Violet
Dethi

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

truyện: mạng nhện của c.....

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: lê thị lành (trang riêng)
Ngày gửi: 16h:11' 22-09-2023
Dung lượng: 644.9 KB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích: 0 người
Dự án thứ 1 của nhóm Dorakan:

Mạng nhện của Charlote.
E.B. White

GIỚI THIỆU
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Mạng nhện của Charlote là một câu chuyện
không chỉ dành cho thiếu nhi. Đây là một câu chuyện
không dài nhưng đủ hấp dẫn, đủ lôi cuốn... Các tình
tiết bất ngờ xoay quanh một chú ỉn con ngây thơ tên
Wilbur và cô nhện đen tài giỏi Charlote. Một trang trại
gia súc xôm tụ với Ngỗng mẹ nói nhiều, Chuột
Templeton cáu kỉnh và ranh mãnh... Và còn nhiều,
nhiều nữa các con vật. Mỗi con một tính, tạo nên
trang trại sinh động và nhiều màu sắc, lúc nào cũng
rôm rả... Câu chuyện có kết cấu đơn giản, nhẹ nhàng
nhưng cũng lắm suy nghĩ. Hãy đọc để giải trí. Nếu
thích thú, hãy mua một cuốn sách ủng hộ tác giả!

THÔNG TIN VỀ CUỐN SÁCH:
Tác giả: E.B. White.
Nhà xuất bản: Nxb Lao động
Ngày xuất bản: 09 - 2007
Giá bìa: 20.000 VNĐ

THÔNG TIN EBOOK:
Typer:
Chương 1, 2: Lấy từ nguồn của TVE
Chương 3, 4: Doraemon25
Chương 5, 6: hanh_nguyen_bg
Chương 7, 8: mejie
Chương 9, 10: dhongtham123
Chương 11, 12: o0o2712o0o
Chương 13, 14: khicon2004
Chương 15, 16: hoalytra
Chương 17, 18: Bad_boy91
Chương 19, 20: cobelala
Chương 21, 22: another
Checker:
Chương 3, 4, 5, 6, 19, 20: heo com
Chương 7, 8, 9, 10, 21, 22: southsky2010
Chương 1, 2, 11, 12, 13, 14: to you
Chương 15, 16, 17, 18: iluvbook09
Editor & đóng ebook: memory882004
Ngày hoàn thành: 4/2011
Nơi đăng tải: e-thuvien.com (TVE)

Mục Lục
GIỚI THIỆU

THÔNG TIN VỀ CUỐN SÁCH

THÔNG TIN EBOOK

CHƯƠNG 1: TRƯỚC BỮA ĐIỂM TÂM

CHƯƠNG 2: CHÚ LỢN CON WILBUR

CHƯƠNG 3: TRỐN CHẠY

CHƯƠNG 4: CÔ ĐƠN

CHƯƠNG 5: CÔ NHỆN CHARLOTTE

CHƯƠNG 6: NHỮNG NGÀY HÈ

CHƯƠNG 7: TIN XẤU

CHƯƠNG 8: MỘT CUỘC TRÒ CHUYỆN Ở NHÀ

CHƯƠNG 9: SỰ KHOÁC LÁC CỦA WILBUR

CHƯƠNG 10: MỘT VỤ NỔ

CHƯƠNG 11: PHÉP LẠ

CHƯƠNG 12: MỘT CUỘC HỌP

CHƯƠNG 13: TIẾN TRIỂN TỐT

CHƯƠNG 14: BÁC SĨ DORIAN

CHƯƠNG 15: DẾ MÈN

CHƯƠNG 16: ĐI HỘI CHỢ

CHƯƠNG 17: NGƯỜI CHÚ

CHƯƠNG 18: ĐÊM MÁT MẺ

CHƯƠNG 19: BỌC TRỨNG

CHƯƠNG 20: GIỜ KHẮC VINH QUANG

CHƯƠNG 21: NGÀY CUỐI CÙNG

CHƯƠNG 22: MỘT LÀN GIÓ ẤM

CHƯƠNG 1: TRƯỚC BỮA ĐIỂM TÂM

- Bố mang rìu đi đâu thế? - Fern hỏi mẹ trong lúc hai mẹ con
đang dọn bàn chuẩn bị bữa sáng.
- Ra chuồng lợn con ạ - bà Arable trả lời. - Đêm qua có mấy con
lợn con mới đẻ.
- Con không hiểu tại sao bố lại cần đến rìu? - Fern, cô bé mới
lên tám tiếp tục hỏi.
- À, - bà mẹ đáp - có một con lợn bị còi. Nó rất nhỏ và yếu, sẽ chẳng
được tích sự gì. Vì vậy bố quyết định bỏ nó.
- Bỏ nó ư? - Fern kêu lên. - Mẹ định nói là giết nó ư? Chỉ vì nó
nhỏ hơn các con khác thôi sao?
Bà Arable đặt bình kem lên bàn.
- Đừng có la lối om sòm, Fern! - Bà nói. - Bố con làm thế là
phải. Đằng nào thì con lợn cũng chết.
Fern xô ghế sang một bên và chạy vụt ra ngoài. Cỏ ẩm ướt và đất
tỏa hương xuân. Khi Fern đuổi kịp bố thì đôi giày vải của cô bé đã
ướt đẫm.
- Bố đừng giết nó! - cô thổn thức. - Như thế là bất công.
Ông Arable dừng bước.
- Fern, - ông dịu dàng nói - con phải học cách tự chủ mới được.
- Tự chủ ư? - Fern kêu lên - Đây là chuyện sống chết mà bố lại
nói đến tự chủ. - Nước mắt lăn dài trên má Fern, cô bé níu lấy cái
rìu, giằng khỏi tay bố.
- Fern - ông Arable nói, - bố biết nhiều hơn con về việc nuôi một
lứa lợn nhỏ. Một con yếu sẽ đẻ ra rất nhiều phiền phức. Giờ thì đi
thôi!
- Nhưng điều đó thật bất công - Fern kêu lên - con lợn biết làm
thế nào khi sinh ra bị nhỏ như vậy? Nếu khi mới đẻ con cũng bé như
thế, liệu bố có giết con không?
Ông Arable mỉm cười:
- Tất nhiên là không rồi - ông âu yếm nhìn con và trả lời, nhưng điều này lại khác đấy. Một cô bé là một chuyện, một con lợn
còi lại là chuyện khác.
- Con chẳng thấy có gì khác cả! - Fern đáp lại, tiếp tục đu lên
chiếc rìu. - Đây là chuyện bất công khủng khiếp nhất mà con từng
biết.
Một vẻ lạ lùng hiện trên nét mặt ông John Arable. Dường như
chính ông cũng sắp kêu lên.

