Violet
Dethi

Tin tức thư viện

Khắc phục hiện tượng không xuất hiện menu Bộ công cụ Violet trên PowerPoint và Word

12099162 Kính chào các thầy, cô. Khi cài đặt phần mềm , trên PowerPoint và Word sẽ mặc định xuất hiện menu Bộ công cụ Violet để thầy, cô có thể sử dụng các tính năng đặc biệt của phần mềm ngay trên PowerPoint và Word. Tuy nhiên sau khi cài đặt phần mềm , với nhiều máy tính sẽ...
Xem tiếp

Quảng cáo

Coccoc-300x250

Hỗ trợ kĩ thuật

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra

Trí thức tinh hoa Việt Nam đương đại - Hàm Châu

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: ST
Người gửi: Trần Văn Lâm
Ngày gửi: 16h:10' 21-11-2022
Dung lượng: 7.7 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN DO THƯ VIỆN KHTH TP.HCM THỰC HIỆN
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Hàm Châu
Trí thức tinh hoa Việt Nam đương đại - Một số chân dung / Hàm Châu. - T.P. Hồ Chí Minh
: Trẻ, 2014.
1220tr. : chân dung ; 23 cm.
1. Trí thức -- Việt Nam.
1. Intellectuals -- Vietnam.
305.552 -- dc 23
H198-C50

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Là một nhà báo kỳ cựu đã có thâm niên tiếp xúc gần gũi các nhà khoa học và trí
thức đầu ngành Việt Nam từ những năm tháng chiến tranh, tác giả Hàm Châu
có thể được xem như là một trong những người có nhiều thông tin về tiến trình
thế hệ của những người làm khoa học nước nhà. Từ những trí thức đầu đàn lập
quốc như các giáo sư Tạ Quang Bửu, Hồ Đắc Di, Hoàng Minh Giám, Trần Đại
Nghĩa, Tôn Thất Tùng... đến Nguyễn Tài Cẩn, Hoàng Tụy, Trịnh Xuân Thuận,
Trần Thanh Vân và các thế hệ sau này như Ngô Bảo Châu, Vũ Hà Văn, ông đều
có những quan sát kỹ lưỡng từ xa đến gần, từ sự khái quát sự nghiệp của họ cho
đến cuộc sống đời thường mà ông có dịp được biết.
Lịch sử nền khoa học và sáng tạo Việt Nam vẫn còn nhiều khoảng trống chưa
được lấp, và cuốn sách của nhà báo Hàm Châu – Trí thức tinh hoa Việt Nam
đương đại – Một số chân dung – là một nỗ lực góp phần lấp đầy khoảng trống
đó. Ở đây, thái độ của một người cầu tiến và phẩm chất tinh thần “đồ Nghệ” đã
giúp tác giả vượt qua những trở ngại về tư liệu cũng như sự ít ỏi của truyền
thông khoa học kỹ thuật nhiều thập niên, để dựng nên bức tranh toàn cảnh về
không khí học thuật, ghép từ những chân dung khá chi tiết.
56 gương mặt được giới thiệu trong cuốn sách này tất nhiên chỉ là phần nào
trong đông đảo các trí thức người Việt đầy khao khát cống hiến, phụng sự xã hội
cũng như chinh phục đỉnh cao trí tuệ. Họ không chỉ gồm các nhà khoa học, bác sĩ,
kỹ sư, các nhà lý thuyết nhiều danh vọng mà còn cả những người thầy, những
người nghệ sĩ. Trưởng thành và lập thân trong bối cảnh đất nước nhiều biến động,

không phải lúc nào cũng sẵn điều kiện cho họ làm việc, thậm chí quá thiệt thòi
cho tài năng, những bậc trí thức lớn vẫn tìm cách thích nghi và vượt qua để làm
được việc, để thành nguồn cảm hứng cho nhiều thế hệ người Việt. Họ là mảng
tinh hoa của đời sống hòa bình, đời sống xây dựng đất nước, để cân bằng với đời
sống chiến tranh vốn dĩ đã đẩy đất nước vào tình thế phát triển bất bình thường.
Từng là Tổng biên tập của báo Tổ Quốc, nhà báo Hàm Châu đã quen thuộc
với bạn đọc nhiều thập niên về những tuyến bài viết về các học giả nước nhà,
cũng như các trí thức Việt Nam sinh sống ở nước ngoài. Với văn phong đậm
chất giáo khoa, nghiêm túc và mạch lạc, Trí thức tinh hoa Việt Nam đương
đại – Một số chân dung thực sự hữu ích cho những bạn đọc trẻ cần tìm hiểu
về một hệ thống phát triển của giới trí thức, đặc biệt là mảng khoa học. Người
đọc sẽ tìm thấy niềm tự hào về những thế hệ người Việt đã tiếp cận nền khoa
học nhân loại, và cả những nỗi tiếc nuối về những công trình bỏ lỡ do thời cuộc.
Đằng sau đó là sự hi vọng về một tương lai nước nhà, chỉ có lòng hiếu học và tri
thức mới đưa đất nước tiến bộ.
Nhà nghiên cứu văn hóa Hữu Ngọc đánh giá cuốn sách là “một bích họa hoành
tráng phản ánh giai đoạn lịch sử Việt Nam đương đại”. Đó cũng là một đóng góp
của cuốn sách, cho dù như lời tác giả khiêm tốn gửi gắm: “Tất nhiên, tôi làm sao
đủ sức viết nổi về tất cả những trí thức tiêu biểu của nước Việt Nam đương đại.
Trong sách, chỉ là một số chân dung những trí thức ít nhiều tiêu biểu mà tôi may
mắn từng được gặp mặt, chuyện trò”. Nhà xuất bản Trẻ cũng hi vọng sẽ còn có
những cuốn sách tiếp nối về các trí thức đương đại khác, trở thành nguồn cảm
hứng chinh phục đỉnh cao trí tuệ cho bạn đọc nước nhà.
Xin trân trọng giới thiệu tác phẩm này.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

