Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra
Tìm hiểu về văn hóa làng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Nguyễn Minh Kha biên soạn
Người gửi: Nguyễn Minh Kha
Ngày gửi: 21h:38' 25-06-2015
Dung lượng: 319.4 KB
Số lượt tải: 24
Nguồn: Nguyễn Minh Kha biên soạn
Người gửi: Nguyễn Minh Kha
Ngày gửi: 21h:38' 25-06-2015
Dung lượng: 319.4 KB
Số lượt tải: 24
Số lượt thích:
0 người
TRƯỜNG ĐHSP TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LỊCH SỬ
NGÀNH QUỐC TẾ HỌC – LỚP QTH3B
Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tìm hiểu về văn hóa làng
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS Trần Văn Châu
Lời nói đầu
Làng là đơn vị cư trú cơ bản của nông thôn người Việt và đã hình thành từ rất sớm (trước khi có Nhà nước). Đầu tiên làng là điểm tụ cư của những người cùng huyết thống, sau đó để phù hợp với sự phát triển của xã hội và lịch sử , làng còn là điểm tụ cư của những nhóm người cùng nghề nghiệp, bao gồm nhiều dòng họ khác nhau. Khi Nhà nước ra đời, làng là một đơn vị hành chính cơ sở của nhà nước và là một tổ chức tự quản, quân sự và văn hoá khá hoàn chỉnh. Cùng với việc xuất hiện làng trong lịch sử Việt Nam, văn hoá làng cũng ra đời, trở thành nét đặc trưng của văn hoá dân tộc.
Nền văn hoá Việt Nam được tạo dựng trên cơ sở của nền văn minh nông nghiệp. Cuộc sống của người Việt Nam gắn bó với làng xã, quê hương. Tập tục làng, truyền thống và văn hoá làng là chất keo đặc thù gắn kết mọi thế hệ thành viên của làng.
Nhóm đươc thầy giao phó cho việc chứng minh văn hóa làng làm nên giá trị của văn hóa Việt Nam nên đã cùng nhau phối hợp thực hiện, nghiên cứu xây dựng đề tài này. Đây là một đề tài hấp dẫn, có tính thực tiễn cao trong việc bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.
Mặc dù đã cố gắng hết sức trong việc nghiên cứu, xây dựng bài nghiên cứu, song những sai sót là điều khó tránh khỏi. Nhóm rất mong nhận được sự đóng góp từ phía Thầy và các bạn để đề tài của nhóm hoàn thiện hơn nữa.
Phần nội dung
I. KHÁI NIỆM VỀ LÀNG
Làng là một thiết chế xã hội, một đơn vị tổ chức chặt chẽ của nông thôn Việt trên cơ sở địa vực, địa bàn cư trú, là sản phẩm tự nhiên tiết ra từ quá trình định cư và cộng cư của người Việt, là địa điểm tập hợp cuộc sống cộng đồng tự quản và phong phú của người nông dân. Ở đó, họ sống và làm việc, quan hệ, vui chơi, thể hiện mối ứng xử văn hóa với thiên nhiên nhiên, xã hội và bản thân họ.
Trước khi tìm hiểu những đặc trưng cơ bản của làng, chúng ta cần xác định làng được hình thành ở sườn đồi, thung lũng hoặc đồng bằng, ven biển. Vị trí của làng thường gần khe, suối, sông, rạch đầm, hồ và trên các trục lộ giao thông. Theo ông Lê Văn Siêu (Việt Nam Văn Minh Sử), làng ở Bắc Việt rộng trung bình trên dưới 200 hecta và đường bán kính phải 800 mét. Quy mô này rất phù hợp với đời sống nông nghiệp vì tiện lợi trong việc đi lại, canh tác, chăm sóc mùa màng (liền canh, liền cư). Mỗi làng thường có lũy tre hay hàng rào bao bọc, có cổng làng, cây đa, giếng nước, bến đò… Bất cứ làng nào cũng phải có đình làng để thờ thần khai canh (người lập ra làng), đền thờ thần Thần hoàng. Ngoài ra một số làng có thêm chùa làng để thờ Phật, đền, miếu để thờ những nhân vật lịch sử hay truyền kì.
II. VĂN HÓA LÀNG
1. Cơ cấu làng Việt
Làng Việt là một thành tố quan trọng trong cơ cấu xã hội Việt (nổi lên là gia đình (nhà) – làng – nước, còn cấp vùng, tỉnh là đơn vị trung gian ít quan trọng hơn) với hai đặc trưng cơ bản là tính cộng đồng và tính tự trị.
Làng được tổ chức rất chặt chẽ, không phải theo một mà nhiều cách, nhiều nguyên tắc khác nhau, tạo nên nhiều loại hình, nhiều cách tập hợp người khác nhau, khác nhau nhưng lại hòa đồng trong phạm vi làng. Về cơ bản, cơ cấu làng Việt (cổ truyền và hiện đại) được biểu hiện dưới những hình thức tổ chức (liên kết, tập hợp người) sau đây:
- Tổ chức theo địa vực (khu đất cư trú) với mô thức phổ biến: làng phân thành nhiều xóm, xóm phân thành nhiều ngõ, mỗi ngõ gồm một hay nhiều nhà…thành những khối dài dọc đường cái, bờ sông chân đê, những khối chặt kiểu ô bàn cờ theo hình vành khăn từ chân đồi lên lưng chừng đồi và phân bố lẻ tẻ, tản mát, xen kẻ với ruộng đồng…. Mỗi làng, xóm, ngõ có cuộc sống riêng tư tương đối.