- Thôi được, - ông nói - Con về nhà đi và bố sẽ mang con lợn còi về.
Bố sẽ để con nuôi nó bằng bình sữa, giống như một em bé. Khi đó
con sẽ thấy con lợn có thể gây ra bao rắc rối.
Khoảng nửa giờ sau ông Arable về nhà, ông cắp theo một chiếc hộp
các-tông dưới nách. Fern đang thay giày trên gác. Bàn ăn đã được
bày sẵn, cả gian phòng thơm nức mùi cà phê, thịt muối, mùi vữa ẩm
và khói củi tỏa ra từ bếp lò.
- Đặt nó lên ghế của con bé ấy! - Bà Arable nói. Ông Arable đặt
chiếc hộp xuống chỗ ngồi. Rồi ông đi rửa tay.
Fern chậm chạp xuống cầu thang. Mắt cô bé đỏ ngầu vì khóc.
Khi đến gần ghế của mình, cô thấy chiếc hộp lắc lư và từ đó phát ra
tiếng sột soạt. Fern nhìn bố. Một con lợn con mới đẻ đang giương
mắt nhìn cô. Thân nó màu trắng. Nắng chiếu rọi qua tai nó, biến nó
thành màu hồng.
- Nó là của con, - ông Arable nói - Con đã cứu nó khỏi chết yểu. Và
có thể Chúa nhân từ sẽ tha thứ cho sự ngu ngốc này của bố.
Fern không rời mắt khỏi con lợn tí hon. "Ồ - cô bé nghĩ thầm Ồ, hãy nhìn xem này, nó thật hoàn hảo".
Cô bé cẩn thận đậy nắp hộp lại. Cô hôn bố, rồi hôn mẹ. Sau đó
cô lại mở nắp hộp ra, nâng con lợn lên, áp vào má mình. Vừa lúc đó
Avery, anh của Fern, bước vào phòng. Avery lên mười. Tay cậu bé
nặng trĩu, một bên ôm khẩu súng hơi, tay kia cầm con dao bằng gỗ.
- Cái gì vậy? - Cậu hỏi - Fern có cái gì thế?
- Em con có một vị khách trong bữa sáng nay - bà Arable nói Con đi rửa mặt rửa tay đi.
Nhìn này! - Avery đặt súng xuống và nói. - Cả nhà gọi cái thứ khổn
khổ này là con lợn ư? Thật là 1 kiểu mẫu tuyệt đẹp cho một con lợn
- nó không nhỉnh hơn một con chuột bạch.
- Rửa ráy và săn sáng đi, - bà Arable nói - Nửa giờ nữa ô tô
buýt của trường sẽ qua đây!
- Bố ơi, con muốn có một con lợn được không? - Avery hỏi
- Không, bố chỉ tặng lợn cho những người dậy sớm, - ông
Arable nói - Fern dậy từ lúc tảng sáng, và kết quả là giờ đây em con
có 1 con lợn. Nó nhỏ thôi, hẳn là thế, nhưng dầu sao thì cũng vẫn
cứ là một con lợn. Sự việc này cho thấy nếu người ta dậy sớm thì
ích lợi biết bao. Nào chúng ta ăn thôi!

Nhưng Fern không sao nuốt nổi chừng nào con lợn của cô
chưa uống được sữa. Bà Arable tìm được một cái bình sữa của trẻ
em và một núm vú cao su. Bà rót sữa ấm vào rồi lắp núm lên trên
miệng bình và đưa cho Fern. "Cho nó ăn sáng đi!" - bà nói.
Một phút sau, Fern ngồi bệt dưới sàn trong góc bếp bế bé lợn
vào lòng, dạy nó cách bú. Con lợn mặc dầu nhỏ xíu, rất háu ăn và
nhanh chóng chén sạch. Ngoài đường, tiếng còi ô tô buýt của
trường vọng vào.
- Rảo chân lên! - bà Arable ra lện. Bà đón lấy con lợn từ tay
Fern và giúi vào tay cô bé một chiếc bánh rán, Avery chộp lấy khẩu
súng và vớ một chiếc bánh khác.
Bọn trẻ chạy ra đường, leo lên ô tô buýt. Fern không hề để ý
đến ai ở trên xe. Cô bé chỉ ngồi nhìn ra ngoài cửa sổ, thầm nghĩ thế
giới mới hạnh phúc biết bao và cô mới may mắn làm sao khi có một
con lợn hoàn toàn của riêng mình. Khi xe buýt dừng lại trước cổng
trường thì Fern đã chọn xong tên cho cục cưng của mình, một cái
tên đẹp nhất mà cô có thể nghĩ ra.
- Tên nó là Wilbur - cô bé thì thầm một mình.
Cô còn đang mải nghĩ về con lợn thì thầy giáo hỏi:
- Fern, thủ đô của Pensnylvinia là gì?
- Wilbur ạ, - Fern lơ mơ trả lời. Bọn học sinh khúc khích cười.
[1]
Fern đỏ bừng mặt.