ĐÔI ĐIỀU TÂM NIỆM

Khi viết về thân thế, sự nghiệp một nhân vật trong quá khứ xa xăm - như
Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370) hay Ngô Thì Sĩ (1726-1780) - các tác giả hiện
nay chẳng có phép thần thông nào làm cho mấy vị ấy sống lại, để chính mình
được gặp mặt, chuyện trò, rồi ghi lấy những gì quan sát được, những ấn tượng,
cảm xúc!
Người viết chỉ còn cách sưu tầm những tư liệu còn rơi rớt lại sau bao phen
binh lửa, để rồi từ đó phác ra một số nét về cuộc đời và sự nghiệp của nhân vật
ấy. Những tư liệu gốc ở nước ta, từ thế kỷ XVIII trở về trước, hầu hết đều ghi
bằng chữ Hán, chữ Nôm, do đó, các tác giả phải là người am tường thứ văn tự
biểu ý ấy - như Nguyễn Tài Cẩn hay Trần Thị Băng Thanh - thì mới mong viết
ra được những điều đáng tin cậy, có tính khoa học. Tất nhiên, tác phẩm được tạo
thành sẽ là một công trình nghiên cứu văn - sử, chứ không phải một tác phẩm
ký chân dung.
Khi viết về cuộc đời và sự nghiệp một nhân vật cùng thời, tác giả may mắn
hơn ở chỗ có thể “diện kiến, phiếm đàm” với chính nhân vật ấy. Nghề làm báo tạo
thuận lợi cho việc giao tiếp. Bởi thế, có nhà lý luận báo chí cho rằng, một phóng
viên giỏi, với cuốn sổ tay, chiếc máy ghi âm - ghi hình và tài năng phân tích,
đánh giá, rất có thể trở thành một “nhà chép sử đương đại” qua các tác phẩm ký
chân xác, đáng tin về những sự kiện, con người của thời đại anh ta đang sống.
Tôi bước vào nghề báo từ năm 22 tuổi. Sau dăm ba năm đầu “thử bút”, tập
viết bình luận quốc tế, suốt mấy thập niên sau, tôi chuyên hẳn vào lĩnh vực khoa
học - giáo dục, và thầm coi đó là “đất dụng võ” của mình. Những nhân vật mà

5

độc giả sẽ gặp trong sách Trí thức tinh hoa Việt Nam đương đại – Một số
chân dung đều là những con người - dù đã qua đời hay đang còn sống - tôi
từng tiếp xúc nhiều lần. Ấn tượng trực tiếp giúp người viết có thể tạo nên nét
riêng cho bài ký.
Những nhân vật mà tôi cố gắng thể hiện trong cuốn Trí thức tinh hoa Việt
Nam đương đại – Một số chân dung hầu hết là nhà giáo, nhà khoa học, quen
tư duy logic, rất “dị ứng” với những gì không chính xác, dù chỉ là một chi tiết nhỏ.
Năm 1982, trong một bài về Giáo sư1 Hồ Đắc Di đăng trên báo Hà Nội Mới,
tôi viết: “Từ những năm kháng chiến chống Pháp, bên con ngòi Quẵng giữa
rừng sâu Chiêm Hóa lắm beo nhiều vắt, cho đến những năm hòa bình, ở một
phố lớn nhìn sang vườn hoa Tao Đàn, giữa lòng Hà Nội, hai gia đình GS Hồ
Đắc Di và GS Tôn Thất Tùng vẫn ở cùng nhà, ăn cùng mâm. Hằng ngày, hai
người vẫn gặp nhau trên lối đi rải cuội trong thửa vườn nhà, hay bên màn ảnh
nhỏ máy thu hình”.
Sau khi báo phát hành, tôi được GS Di cho biết, trong đoạn văn trên, có chỗ
chưa chính xác: Là nhà mổ xẻ, luôn cấp cứu bệnh nhân, GS Tùng hầu như chẳng
có chút thời gian “nhàn hạ” nào để mà... ngồi xem TV!
Một lần khác, trong bài về GS Đặng Vũ Hỷ đăng trên báo Nhân Dân, tôi viết
về người vợ của giáo sư trong những năm chống Pháp, tản cư vào liên khu IV:
“Là con gái một cụ thượng thư, thế mà bà trồng chuối, tưới rau, nuôi gà, gánh
nước, kiếm củi y như một bà mẹ trẻ lam làm ở chốn làng quê”.
Sau khi báo phát hành, GS Đặng Vũ Minh, lúc ấy là giám đốc Trung tâm Khoa
học tự nhiên và công nghệ quốc gia, con trai GS Đặng Vũ Hỷ, nói với tôi: “Bài
anh viết rất hay. Mẹ tôi và cả nhà tôi hết sức cảm ơn anh. Tuy nhiên, cũng phải
nói thật, có một chỗ làm mẹ tôi... bật cười! Đúng là mẹ tôi vẫn trồng rau, nuôi
gà. Nhưng bà... chưa quen 'gánh nước' vì... đau vai lắm!”

1

6

Trong sách, một số từ xin được viết tắt: Giáo sư - GS, Phó Giáo sư - PGS, Tiến sĩ - TS, Tiến
sĩ khoa học - TSKH,...