- Tổ chức làng theo huyết thống (gia đình, dòng họ). Ngoài các gia đình nhỏ, gia đình hạt nhân, dòng họ có vai trò vị trí và vai trò quan trọng trong
KHOA LỊCH SỬ
NGÀNH QUỐC TẾ HỌC – LỚP QTH3B
Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tìm hiểu về văn hóa làng
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS Trần Văn Châu
Lời nói đầu
Làng là đơn vị cư trú cơ bản của nông thôn người Việt và đã hình thành từ rất sớm (trước khi có Nhà nước). Đầu tiên làng là điểm tụ cư của những người cùng huyết thống, sau đó để phù hợp với sự phát triển của xã hội và lịch sử , làng còn là điểm tụ cư của những nhóm người cùng nghề nghiệp, bao gồm nhiều dòng họ khác nhau. Khi Nhà nước ra đời, làng là một đơn vị hành chính cơ sở của nhà nước và là một tổ chức tự quản, quân sự và văn hoá khá hoàn chỉnh. Cùng với việc xuất hiện làng trong lịch sử Việt Nam, văn hoá làng cũng ra đời, trở thành nét đặc trưng của văn hoá dân tộc.
Nền văn hoá Việt Nam được tạo dựng trên cơ sở của nền văn minh nông nghiệp. Cuộc sống của người Việt Nam gắn bó với làng xã, quê hương. Tập tục làng, truyền thống và văn hoá làng là chất keo đặc thù gắn kết mọi thế hệ thành viên của làng.
Nhóm đươc thầy giao phó cho việc chứng minh văn hóa làng làm nên giá trị của văn hóa Việt Nam nên đã cùng nhau phối hợp thực hiện, nghiên cứu xây dựng đề tài này. Đây là một đề tài hấp dẫn, có tính thực tiễn cao trong việc bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.
Mặc dù đã cố gắng hết sức trong việc nghiên cứu, xây dựng bài nghiên cứu, song những sai sót là điều khó tránh khỏi. Nhóm rất mong nhận được sự đóng góp từ phía Thầy và các bạn để đề tài của nhóm hoàn thiện hơn nữa.
Phần nội dung
I. KHÁI NIỆM VỀ LÀNG
Làng là một thiết chế xã hội, một đơn vị tổ chức chặt chẽ của nông thôn Việt trên cơ sở địa vực, địa bàn cư trú, là sản phẩm tự nhiên tiết ra từ quá trình định cư và cộng cư của người Việt, là địa điểm tập hợp cuộc sống cộng đồng tự quản và phong phú của người nông dân. Ở đó, họ sống và làm việc, quan hệ, vui chơi, thể hiện mối ứng xử văn hóa với thiên nhiên nhiên, xã hội và bản thân họ.
Trước khi tìm hiểu những đặc trưng cơ bản của làng, chúng ta cần xác định làng được hình thành ở sườn đồi, thung lũng hoặc đồng bằng, ven biển. Vị trí của làng thường gần khe, suối, sông, rạch đầm, hồ và trên các trục lộ giao thông. Theo ông Lê Văn Siêu (Việt Nam Văn Minh Sử), làng ở Bắc Việt rộng trung bình trên dưới 200 hecta và đường bán kính phải 800 mét. Quy mô này rất phù hợp với đời sống nông nghiệp vì tiện lợi trong việc đi lại, canh tác, chăm sóc mùa màng (liền canh, liền cư). Mỗi làng thường có lũy tre hay hàng rào bao bọc, có cổng làng, cây đa, giếng nước, bến đò… Bất cứ làng nào cũng phải có đình làng để thờ thần khai canh (người lập ra làng), đền thờ thần Thần hoàng. Ngoài ra một số làng có thêm chùa làng để thờ Phật, đền, miếu để thờ những nhân vật lịch sử hay truyền kì.
II. VĂN HÓA LÀNG
1. Cơ cấu làng Việt
Làng Việt là một thành tố quan trọng trong cơ cấu xã hội Việt (nổi lên là gia đình (nhà) – làng – nước, còn cấp vùng, tỉnh là đơn vị trung gian ít quan trọng hơn) với hai đặc trưng cơ bản là tính cộng đồng và tính tự trị.
Làng được tổ chức rất chặt chẽ, không phải theo một mà nhiều cách, nhiều nguyên tắc khác nhau, tạo nên nhiều loại hình, nhiều cách tập hợp người khác nhau, khác nhau nhưng lại hòa đồng trong phạm vi làng. Về cơ bản, cơ cấu làng Việt (cổ truyền và hiện đại) được biểu hiện dưới những hình thức tổ chức (liên kết, tập hợp người) sau đây:
- Tổ chức theo địa vực (khu đất cư trú) với mô thức phổ biến: làng phân thành nhiều xóm, xóm phân thành nhiều ngõ, mỗi ngõ gồm một hay nhiều nhà…thành những khối dài dọc đường cái, bờ sông chân đê, những khối chặt kiểu ô bàn cờ theo hình vành khăn từ chân đồi lên lưng chừng đồi và phân bố lẻ tẻ, tản mát, xen kẻ với ruộng đồng…. Mỗi làng, xóm, ngõ có cuộc sống riêng tư tương đối.
- Tổ chức làng theo huyết thống (gia đình, dòng họ). Ngoài các gia đình nhỏ, gia đình hạt nhân, dòng họ có vai trò vị trí và vai trò quan trọng trong









bài giảng rất hay và tuyệt vời, cảm ơn các thầy cô rất nhiều ạ. chúc thầy cô mạnh khỏe. http://vaybauthoitrang.com