CHƯƠNG 2: CHÚ LỢN CON WILBUR
Fern yêu Wilbur hơn mọi thứ trên đời. Cô bé thích vuốt ve nó,
cho nó ăn, cho nó ngủ. Sáng sáng, ngay khi vừa tỉnh giấc, cô bé
hâm sữa nóng, đeo yếm cho lợn và cầm chai sữa cho lợn bú. Chiều
chiều, khi ô tô buýt của trường dừng lại trước cổng nhà, cô nhảy ra
khỏi xe và chạy vào bếp để chuẩn bị một chai sữa khác. Cô cho lợn
ăn vào giờ ăn tối và một lần nữa ngay trước giờ đi ngủ. Mỗi ngày bà
Arable cho lợn ăn một lần vào buổi trưa, khi Fern đang ở trường.
Wilbur thích sữa và sung sướng nhất là lúc Fern hâm nóng một chai
sữa cho nó, nó đứng đó nhìn cô bé với đôi mắt tha thiết.
Những ngày đầu tiên mới ra đời Wilbur được nuôi trong một cái
hộp để gần bếp lò tại nhà bếp. Rồi khi bà Arable ca cẩm thì nó được
chuyển sang cái hộp lớn hơn trong kho củi. Khi được hai tuần tuổi,
nó được chuyển ra ngoài. Đó là thời kỳ hoa táo nở và trời trở nên
ấm áp hơn. Ông Arable thu xếp khoảng sân nhỏ đặc biệt dành riêng
cho Wilbur dưới một cây táo và làm cho nó một cái hộp gỗ lớn lót
đầy rơm, có cửa để nó có thể đi ra, đi vào tùy thích.
- Ban đêm nó sẽ không bị lạnh chứ? - Fern hỏi.
- Không, - bố nói. - Con nhìn xem xem nó làm gì.
Fern ngồi dưới gốc táo trong sân, tay cầm chai sữa. Wilbur
chạy tới chỗ cô bé và cô cầm chai cho nó bú. Mút hết giọt sữa cuối
cùng, nó ủn ỉn, mắt nhắm mắt mở đi vào trong hộp. Fern chăm chú
nhìn qua ô cửa. Wilbur đang dùng mũi dũi vào đống rơm. Chỉ một lát
sau nó đã đào được một đường hầm trong đống rơm. Nó bò vào
trong đường hầm và biến mất, rơm phủ kín lên mình. Fern say sưa
nhìn. Cô bé nhẹ cả người, vì biết rằng "em bé" của cô ngủ kín và sẽ
được ấm áp.
Sáng sáng sau bữa điểm tâm, Wilbur đi ra đường với Fern và cùng
cô đợi xe buýt tới. Cô bé vẫy tay chào tạm biệt nó và nó đứng nhìn
theo xe buýt cho đến lúc khuất hẳn sau khúc quành. Trong lúc Fern
ở trường, Wilbur bị nhốt trong sân. Nhưng buổi chiều ngay khi cô bé
về đến nhà, cô thả lợn ra và nó loanh quanh theo cô mọi chỗ. Nếu
cô đi lên gác, Wilbur sẽ đợi ở bậc thang thấp nhất cho đến khi cô đi
xuống. Nếu cô bé cho búp bê đi dạo trong một chiếc nôi đồ chơi,
Wilbur đi theo bên cạnh. Thỉnh thoảng, trong những chuyến đi này,
nó mệt thì Fern bế nó lên và đặt vào xe nôi cạnh búp bê. Nó thích

vậy và nếu rất mệt, nó nhắm mắt lại ngủ trong chăn của búp bê. Khi
nhắm mắt, trông nó thật xinh xắn, bởi vì lông mi của nó rất dài. Búp
bê cũng nhắm nghiền mắt, và Fern đẩy xe nôi chầm chậm, nhẹ
nhàng để khỏi đánh thức lũ nhóc của mình.
Vào một buổi chiều ấm áp, ông Arable và Avery mặc áo tắm rồi đi ra
suối bơi. Wilbur bám theo sát gót Fern. Khi cô bé lội xuống suối,
Wilbur lội xuống với cô. Nó thấy nước thật lạnh - quá lạnh đối với
nó. Vì vậy trong lúc bọn trẻ bơi lội, chơi đùa, té nước vào nhau, nó
giải trí trong vũng bùn dọc theo bờ suối, nơi ấy ấm áp, ẩm ướt, dính
nhớp và bùn lầy thật dễ chịu.
Từng ngày trôi qua hạnh phúc và từng đêm trôi qua thanh bình.
Wilbur được các chủ trại gọi là chú lợn mùa xuân, đơn giản là vì
nó sinh ra vào mùa xuân. Khi nó được 5 tuần tuổi, ông Arable nói là
nó có thể lớn để đem bán rồi, và phải bán đi thôi. Fern bị hẫng và
khóc lóc. Nhưng bố cô bé quyết định dứt khoát. Wilbur ăn khỏe thật,
nó bắt đầu ăn thêm cả thức ăn thừa cùng với sữa. Ông Arable
không muốn nuôi chú lâu hơn nữa, ông đã bán mười anh chị em
của Wilbur rồi.
- Nó phải đi thôi, Fern. - ông nói - Con đã có thú vui được nuôi
một con lợn con rồi, nhưng nó không còn bé bỏng nữa và phải bán
đi thôi.
- Hãy gọi cho nhà Zuckerman. - bà Arable gợi ý. - Thỉnh thoảng
chú Homer của con có nuôi một con lợn con đấy. Và nếu Wilbur đến
sống ở đó, con có thể tùy ý đến thăm nó thường xuyên.
- Con nên lấy chú bao nhiêu tiền? Fern muốn biết.
- À! - Bố cô bé nói, - Nó là một con lợn còi. Hãy nói với chú
Homer là con có một con lợn định
bán với giá sáu đô-la, xem chú ấy nói gì.
Mọi việc được thu xếp chóng vánh. Fern gọi điện và gặp cô
Edith, cô kêu to gọi chú Homer. Chú Homer từ sân kho đi vào nói
chuyện với Fern. Khi người chủ biết giá tiền chỉ có sáu đô-la, ông
nói là ông sẽ nuôi con lợn. Ngày hôm sau Wilbur được đưa từ nhà
của nó dưới gốc cây táo đến sống ở đống phân ủ trong hầm chứa
tại chuồng gia súc nhà chú Homer.