Vài chi tiết nhỏ chưa chính xác như thế, độc giả nói chung không phát hiện
được. Nhưng, những người sống gần GS Tùng hay GS Hỷ thì cảm thấy... “sạn”!
Bởi thế, để bảo đảm độ chính xác cao, có tính lịch sử, khi in lại, tôi dứt khoát gạch
bỏ mấy chi tiết ấy.
Tôi nghĩ, sức hấp dẫn của bài ký chân dung không phải ở chỗ tác giả “bịa” giỏi,
hư cấu tài, mà là ở mức độ phong phú, sống động của các chi tiết có thật, được
chọn lọc, và ở cảm xúc, lời bình của tác giả.
Thời trẻ, tôi say mê đọc bộ Sử ký của Tư Mã Thiên (135-93 tr. CN). Tôi cảm
thấy, sở dĩ bộ sách ấy hấp dẫn bạn đọc nhiều nước hơn hai thiên niên kỷ, là do
tác giả không chỉ chép lại một cách đầy đủ, cặn kẽ những sự kiện lịch sử “động
trời” bên nước Trung Hoa thời Xuân Thu - Chiến Quốc và thời Tần - Hán, mà
còn qua phần Bản kỷ và phần Liệt truyện, vẽ nên những bức chân dung sống
động, đầy chi tiết về những con người “nhào nặn nên lịch sử”. Đó là những vị
hoàng đế, vương hầu, công khanh, đại phu, cũng như những bậc trí thức lẫy
lừng “trước thư lập ngôn” như Khổng Tử, Lão Tử, Khuất Nguyên, Mạnh Tử,
Trang Tử, Tôn Tử, Ngô Khởi...
Không đủ vốn hiểu biết trực tiếp để viết về những nhân vật chính trị, quân
sự, ngoại giao lỗi lạc Việt Nam thời nay, tôi thầm nghĩ, nếu mình viết chân thật,
sống động về những nhà trí thức Việt Nam đương đại, kể từ Cách mạng Tháng
Tám về sau, thì may ra cũng có thể góp phần ghi lại đôi nét bóng dáng lịch sử
ánh xạ qua số phận những con người ít nhiều tiêu biểu ấy.
Khi đọc Trí thức tinh hoa Việt Nam đương đại – Một số chân dung, bạn
đọc sẽ gặp những bài rất ngắn, cũng như những bài khá dài. Độ ngắn, dài của
từng bài không hề phụ thuộc vào việc nhân vật trong bài đó cống hiến nhiều hay
ít cho đất nước, mà chỉ do vốn hiểu biết của người viết về nhân vật ấy dày dặn
đến mức nào. Đối với những nhân vật mà tác giả tiếp xúc không nhiều, thì thà
viết gọn còn hơn “pha loãng”.
Sách chia làm ba chương, viết về mấy thế hệ trí thức đương đại:
1. Trí thức thế hệ thứ nhất (từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945).
2. Trí thức các thế hệ tiếp theo (từ sau ngày Hà Nội giải phóng năm 1954).
3. Trí thức người Việt Nam ở nước ngoài..

7

Trong từng chương, sự sắp đặt các nhân vật trước sau chỉ căn cứ vào chữ tên
nhân vật ấy để xếp theo trật tự chữ cái tiếng Việt (a, b, c...).
Tất nhiên, tôi làm sao đủ sức viết nổi về tất cả những trí thức tiêu biểu của
nước Việt Nam đương đại. Trong sách, chỉ là một số chân dung những trí thức
ít nhiều tiêu biểu mà tôi may mắn từng được gặp mặt, chuyện trò.
Còn nhiều nhà trí thức nổi tiếng mà riêng tôi rất ngưỡng mộ như Hoàng Xuân
Hãn, Đào Duy Anh, Lương Định Của, Lê Thành Khôi... nhưng do tôi chưa có
dịp tiếp xúc nhiều, nên chưa thể phác họa chân dung.
Cuốn Trí thức tinh hoa Việt Nam đương đại – Một số chân dung có thể
ra mắt độc giả hôm nay là nhờ sự khích lệ đầy nhiệt tình và sự giúp đỡ cụ thể,
thiết thực của Nhà xuất bản Trẻ, đặc biệt là của anh Nguyễn Thế Truật và các
biên tập viên. Thành thật cảm ơn.
Tôi cũng chân thành cảm ơn thạc sĩ Nguyễn Cẩm Ngọc, nghiên cứu sinh tiến
sĩ Khoa học Chính trị, đã dành thời gian ít ỏi của chị để đọc kỹ từng chữ và nhiều
lần toàn bộ bản thảo cuốn sách, sửa chữa các lỗi đánh máy vi tính, và góp ý về
ngữ nghĩa và nội dung.
TÁC GIẢ

8

Chương I

TRÍ THỨC
THẾ HỆ THỨ NHẤT
(từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945)

TẠ QUANG BỬU
- MỘT TRÍ TUỆ BÁCH KHOA,
MỘT NHÀ LÃNH ĐẠO KHOA HỌC

TỪ “ĐẤT HỌC” NAM ĐÀN
Ông nội tôi, cụ Nguyễn Văn Chấn, đỗ phó bảng năm Ất Mùi (1895);
tuy đỗ đại khoa, vẫn quay trở về quê hương Nam Đàn dạy học. Thuở
nhỏ, tôi thường nghe ông tôi khuyên bảo:
- Lớn lên, cháu phải gắng học cho chăm, cho giỏi. Cái vốn “cựu học”
của ông bây giờ chẳng còn thích dụng nữa! Cháu phải noi gương các
nhà “tân học” như ông Tạ Quang Bửu, con cụ cử Diễm ở dưới Hoành
Sơn, hay ông Nguyễn Thúc Hào, con cụ bảng Dinh ở làng Xuân Liễu
ta đây. Cả hai vị “tân học” ấy đều là dân Nam Đàn, là bà con gần của
nhà ta đấy, cháu ạ...

GS Tạ Quang Bửu,
Bộ trưởng Bộ Đại
học và Trung học
chuyên nghiệp
trong những năm
đạn bom, sơ tán;
trên bàn làm việc
luôn đặt sẵn cái
mũ sắt.

