã hội sẽ vô
hình trung dẫn đến sự khẳng định rằng
những sự lặp đi lặp lại đều đặn theo trình
tự đó sẽ kéo dài mãi mãi; một quan niệm
ngây thơ về mặt phương pháp luận - quan
niệm cho rằng các bộ môn khoa học xã
hội hoàn toàn có thể tiếp nhận phương
pháp khái quát hóa của vật lý học - do
đó chắc chắn sẽ sản sinh ra một thứ lý
thuyết xã hội học sai lầm và lệch lạc một
cách nguy hiểm. Đó sẽ là một lý thuyết
phủ nhận sự phát triển xã hội; hoặc phủ
nhận việc xã hội luôn có những thay đổi
đáng kể; hoặc phủ nhận việc xã hội phát
triển, nếu có, có thể tác động đến những
sự lặp đi lặp lại đều đặn thông thường
của đời sống xã hội.
Các nhà sử luận hay nhấn mạnh rằng ẩn
sau những lý thuyết sai lầm như vậy
thường là một chủ định cần được thông
cảm và trên thực tế, việc mặc định là có
những định luật xã hội bất biến có thể dễ
dàng được lạm dụng vì những mục đích
như thế. Trước hết, hoàn toàn có khả
năng xuất hiện một luận cứ cho rằng có
những cái không dễ chịu chút nào hoặc
không hề được trông đợi nhưng ta vẫn
phải chấp nhận,
 









Các ý kiến mới nhất