CHƯƠNG 3: TRỐN CHẠY
Chuồng gia súc rất rộng. Nó cũ lắm rồi. Ở đó tỏa ra mùi cỏ và
mùi phân. Nó có mùi mồ hôi của những con ngựa mệt nhọc và hơi
thở ngọt ngào kỳ diệu của những con bò nhẫn nại. Nó thường có
một thứ mùi vị yên bình – như thể chẳng có điều gì xấu xa có thể
xảy ra trên đời được. Nó có mùi thóc lúa, mùi yên cương ngựa, mùi
dầu nhờn trục xe, mùi ủng cao su và mùi dây thừng mới. Và hễ khi
ta ném một cái đầu cá cho mèo gặm, thì chuồng gia súc có mùi cá.
Nhưng chủ yếu là nó có mùi cỏ khô, vì luôn luôn có cỏ khô chất ở
tầng mái phía trên đầu và luôn được kéo xuống cho bò, ngựa và
cừu.
Chuồng gia súc ấm áp dễ chịu vào mùa đông và mát mẻ, dễ
chịu vào mùa hè khi những cánh đồng lớn mở toang đón gió.
Chuồng gia súc có các ngăn ở khu vực chính dành cho những con
ngựa làm việc, có các cột ở đó để buộc bò, có một bãi rào nhốt cừu
ở phía sau, tiếp đó là chuồng lợn. Nơi đây còn chất đầy mọi thứ đồ
mà bạn thấy ở một sân kho: thang, đá mài, chĩa hất rơm, hái hớt cỏ,
máy cắt cỏ, xẻng xúc tuyết, cán rìu, xô lấy vữa, gầu nước, những vỏ
bao gạo và những chiếc bẫy chuột đã gỉ. Nó là loại chuồng trại mà
chim én thích làm tổ. Nó là loại sân kho mà trẻ con thích chơi, và
chú của Fern, ông Homer là chủ sở hữu toàn bộ mọi thứ.
Nhà mới của Wilbur ở phần thấp hơn trong chuồng gia súc,
thấp hơn cả chuồng bò. Ông Zukerman biết rằng một đống phân ủ là
một chỗ tốt để chăn một con lợn con. Lợn cần ấm áp, và ở dưới đó,
trong hầm chứa ở phía nam chuồng gia súc thật ấm áp và tiện lợi.
Hầu như ngày nào Fern cũng đến thăm Wilbur. Cô bé tìm thấy
một cái ghế đẩu ngồi vắt sữa đã cũ bị vứt đi. Đặt ghế trong bãi rào
chăn cừu cạnh chuồng của Wilbur. Đàn cừu nhanh chóng quen với
cô bé và tin cậy cô. Bầy ngỗng sống chung với lũ cừu cũng thế. Tất
cả gia súc đều tin cậy cô bé, cô quá lặng lẽ và thân thiện. Ông
Zukerman không cho phép cô vào chuồng lợn. Nhưng ông bảo cô
có thể ngồi ghế đẩu và ngắm nhìn bao lâu tùy ý. Chỉ được ở gần
con lợn thôi cũng đủ làm cô bé hạnh phúc, và Wilbur thì vui sướng
biết rằng cô đang ngồi đó, ngay ngoài chuồng của nó, nhưng nó
không bao giờ có trò gì vui cả. Không còn những cuộc đi dạo, không
còn những lúc nằm trên xe nôi, không còn bơi lội nữa.