10

Thế là, ngay từ tuổi bé thơ đầy ảo mộng, trong tâm trí tôi, nhà “tân
học” Tạ Quang Bửu đã là một mẫu mực tuyệt vời, một thiên “huyền thoại
sống” xa xôi mà gần gũi.
GS Tạ Quang Bửu sinh ngày 23-7-1910 tại thôn Hoành Sơn, xã Nam
Hoành, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Các gia đình trí thức Nho gia
xưa, khi đặt tên cho con cháu, thường suy tính rất kỹ, nhằm kín đáo gửi
gắm niềm kỳ vọng của cha mẹ, ông bà. Bửu là cách đọc trệch âm của chữ
Bảo [宝] có nghĩa là quý báu, chẳng hạn: bửu bối [宝贝], bửu kiếm [宝 剑]...
Một số người trong hoàng tộc triều Nguyễn cũng có những cái tên bắt
đầu bằng chữ Bửu, chẳng hạn: Bửu Hội [宝会], một nhà bác học hóa sinh
ở thế kỷ XX; Bửu Đảo [宝 嶹] tức nhà vua Khải Định, v.v...
Nam Đàn có làng Sen quê hương Bác Hồ, làng Đan Nhiễm quê hương
cụ giải nguyên Phan Bội Châu; có con sông Lam nước ngời lam màu ngọc
bích, có ngọn rú Đụn (tên chữ Hán là Độn Sơn) với đền Mai Hắc Đế cây
cối um tùm, có rú Đại Huệ với suối khe róc rách, đôi bờ san sát những
cái rày 1 bậc thang lắm cau, mít, nhiều cam, hồng...
Làng quê GS Bửu ở tận cuối huyện, mạn đông-nam, bên kia bến đò
Vạn Rú (rú ở đây là một dãy núi nằm ngang, được gọi một cách văn vẻ là
Hoành Sơn). Ông nội GS Bửu là cụ Tạ Quang Oánh, đỗ cử nhân Nho học,
nhưng vẫn cứ ở lại làng mình, cày ruộng, khi mất chẳng để lại ruộng cả,
ao liền, bạc tiền, dinh thự gì cho con cháu cả! Trong tộc phả dòng họ Tạ
ở Hoành Sơn còn ghi hai câu chữ Hán ngắn:
父教子登科
举人在贯.
Phụ giáo tử đăng khoa
Cử nhân tại quán.
Có nghĩa: Cha dạy con đi thi, đã 11 đời rồi, đời nào cũng đỗ cử nhân.
Nhưng, sau khi đỗ đạt, nhiều vị tân khoa họ Tạ vẫn cứ ở lại quê hương mình
cày ruộng và dạy học, chẳng chịu ra làm quan, chẳng hám danh chuộng lợi...
1

Rày: Tiếng địa phương, có nghĩa là trại trồng cây lưu niên trên triền núi cao.

11

Thân phụ GS Bửu là nhà nho Tạ Quang Diễm (cũng gọi là Tạ Diễm)
nổi tiếng học giỏi từ thời trẻ. Thuở ấy, cụ phó bảng Đặng Nguyên Cẩn,
biệt hiệu Thai Sơn (thân phụ nhà văn Đặng Thai Mai) mở trường tư dạy
học ở vùng Thanh Chương - Nam Đàn. Dưới cổng trường cụ Thai Sơn, có
nhiều người học trò văn hay chữ tốt nổi tiếng khắp vùng, như Tạ Diễm
ở mạn Hoành Sơn, Trần Thông bên làng Thanh Thủy...
Cho đến nay, trong số con cháu các ông đồ xứ Nghệ, vẫn còn lưu truyền
bài văn sách (một thể văn xưa) viết về những môn sinh trường cụ Thai
Sơn. Bài văn mở đầu:
Thai Sơn môn hạ
Làng giỏi cũng nhiều
Hoành Sơn Tạ Diễm
Thanh Thủy Trần Thông...
Thông minh, ý nhị, để lại nhiều áng thơ hay, nhiều câu hát phường vải
dí dỏm mãi đến nay vẫn còn truyền tụng; thế nhưng tính nghịch ngợm,
ưa làm những câu thơ trêu chọc các bác “hủ nho”, các ông quan “phụ
mẫu”, chứ chẳng chuộng lối văn trường quy khuôn sáo, cho nên chàng
nho sinh Tạ Diễm cứ trượt hoài, mãi đến năm 1910, khi đã ngoài 26 tuổi,
mới đỗ cử nhân Trường Nghệ (trường thi Nho học xưa dành cho vùng
Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh).
Vì quen biết nhiều người trong Đông Kinh nghĩa thục, ông Tạ Diễm
không “được” bổ đi làm quan huyện, quan phủ ở miền trung châu trù
phú, mà bị đẩy ra làm huấn đạo ở làng Quý Hương (Thanh Hóa) - một
làng nước độc, dân nghèo - rồi chuyển vào làm giáo thụ phủ Tam Kỳ
(Quảng Nam).
Có tiếng hay chữ, ông được mời ra chấm thi Trường Thừa (trường thi
ở vùng Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế).
Năm 1919, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp bãi bỏ thi cử Nho
học. Ông cử Diễm đành nhận dạy chữ Hán và Việt văn cho vài trường
tiểu học ở Huế với đồng lương ít ỏi.

12

Vợ ông, bà Nguyễn Thị Đào, cháu nội cụ thám hoa Nguyễn Đức Đạt1,
người Nam Đàn, một nhà giáo yêu nước nổi tiếng, sốt sắng tham gia
phong trào Cần Vương, phò tá vua Hàm Nghi nhưng không thành. Bà
Đào dạy nữ công và thỉnh thoảng đưa in mấy bài thơ vịnh cảnh nghèo,
gửi gắm chút tình non nước trên các báo Tiếng Dân, Phụ Nữ Thời Đàm với
bút danh Sầm Phố.
Ông bà chỉ có hai người con trai là Tạ Quang Bửu và Tạ Quang Đệ
(sau này, trở thành nhà báo nổi tiếng với bút danh Quang Đạm). Về nữ
sĩ Sầm Phố, cách đây chưa lâu, GS Hoàng Như Mai - một nhà nghiên cứu
văn học quen biết cuối đời làm việc tại TP Hồ Chí Minh - sưu tầm, sao
chụp được một số bài thơ hay của bà in trên tờ Phụ Nữ Thời Đàm ở Sài
Gòn thập niên 20 thế kỷ XX.

“HẬN MẤY MUÔN ĐỜI, PHÚC LỘC THỌ MÀ CHI”
Ông Cử Diễm mất năm 1925, khi ông mới 41 tuổi, và cậu con trai
đầu là Tạ Quang Bửu mới học lớp đệ tam (chương trình nặng hơn lớp
8 hiện nay).
“Bố tôi mất ngày mồng 6 tháng Tư âm lịch - sau này GS Tạ Quang Bửu kể
lại. Lúc bấy giờ, tôi đang trọ tại nhà cụ phó bảng Nguyễn Thúc Dinh (thường
gọi là cụ bảng Dinh, một người đồng hương Nam Đàn quen biết bố tôi, năm ấy
đang làm quan ở Huế) để đi học Trường Quốc Học được gần hơn. Bỗng có người
đến gọi tôi trở về nhà ngay, vì sáng hôm ấy, bố tôi thổ huyết, ngã giữa đường,

1

Trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa là ba vị trí cao nhất, gọi là “tam khôi”, trong các kỳ thi
Hội tuyển chọn tiến sĩ thời xưa, Tuy nhiên, triều Nguyễn quy định không lấy ai đỗ trạng
nguyên, cho nên bảng nhãn và thám hoa trở thành hai vị trí cao nhất. Triều Nguyễn còn
đặt thêm học vị phó bảng; cũng là người đỗ đại khoa, nhưng chỉ được niêm yết họ tên trên
phó bảng để phân biệt với tiến sĩ được niêm yết trên chính bảng. Các cụ Hoàng Diệu, Phan
Châu Trinh, Nguyễn Sinh Sắc đều đỗ phó bảng.

Thám hoa Nguyễn Đức Đạt (1824-1887), biệt hiệu Nam Sơn Chủ Nhân, để lại nhiều tác
phẩm, nổi tiếng nhất là cuốn Nam Sơn tùng thoại. Học trò ông, về sau, nhiều người nổi
tiếng “hay chữ” như Phan Bội Châu, Cao Xuân Dục (thượng thư Bộ Học, tổng tài Quốc sử
quán), Nguyễn Sinh Sắc (thân phụ Chủ tịch Hồ Chí Minh), Đặng Nguyên Cẩn (thân phụ
nhà văn Đặng Thai Mai)...

13

may mà có ai đó đi qua vực dậy. Bố chết, nhưng tôi còn bé, chưa hiểu gì cả, chưa
biết thương bố.
Bố tôi mắc bệnh lao phổi, vì cảnh nhà túng bấn, khi qua đời chẳng có gì để lại
cho mẹ tôi ngoài... vài trăm đồng bạc... nợ! Đám chủ nợ có ý đợi tôi sau này đỗ
đạt ra làm quan, rồi thì họ sẽ đòi, hoặc “bắt” tôi... “cưới” con gái họ! Bà con dân
phố bảo tôi phải mặc áo xô, chít khăn tang trắng, nằm xuống đất, đợi người ta
khiêng quan tài bố tôi đi qua, mới được đứng lên. Sau đó, quan tài đưa xuống
thuyền, chở luồn qua phía dưới cầu Thanh Long, rồi đưa lên chôn ở Bến Ngự.
Tôi biết từ nay mình sẽ khổ...
Một vài người bạn của bố tôi bày cho tôi cách viết đơn xin học bổng. Khăn áo
chỉnh tề, tôi mang đơn đến Tòa Khâm. Người giúp tôi lúc đó là ông Lê Thanh
Cảnh. Theo sự chỉ bảo rất ân cần của ông, tôi đi tới một căn phòng ở đấy có một
anh Tây trẻ đang ngồi, có lẽ anh ta chưa đến 25 tuổi. Tôi khúm núm bước lại
gần với lá đơn trong tay. Không thấy anh Tây kia làm gì cả, ngoài việc cứ lấy
tay nhổ râu. Bỗng một cái bạt tai như trời giáng! Đau quá! Tôi chỉ còn nhớ láng
máng có một người Việt nào đó bước vào phòng, nói tiếng Pháp với anh Tây kia:
“Sao ông lại tát nó? Nó mang khăn tang, chứ đâu phải vô lễ, không chịu bỏ mũ!”.
Người dân xứ “bảo hộ” được “nước mẹ Đại Pháp” che chở như thế đấy!
Cậu học trò Tạ Quang Bửu thấm hiểu điều ấy từ tuổi 15.
Sau này, khi đã tham gia phong trào Hướng đạo, dựa vào giai điệu
một bài dân ca Anh, tổng ủy viên Tạ Quang Bửu đặt lời Việt, kín đáo bày
tỏ lòng căm giận đối với bọn ngoại bang chiếm đóng, đồng thời, nói lên
niềm tin vào sức mạnh kết đoàn của “con Hồng cháu Lạc”. Lời ca đó khá
phổ biến trong đám thanh niên trí thức trẻ nước ta thời bấy giờ:
Hận mấy muôn đời,
Hận mấy muôn đời,
Trong vui cười vẫn còn hận!
Hận mấy muôn đời
Phúc Lộc Thọ mà chi!
Hận mấy muôn đời,
Trong vui cười vẫn còn hận!