Một chiều tháng sáu, khi Wilbur gần được hai tháng tuổi, nó thơ
thẩn đi ra khoảng sân nhỏ bên ngoài khu chuồng. Fern không đến
thăm chú như thường lệ. Wilbur đứng dưới ánh nắng, cảm thấy cô
đơn và buồn chán.
- Quanh đây chẳng bao giờ có gì để làm, - nó nghĩ. Nó lững
thững đi đến máng ăn và hít hít để xem liệu còn gì lại sau bữa trưa
không. Nó thấy một mẩu vỏ khoai tây và chén luôn. Lưng nó ngứa
ngáy nên nó dựa vào hàng rào và cọ lưng vào những tấm gỗ. Khi đã
chán trò này rồi, nó đi vào chuồng, trèo lên đống phân và nằm
xuống. Nó không muốn ngủ, không muốn đào bới, nó chán đứng
yên, chán nằm. “Mình chưa đầy hai tháng tuổi mà đã ngán sống rồi”
– nó nói, sau đó lại đi ra sân.
- Khi mình ở ngoài này, - nó nói, - chẳng có chỗ nào để đi trừ
phi đi vào. Khi mình ở trong chuồng, chẳng có chỗ nào để đi trừ phi
đi ra sân.
- Đấy là chỗ cậu sai đấy, bạn của tôi, bạn của tôi ạ, - một giọng
nói cất lên.
Wilbur nhìn qua hàng rào và thấy ngỗng cái đang đứng đó.
- Cậu không bắt buộc phải ở trong cái khoảng sân bé tí, bẩn…
bẩn… bẩn… thỉu đó. – Ngỗng cái nói khá nhanh. – Một trong những
tấm ván đã bị long. Đẩy nó sang, đẩy – đẩy – đẩy nó sang, và ra
ngoài.
- Cái gì cơ? – Wilbur nói. – Chị nói chậm hơn xem nào!
- Với – với – với… mình nhắc lại, - ngỗng nói – mình bảo là cậu
nên ra ngoài. Ở ngoài này thật tuyệt diệu.
- Chị đã nói là một tấm ván bị long ra phải không?
- Tôi đã bảo, tôi đã bảo – ngỗng nói.
Wilbur đi đến hàng rào và thấy là ngỗng cái nói đúng – một tấm
ván đã long ra. Nói chúi đầu xuống, nhắm nghiền mắt lại và đẩy.
Tấm ván tuột sang một bên. Phút chốc nó đã chui qua hàng rào và
đứng ở bãi cỏ bên ngoài khoảng sân của mình. Ngỗng khúc khích
cười.
- Cảm thấy sao khi được tự do? – Ngỗng hỏi.
- Em thấy thích lắm, - Wilbur nói.
Ở bên ngoài hàng rào, khi chẳng có gì ngăn nó với thế giới rộng
lớn, nó cảm thấy là lạ.
- Chị bảo là em nên đi đâu?

- Bất kỳ chỗ nào cậu thích, bất kỳ chỗ nào cậu thích – ngỗng nói
– Hãy đi xuống vườn quả và dũi cỏ non. Hãy xuống vườn cây và bới
củ cải! Hãy dũi mọi thứ lên! Hãy ăn cỏ! Hãy tìm bắp ngô! Hãy kiếm
lúa mạch! Hãy chạy khắp mọi nơi! Hãy nhảy nhót khiêu vũ và nhảy
tâng tâng! Hãy qua vườn quả và đi dạo trong rừng! Thế giới là một
chốn tuyệt vời khi cậu còn đang trẻ.
- Em hiểu rồi, - Wilbur đáp. Nó nhảy bật lên không trung, xoay
một vòng, chạy mấy bước, dừng lại, nhìn xung quanh hít hít hương
vị của buổi chiều rồi bắt đầu đi xuống vườn quả. Nó nghỉ chân dưới
bóng mát một cây táo, rồi chúi cái mõm khỏe khoắn xuống đất, bắt
đầu ủi, đào và dũi đất lên. Nó cảm thấy thật hạnh phúc. Nó xới bật
hẳn một khoảng đất lên thì có người để ý đến nó. Bà Zukerman là
người đầu tiên trông thấy nó. Bà thấy chú từ cửa sổ nhà bếp và
ngay lập tức gọi cánh đàn ông.
- Ông Homer ơi! – Bà la to, - lợn xổng rồi! Lurvy ơi, lợn xổng!
Lợn xổng chuồng. Nó ở đằng kia, dưới gốc táo ấy.
“Giờ thì rắc rối bắt đầu rồi, - Wilbur nghĩ thầm. – Giờ thì mình sẽ
gặp hạn đây.”
Ngỗng cái nghe tiếng om sòm cũng bắt đầu hò hét:
- Hãy – hãy chạy đi – chạy – chạy xuống, hãy chạy vào rừng,
vào rừng. Wilbur! Họ sẽ không bao giờ - không bao giờ - không bao
giờ bắt được cậu ở trong rừng đâu.
Thấy huyên náo, chó Cốc từ sân kho lao ra tham gia cuộc đuổi
bắt. Ông Zukerman nghe thấy tiếng ồn chui ra khỏi xưởng máy nhỏ
nơi ông đang chữa một thứ đồ dùng. Lurvy, anh chàng làm công
nghe tiếng ồn ào liền từ luống măng tây, nơi anh đang nhổ cỏ dại, đi
lên. Mọi người đều đổ về phía Wilbur và nó chẳng biết làm gì. Rừng
dường như ở xa lắm, vả lại, nó chưa bao giờ đi vào rừng, không biết
liệu nó có thích hay không.
- Chạy vòng ra phía sau nó, Lurvy! – ông Zukerman nói, và dồn
nó về phía khu chuồng trại! – Cứ bình tĩnh, đừng lao vào nó! Tôi sẽ
đi lấy một xô cám lợn.
Tin về cuộc bỏ trốn của Wilbur nhanh chóng lan ra trong đám
gia súc ở trại. Hễ bao giờ có một sinh vật nào trốn ra khỏi trang trại
Zukerman, sự kiện ấy đều được những con khác hết sức quan tâm.
Ngỗng cái hét to với con bò đứng gần đó rằng Wilbur đã tự do, và cả
đàn bò nhanh chóng biết tin. Rồi một con cừu nghe thấy và cả bầy