14

Còn người, còn ngày đẹp, lo gì!
Một người một tay, đâu gây dựng nổi cơ đồ thuở trước?
Triệu người triệu tay, rồi gây dựng sau này...

ĐỖ THỦ KHOA TÚ TÀI BẢN XỨ, RỒI TÚ TÀI TÂY BAN TOÁN,
BAN TRIẾT
Năm 1917 ở phủ Tam Kỳ (Quảng Nam), mở một kỳ thi cho học sinh 7
tuổi, thi cả chữ Hán, Việt văn và toán, do ông đốc học Đinh Văn Chấp,
tiến sĩ Nho học, chấm bài. Cậu bé Bửu dự thi và đỗ cao. Từ đó cậu nức
tiếng học giỏi. Từ lớp đồng ấu đến lớp nhì, cậu học ở Quảng Nam; lên
lớp nhất, mới ra Huế. Đỗ tiểu học ở Huế, năm 1922, cậu Bửu, 12 tuổi, thi
vào Trường Quốc học, đỗ khá cao, thứ 11. Cũng năm ấy, Đào Duy Anh,
18 tuổi, đỗ đầu thành chung (tương đương tốt nghiệp trung học cơ sở
hiện nay).
“Theo thứ tự A, B, C của chữ tên - sau này, GS Bửu kể - tôi được ghi vào
lớp đệ nhất A cùng các anh Lê Dung, Khương Hữu Dụng, Hồ Đắc Cáo. Các anh
Phan Thanh, Nguyễn Học Sỹ (sau này là nhà thơ Nam Trân), Trịnh Thống... vào
lớp đệ nhất B. Thầy dạy chúng tôi hồi đó là những người Pháp, hầu hết chỉ có
bằng brevet supérieur (tương đương bằng tốt nghiệp trung học cơ sở hiện nay),
hiếm lắm mới thấy một ông tú hay một ông cử (như ông Bourotte).
Họ dạy một cách máy móc, chỉ cốt sao cho học sinh thuộc lòng những quy tắc
kinh điển. Chúng tôi học những môn nào có hệ số cao trong các kỳ thi học kỳ,
thi lên lớp, thi tốt nghiệp. Chúng tôi cũng học chăm chỉ với những ông thầy nào
biết tôn trọng học sinh, coi học sinh cũng là người, không bạt tai, đá đít. Tôi
thích các môn sử, địa, vì các môn ấy rất có ích cho việc học giỏi tiếng Pháp. (...).
Tôi không thích học toán bởi lẽ thầy Dubois hay đánh và thầy Bruel thường cứ
nói tào lao. (...).
Tôi ham học vật lý, hóa học. Thầy Surugue làm cho tôi thích thú cái pin đèn.
Đó là một máy phát điện rất dễ làm. Đồng tiền Khải Định đúc bằng kẽm hoặc
bằng đồng. Đồng bạc lúc bấy giờ đúc bằng bạc thật. Dây đồng thì dễ tìm thôi.
Bóng đèn 2,5 vôn cũng chẳng khó kiếm. Thế là có pin và có điện, có bóng đèn loé

15

sáng. Tôi thích điện vì nó có thể “đi xa”. (...). Đó là cái lãng mạn của tuổi trẻ...
Trong các thầy dạy chúng tôi, có một thầy người Việt: Thầy Hoàng Gia Đức đỗ
tú tài bên Pháp, đọc tiếng Pháp rất hay, hay hơn cả... thầy Tây! Ông chọn những
bài văn, bài thơ Pháp tuyệt tác, đọc cho chúng tôi nghe. Chúng tôi nín thở lắng
nghe, cứ như bị bỏ bùa mê và, riêng tôi, mãi đến tận bây giờ, vẫn như còn nghe
vọng về giọng thầy ngâm nga những bài thơ êm ái của Hugo, Lamartine hay
những đoạn văn xuôi trong suốt của Flaubert, Maupassant, Daudet...”.
Anh Bửu là học sinh trẻ nhất lớp, thường bị các bạn trêu chọc gọi đùa là
“người xứ Liliput”. Yêu văn học, nhưng anh bắt đầu thể hiện rõ khuynh
hướng về khoa học tự nhiên.
“Chúng tôi thích vô tuyến điện - GS Bửu kể tiếp. Tôi tìm đâu được một cái
ống têlêphôn. Thế là tôi dựng ngay lên trong vườn nhà hai cái cột tre cao, rồi tìm
hai núm sứ, lấy dây đồng nối chúng lại với nhau, coi như đã có ăngten. Rồi tôi
nối cái ăngten với ống têlêphôn, và áp cái ống điện thoại kia vào tai, rồi... làm ra
bộ đang... nghe... mặc dù chẳng nghe thấy gì cả! Có thể coi đây là một thứ “thí
nghiệm tưởng tượng” được chăng? Dù sao, nhờ thói quen thích mày mò và suy
tưởng ấy, sau này, khi học cơ học lượng tử, gặp các “thí nghiệm tưởng tượng”,
tôi dễ hình dung và làm quen hơn...”.
Đầu năm học 1925-1926, khi anh Bửu lên lớp đệ tứ, thì các anh Võ
Nguyên Giáp, Nguyễn Thúc Hào thi vào lớp đệ nhất, đỗ rất cao, học
rất giỏi.
Hè năm 1926, anh Bửu thi thành chung. Cùng thi với anh, ngoài các
học sinh Trường Quốc học Huế, còn có các bạn từ Trường Quốc học Vinh
vào (những bạn này đã thi viết ở Vinh, nay vào Huế thi vấn đáp). Đỗ
đầu thành chung năm ấy là Hoàng Xuân Hãn, thứ nhì là Tạ Quang Bửu.
Ra Hà Nội, anh Hãn vào Trường trung học Albert Sarraut, học theo
chương trình dành cho học sinh Pháp, nhờ đó, rút ngắn được một năm,
thi tú tài cùng anh Nguyễn Xiển 1, trước anh Bửu. Cả anh Xiển và anh
Bửu đều học Trường trung học Bảo hộ (Lycée du Protectorat, thường
được gọi là Trường Bưởi).
1

Cũng là một gương mặt trí thức được giới thiệu trong sách này.

16

Sau ba năm học Trường Bưởi, thi tú tài bản xứ tại Hà Nội, anh Bửu
đỗ đầu. Sau đó, thi luôn tú tài Tây ban toán, rồi ban triết, anh cũng đều
đỗ đầu. Người đỗ thứ nhì tú tài Tây ban toán năm ấy là một học sinh
Pháp, họ Hiéroltz, về sau, trúng tuyển vào Đại học Bách khoa Paris, một
“trường lớn” ở Pháp tuyển sinh rất khó. Điều đó nói lên chất lượng tú
tài ở Đông Dương thời bấy giờ, không thua kém ở “mẫu quốc”.

HỌC ĐỂ CHIẾM LĨNH TRI THỨC, CHỨ KHÔNG NHẤT THIẾT
PHẢI THI LẤY BẰNG
Nhận học bổng của “Hội Như Tây du học” - một hội khuyến học do
thượng thư Nguyễn Hữu Bài và một số quan lại Nam triều lập ra - anh
Bửu đến Paris, vào học lớp toán đặc biệt ở Trường Louis le Grand. Đây là
nơi “luyện thi” cho những học sinh đã đỗ tú tài nuôi hy vọng trúng tuyển
vào các “trường lớn” như Đại học Sư phạm phố Ulm, Đại học Bách khoa
Paris, và các trường kỹ sư Cầu - đường, Điện, Mỏ... Ngay cả các nhà bác
học lừng danh cũng cảm thấy vinh dự nếu được mang danh hiệu “cựu
sinh viên” của mấy ngôi trường ấy.
Năm 1930, anh Bửu theo học chương trình cử nhân khoa học ở Đại
học Sorbonne, Paris. Anh thường đến Viện Henri Poincaré nghe giảng
bài. Ở đây có hai giảng đường lớn: giảng đường Hermite dành cho các
lớp cử nhân và giảng đường Darboux dành cho các lớp sau đại học. Anh
Bửu chẳng những đến nghe ở giảng đường thứ nhất, mà còn mạnh dạn
dự các buổi xêmina ở giảng đường thứ hai. Ở đây, anh được nghe nhiều
giáo sư nổi tiếng như De Broglie, Fréchet, Élie Cartan, Julia...
Nhiều nhà toán học trẻ ở Pháp lúc bấy giờ bí mật tham gia nhóm
Nicolas Bourbaki, với hy vọng tổng kết toàn bộ thành tựu toán học
của loài người cho đến lúc đó. Các thành viên nhóm N. Bourbaki tự
nguyện không ghi tên họ mình ở các bài báo, cuốn sách do cá nhân
mình viết ra, mà chỉ ghi bằng bút danh chung có tính tượng trưng là
Nicolas Bourbaki. Bởi thế, có người nói N. Bourbaki là “một nhà toán
học có nhiều bộ óc”. Một số bạn cùng lớp với anh Bửu cũng ngấm

17

ngầm vào nhóm N. Bourbaki mà về sau anh mới biết như Henri Cartan,
Dieudonné, Godement...
Tình bạn thời trẻ có lẽ là một động lực thúc đẩy GS Tạ Quang Bửu,
vào năm 1961, viết cuốn Về cấu trúc Bourbaki do Nhà xuất bản Khoa học
in tại Hà Nội. Trái với truyền thống kinh điển quen chia cắt toán học ra
nhiều chuyên ngành khác nhau như đại số, giải tích, hình học,..., nhóm
N. Bourbaki thích đặc trưng bằng các cấu trúc như cấu trúc đại số và dùng
tiêu đề các yếu tố toán học cho toàn bộ các chương. N. Bourbaki đã công
bố hơn 40 cuốn sách chuyên khảo. Đó là những công trình đồ sộ, được
đánh giá rất cao, đến mức có người “bốc” lên cho rằng có thể chia lịch sử
toán học thế giới ra thành hai kỷ nguyên: kỷ nguyên Tiền-Bourbaki và
kỷ nguyên Bourbaki!...
Mấy năm sau, anh Bửu rời Paris xuống Bordeaux, học thêm thầy
Trousset về cơ học. Anh đọc kỹ cuốn Cơ học của Rauth và làm hầu hết các
bài tập trong đó. Chính những hiểu biết về cơ học thu lượm được từ thời
trẻ đã giúp anh sau này trở thành một trong những người sáng lập Hội
Cơ học Việt Nam và có nhiều báo cáo ở các xêmina của Hội (báo cáo cuối
cùng là về Cơ sinh học, dự định trình bày vào tháng 9-1988).
Rồi anh dự thi và trúng tuyển vào Đại học Oxford, một trong hai đại
học nổi tiếng nhất nước Anh (trường kia là Đại học Cambridge). Nhận
học bổng của Oxford, anh rời Pháp sang Anh. Ở đó, anh có cơ hội tốt hơn
nhiều để trau dồi tiếng Anh - nhất là về mặt ngữ âm học và tu từ học - rồi
học thêm vật lý lượng tử qua các xêmina...
Năm năm sau, anh Bửu lại có dịp trở lại nước Anh, dự Trại Tráng sĩ của
tổ chức Hướng đạo thế giới. Anh vào học Trường Đào tạo trại trưởng, gần
London, dự thi một số môn như lên lớp giảng bài cho các hướng đạo sinh,
cắm trại, thắt nút, thổi cơm... Thi đỗ, anh được cấp bằng trại trưởng có
trách nhiệm huấn luyện các hướng đạo sinh trong toàn cõi Đông Dương
thuộc Pháp (Indochine française) thời bấy giờ.
Tạ Quang Bửu tham gia phong trào Hướng đạo từ năm 1937, vì cảm
thấy - theo lời anh - phong trào ấy “sạch sẽ” và có tinh thần yêu nước dù
còn mơ hồ, có những hoạt động nhằm rèn luyện cho thanh niên - nhất