cừu nhanh chóng biết tin. Lũ cừu con biết tin từ mẹ chúng. Đàn
ngựa, trong gian chuồng của chúng ở khu trại, vểnh tai lên nghe
tiếng chị ngỗng hò hét; và đàn ngựa nhanh chóng hiểu được chuyện
gì đang xảy ra. “Wilbur trốn rồi”, - chúng nói. Mọi con vật đều ngúc
ngoắc đầu và trở nên phấn khích khi biết rằng một trong những
người bạn của chúng đã được tự do, không còn bị nhốt trong
chuồng hay bị trói chặt nữa.
Wilbur không biết làm gì hay chạy theo ngả nào. Dường như tất
cả mọi người đều dồn đuổi nó. “Nếu được tự do mà như thế này, nó
nghĩ, thì thà bị nhốt trong khoảng sân của riêng mình còn hơn”.
Chó Cốc đang lẻn đến gần nó từ một phía, còn Lurvy đang rón
rén lại gần nó từ phía bên kia. Bà Zukerman đứng sẵn để chặn đầu
nó nếu nó chạy vào vườn, và giờ thì ông Zukerman đang đi về phía
nó, tay xách một chiếc xô. “Điều này thật khủng khiếp” – Wilbur nghĩ.
– “Tại sao Fern lại không đến nhỉ?” – Nó bắt đầu khóc.
Ngỗng cái nắm quyền chỉ huy bắt đầu ra lệnh.
- Đừng có đứng ỳ ra đó, Wilbur. Hãy chạy ngoắt ngoéo, chạy
ngoắt ngoéo đi! – Ngỗng kêu lên. – Hãy nhảy quanh, hãy chạy về
phía tôi, hãy lẫn vào và ra, vào và ra, vào và ra! Hãy chạy vào rừng!
Hãy lượn vòng và rẽ quanh!
Chó Cốc chồm tới chân sau của Wilbur. Wilbur nhảy bật lên và
chạy. Lurvy vươn tay ra và vồ. Bà Zukerman hét Lurvy. Ngỗng cái cổ
vũ Wilbur. Wilbur luồn qua chân Lurvy.
Lurvy vồ hụt Wilbur thay vì thế lại chộp trúng chó Cốc.
- Khá đấy, khá đấy! – ngỗng kêu lên. – Làm lại xem nào! Làm lại
xem nào!
- Hãy chạy xuống dốc! – đàn bò gợi ý.
- Chạy đến chỗ anh! – ngỗng đực la to.
- Hãy chạy lên dốc! – đàn cừu be lên.
- Hãy rẽ quanh và lượn vòng! – ngỗng cái hò reo.
- Hãy nhảy nhót và khiêu vũ! – gà trống nói.
- Hãy đề phòng Zukerman! – ngỗng đực gào.
- Hãy coi chừng con chó! – cừu kêu to.
- Hãy nghe tôi, hãy nghe tôi! – ngỗng cái hét ầm lên.
Wilbur khốn khổ mê mụ và hoảng sợ bởi những tiếng la ó om
sòm đó. Nó không thích trở thành trung tâm của tất cả chuyện ầm ĩ
này. Nó cố gắng làm theo những lời chỉ dẫn mà bạn bè đang mách

bảo, nhưng không thể chạy xuống dốc và lên dốc cùng một lúc, và
không thể rẽ quanh và lượn vòng trong khi đang nhảy nhót và khiêu
vũ được, nó khóc to đến nỗi hầu như chẳng nhìn thấy những gì
đang diễn ra nữa. Vả lại, Wilbur là một con lợn con không lớn hơn
một em bé là bao. Nó ước gì có Fern ở đây để ôm nó trong tay và
an ủi nó. Khi nó ngẩng lên thấy ông Zukerman đang đứng ngay bên
cạnh, tay xách một xô cám âm ấm, nó cảm thấy nhẹ nhõm. Nó hếch
mũi lên và ngửi. Mùi vị tỏa ra thật ngon – nào sữa nóng, nào vỏ
khoai tây, hạt mì tấm, mẩu vụn ngô nướng và cả một chiếc bánh
nướng xốp còn sót lại sau bữa điểm tâm của gia đình Zukerman.
- Đến đây nào, lợn con! – ông Zukerman vỗ vỗ vào chiếc xô và
nói, - đến đây nào, lợn con!
Wilbur bước một bước về phía chiếc xô.
- Đừng, đừng, đừng đến! – chị ngỗng nói – Đó là mẹo lừa bằng
chiếc xô cũ rích đấy Wilbur. Đừng có để bị bịp, đừng có để bị bịp!
Ông ta đang cố bẫy cậu vào tù, - tù lại đấy. Ông ta đang quyến rũ cái
bụng cậu đấy.
Wilbur chẳng quan tâm. Đồ ăn tỏa mùi vị ngon lành. Nó tiến một
bước nữa về phía cái xô.
- Lợn con, lợn con! – ông Zukerman ân cần và bắt đầu đi chầm
chậm về phía sân kho, nhìn tất cả xung quanh tỏ vẻ ngây thơ, như
thể ông ta không biết rằng một cậu lợn trắng bé con đang đi theo
sau ông.
- Cậu sẽ hối tiếc – hối tiếc – hối tiếc! – Ngỗng cái gọi.
Wilbur chẳng quan tâm. Nó vẫn đi về phía xô cám.
- Cậu sẽ bỏ lỡ tự do của cậu – ngỗng cái la lên. – Một giờ tự do
đáng giá bằng một thùng cám.
Wilbur chẳng quan tâm.
Tới chuồng lợn, ông Zukerman trèo qua hàng rào và đổ cám
vào máng ăn. Rồi ông kéo tấm ván long ra khỏi hàng rào để có một
lỗ hổng lớn cho Wilbur đi qua.
- Hãy cân nhắc lại, cân nhắc lại! – chị ngỗng kêu lên.
Wilbur chẳng hề để ý. Nó chui qua rào vào khoảng sân của
mình. Nó đi tới máng và tợp một hớp cám rõ dài, sục vào sữa một
cách háu đói và nhai bánh nướng xốp. Lại được về nhà, thật là
thích.

Trong khi Wilbur ăn, Lurvy tìm được một cái búa với mấy chiếc
đinh con đóng tấm ván lại chỗ cũ. Rồi anh ta cùng ông Zukerman uể
oải tựa vào hàng rào, ông Zukerman cầm một chiếc gậy gãi gãi vào
lưng Wilbur.
- Nó thật đúng là một con lợn. – Lurvy nói.
- Phải, nó sẽ thành một con lợn tốt. – ông Zukerman nói.
Wilbur nghe những lời khen đó. Nó cảm thấy sữa ấm chảy trong
bụng. Nó cảm thấy sự gãi gãi dễ chịu của chiếc gậy dọc theo cái
lưng ngứa ngáy của nó. Nó cảm thấy bình yên, hạnh phúc và buồn
ngủ. Một buổi chiều thật mệt nhọc. Mới khoảng bốn giờ thôi nhưng
Wilbur đã tính chuyện đi ngủ.
“Mình thực sự còn quá trẻ để đi ra ngoài thế giới một mình”, vừa nằm xuống nó vừa thầm nghĩ như vậy.

CHƯƠNG 4: CÔ ĐƠN
Ngày hôm sau mưa và tối tăm. Mưa rơi trên mái của khu
chuồng trại và tí tách rỏ xuống từ mái hiên. Mưa rơi trong sân trại và
chảy theo đường vòng xuống con hẻm nơi những cây kế vu và cỏ
dại mọc đầy. Mưa hắt vào cánh cửa sổ bếp của bà Zukerman và
chảy xuống thành dòng. Mưa rơi trên lưng bầy cừu trong lúc chúng
đang gặm cỏ ngoài đồng. Khi đàn cừu đã chán đứng trong mưa,
chúng chậm chạp leo lên con hẻm đi vào chuồng.
Mưa làm hỏng hết kế hoạch của Wilbur. Hôm nay nó đã đặt kế
hoạch đi ra ngoài và đào một cái hố mới trong sân của nó. Nó cũng
có những dự định khác. Kế hoạch trong ngày của nó đại loại như
sau:
Điểm tâm lúc 6 giờ 30 có váng sữa, vỏ bánh, hạt tấm, mấy mẩu
bánh rán, bánh lúa mì có dính những giọt siro, vỏ khoai tây, những
mẩu bánh pút – đinh sữa trứng với những hạt nho khô sót lại và vụn
mì.
Dùng bữa điểm tâm xong lúc 7 giờ.
Từ 7 đến 8 giờ, nó dự định trò chuyện với Templeton, gã chuột
cống ở bên dưới máng ăn của nó, chuyện trò với gã này chẳng phải
là việc hay ho nhất trên đời, nhưng cũng còn hơn là không có gì.
Từ 8 đến 9 giờ, nó định sẽ chợp mắt một lát ở ngoài cửa dưới
ánh nắng mặt trời.
Từ 9 đến 11 giờ, nó dự định đào một cái hố, hoặc một đường
hào và có thể sẽ tìm thấy cái gì đó ngon bị vùi dưới bụi đất để chén.
Từ 11 đến 12 giờ nó trù định sẽ đứng yên lặng và ngắm lũ ruồi
trên những tấm ván, ngắm đàn ong trong đám cỏ ba lá và ngắm én
liệng trên không.
12 giờ - giờ ăn trưa. Hạt tấm, nước ấm, những mẩu táo, nước
sốt thịt, cà rốt nạo, những mẩu thịt vụn, cháo ngô chớm ôi, và giấy
bọc một gói pho mát đã hết. Bữa trưa sẽ xong lúc 1 giờ.
Từ 1 đến 2 giờ, nó có kế hoạch gãi những chỗ ngứa bằng cách
cọ vào hàng rào.
Từ 3 đến 4 giờ, nó dự định sẽ đứng im lìm, nghĩ ngợi chuyện
đời và đợi Fern.
4 giờ thì lại đến bữa chiều. Váng sữa, những mẩu bánh mỳ kẹp
thịt còn sót lại từ hộp thức ăn trưa của Lurvy, vỏ mận, khoai tây rán,

mấy giọt mứt cam, thêm một chút thức này, thêm một tí thức kia,
một mẩu táo nướng, một mẩu bánh bơ.
Wilbur đi ngủ với những dự định này. Nó tỉnh dậy lúc 6 giờ và
nhìn mưa, dường như nó không thể chịu đựng nổi điều đó nữa.
“Mình đã đặt kế hoạch cho tất cả mọi việc một cách tốt đẹp mà
trời thì lại mưa thế này” – chú tự nhủ.
Chú đứng rầu rĩ trong chuồng một lúc. Rồi chú đi tới cửa và
nhìn ra ngoài, những giọt nước mưa bắn lên mặt chú. Khoảng sân
[2]
lạnh và ướt. Trong máng ăn của chú nước mưa ngập tới một inh .
Chẳng thấy chuột xám Templeton ở đâu cả.
- Anh có ở ngoài đó không, anh chuột ơi! – Wilbur gọi. Không có
tiếng trả lời.
- Bỗng dưng Wilbur cảm thấy cô đơn và thiếu bạn.
- Một ngày giống hệt như một ngày khác – chú rên rỉ. – Mình còn
rất nhỏ, mình chẳng có người bạn thực sự nào ở khu chuồng này
cả, trời thì mưa suốt ngày và Fern sẽ chẳng đến lúc thời tiết tồi tệ
như vậy. Ôi, trời ơi! – và Wilbur lại khóc, lần thứ hai trong vòng hai
ngày.
Vào lúc 6 giờ 30, Wilbur nghe thấy tiếng đập mạnh của một
chiếc xô. Lurvy đứng dưới mưa đang khuấy bữa sáng.
- Đến đây, chú lợn! – Lurvy nói.
Wilbur không động đậy. Lurvy trút cám vào, vét sạch chiếc xô và
bỏ đi. Anh ta để ý thấy có điều gì không ổn với chú lợn.
Wilbur không thiết ăn, chú muốn được yêu thương. Chú muốn
có một người bạn, một ai đó có thể chơi với chú. Chú đề cập việc
này với ngỗng cái đang nằm lặng lẽ ở một góc trong chuồng cừu.
- Chị sẽ đến đây và chơi với em chứ? – Chú hỏi.
- Xin lỗi, xin lỗi, xin lỗi – ngỗng nói. – Tôi đang nằm ấp trứng. Có
tám quả. Phải giữ cho chúng được sưởi – sưởi – sưởi ấm. Tôi phải
nằm ngay tại đây. Tôi không phải là kẻ ba – ba – hoa. Tôi không
chơi đùa khi ấp trứng. Tôi đang mong đợi ngỗng con ra đời.
- Hừ, em không hề nghĩ là chị đang mong đợi chim gõ kiến. –
Wilbur cay đắng nói.
Sau đó Wilbur quay sang nói với một con cừu con.
- Anh làm ơn chơi với tôi chứ? – Chú hỏi.
- Tất nhiên là không – cừu con nói. – Lý do trước tiên là tôi
không thể vào chuồng anh được, vì tôi chưa đủ lớn để nhảy qua