18

là lớp trí thức trẻ - tính tháo vát, tự lực, lòng ham thích làm việc tốt. Vốn
ghét Tây, anh Bửu tìm mọi cách đưa dần phong trào Hướng đạo thoát
khỏi ảnh hưởng của Pháp và ngầm chống lại phong trào “vui vẻ trẻ trung”
do Ducoroy đề xướng. Anh sáng tác lời ca cho một giai điệu nước ngoài:
Một chiếc thuyền con trên làn sóng biếc,
Một lá buồm trôi chân trời xa tít
Mà ngồi đây, đây
Sao thỏa chí tang bồng?
Sao không đi, đi?
Cho khắp núi cùng sông?
Rồi về đây
Trong bóng tối
Sống anh hùng!
Rồi về đây
Trong bóng tối
Sống anh hùng!...
Tác giả khúc ca từ ấy hẳn đã trăn trở nhiều về lẽ sống. Là người được
đào tạo qua trường đại học Pháp, nhưng anh Bửu vẫn dùng những từ
rất cổ của văn hóa phương Đông như “chí tang bồng”, do anh sinh ra và
lớn lên trong một dòng họ trí thức Nho gia lâu đời.
Tang hồ là cây cung bằng gỗ dâu. Bồng thỉ là mũi tên bằng cỏ bổng.
Ngày xưa, bên Trung Hoa, khi sinh con trai, người ta dùng cây cung
bằng gỗ dâu bắn sáu mũi tên bằng cỏ bổng theo sáu hướng: lên trời,
xuống đất và ra bốn phía đông, tây, nam, bắc. Tập tục ấy nhằm bày tỏ
cái chí của đấng nam nhi trải khắp các phương trời. Chịu ảnh hưởng
sâu xa của văn hóa Trung Hoa, các cụ ta xưa thường nói: “Tang bồng
hồ thỉ chí nam nhi”...
Trước năm 1945, nhiều hướng đạo sinh đã bí mật gia nhập Việt Minh.
Sau Cách mạng Tháng Tám, các tổng ủy viên Hướng đạo như Tạ Quang
Bửu, Hoàng Đạo Thúy trở thành cán bộ lãnh đạo Quân đội Nhân dân
Việt Nam.

19

TIẾP NHẬN TRI THỨC KHOA HỌC ĐỈNH CAO
Năm 1946, GS Bửu trở lại Paris với tư cách thành viên Phái đoàn Chính
phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dự Hội nghị Fontainebleau. Tháng
7 năm ấy, được sự đồng ý của ông Trưởng Phái đoàn Phạm Văn Đồng, GS
Bửu cùng TS Bửu Hội sang Geneva dự lễ kỷ niệm 200 năm Ngày thành
lập Hội Các nhà khoa học tự nhiên Thụy Sĩ. Đây là hội nghị khoa học
lớn nhất thế giới, được tổ chức ở châu Âu sau Chiến tranh thế giới thứ II.
“Ở đây - GS Bửu kể - chúng tôi gặp tất cả các nhà bác học lớn ở Thụy Sĩ - trừ
Pauli đang dạy ở Mỹ, gặp hầu hết các nhà bác học lớn ở các nước Tây Âu và một
số nhà bác học lớn đã hoạt động rất khó khăn trong thời kỳ nước họ bị Hitler
chiếm đóng. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó chưa đầy 2 tuổi mà đã có 2 cán
bộ khoa học dự hội nghị này: Bửu Hội, tiến sĩ ở Trung tâm Quốc gia nghiên cứu
khoa học của Pháp, và tôi, giáo sư vật lý Trường đại học Khoa học Hà Nội 1”.
Lễ kỷ niệm diễn ra tại Đại học Bách khoa Zurich, nơi Albert Einstein
từng theo học và cũng là nơi mà các nhà bác học lỗi lạc, những người
được tặng Giải thưởng Nobel như Schrôdinger, Pauli, Karrer... từng giảng
dạy và nghiên cứu. Năm sau, 1947, nhà toán học trẻ Lê Văn Thiêm 2 bắt
đầu giảng dạy cơ học ở đại học này, trước khi trở về bưng biền Nam Bộ,
rồi ra Việt Bắc, tham gia kháng chiến chống Pháp.
Chúng ta hãy nghe GS Bửu kể về sự đón tiếp Erwin Schrôdinger, một
nhà bác học mà sau này GS Bửu nhắc tới nhiều trong cuốn Sống in ở Việt
Bắc năm 1948:
“Ông là nhà vật lý người Áo được tặng Giải thưởng Nobel năm 1933 về cơ
học sóng. Ông đã dạy ở Zurich khá lâu, rồi sang Ireland dạy và nghiên cứu. Lần
này trở về Zurich, ông được đón tiếp như một người anh cả của mọi người, mọi
ngành, và ông đã nói chuyện rất thân mật nhưng rất sâu sắc bằng một thứ tiếng
Áo rất dễ nghe, rất hay. Trước khi đến đây, tôi đã đọc nhiều tài liệu về vật lý của
ông, đặc biệt là cuốn Was ist Leben? (Sống là gì...
 
Gửi ý kiến