hàng rào. Lý do thứ hai là tôi không thích loài lợn. Đối với tôi, lợn có
nghĩa là “còn ít hơn cả không có gì”.
- Anh định nói ít hơn cả không có gì nghĩa là gì? – Wilbur hỏi. –
Tôi không nghĩ là có một cái gì lại còn ít hơn cả không có gì được.
Không có gì là giới hạn tuyệt đối của sự không có gì. Nó là mức thấp
nhất rồi. Nó là tận cùng của con đường rồi. Làm sao mà một cái gì
đó lại còn có thể ít hơn không có gì? Nếu có một cái gì mà ít hơn
không có gì, khi ấy không có gì không còn là không có gì nữa, nó sẽ
là một cái gì đó – cho dù chỉ là một tí tẹo của cái gì đó. Nhưng nếu
không có gì là chẳng có cái gì, khi đó không có gì sẽ chẳng có cái gì
mà ít hơn bản thân nó được.
- Ồ, im đi! – cừu con nói. – Hãy tự chơi một mình! Tôi không
chơi với lợn!
Wilbur buồn bã nằm xuống và lắng nghe mưa. Một thoáng sau
chú thấy gã chuột bò dọc xuống tấm ván nghiêng mà gã dùng làm
thang.
- Anh sẽ chơi với tôi chứ, Templeton? – Wilbur hỏi.
- Chơi ư? – Templeton vừa vân vê ria mép và nói. – Chơi ư? Ta
hầu như chả biết nghĩa của từ đó nữa cơ.
- À – Wilbur nói, - nghĩa là chơi, là đùa giỡn, là chạy, nhảy và
vui vẻ ấy mà.
- Ta chẳng bao giờ làm những gì mà ta có thể tránh được. – Gã
chuột chanh chua đáp. – Ta thích sử dụng thời gian của mình để ăn,
để gặm nhấm, để thám thính và lẩn trốn còn hơn. Ta là một kẻ ham
ăn chứ không phải là một kẻ ham vui. Ngay bây giờ ta đang trên
đường tới máng ăn của chú mày để chén bữa điểm tâm, vì chú mày
không thiết ăn mà.
Và gã chuột Templeton lén lút bò dọc theo tường rồi biến vào
một đường hầm riêng mà gã tự đào ở giữa cửa và máng ăn trong
khoảng sân của Wilbur. Templeton là một gã chuột lắm mánh khóe,
và gã có cách riêng của mình. Đường hầm là một ví dụ về sự khéo
léo và xảo quyệt của gã. Đường hầm khiến cho gã có thể đi từ khu
chuồng đến nơi ẩn nấp của gã bên dưới máng lợn mà không xuất
đầu lộ diện. Gã có những đường hầm và lối đi ở khắp mọi nơi trong
trang trại nhà Zukerman và có thể đi từ chỗ này đến chỗ khác mà
không bị trông thấy. Thường thì gã ngủ suốt ngày và chỉ đi ra ngoài
sau khi trời tối.

Wilbur dõi nhìn gã biến vào trong đường hầm. Một thoáng sau
chú thấy cái mõm nhọn hoắt của gã chuột nhô ra từ bên dưới máng
gỗ. Templeton thận trọng đu qua thành máng. Điều này dường như
vượt quá sức chịu đựng của Wilbur: vào cái ngày mưa gió ảm đạm
này phải nhìn người khác ăn mất bữa điểm tâm của mình. Chú biết
rằng ở ngoài đó Templeton đang bị ướt sũng nước dưới trời mưa
như trút, nhưng thậm chí cả điều đó cũng chẳng an ủi được chú.
Không bạn bè, buồn nản và đói, chú gieo mình xuống đống phân ủ
và thổn thức.
Cuối buổi chiều hôm ấy, Lurvy đến gặp ông Zukerman:
- Tôi nghĩ là có điều gì không ổn với chú lợn ấy của ông. Nó
không hề động đến thức ăn.
- Hãy cho nó uống hai thìa đầy lưu huỳnh và một chút mật mía,
- ông Zukerman nói.
Wilbur không thể tin nổi điều đang xảy ra với mình khi Lurvy tóm
lấy chú và tống thuốc xuống cổ họng chú. Hôm nay chắc chắn là
ngày tồi tệ nhất trong đời chú. Chú không biết liệu chú còn có thể
chịu nỗi cô đơn khủng khiếp nữa không.
Màn đêm bao trùm lên mọi vật. Chẳng mất chốc chỉ có những
cái bóng và tiếng động của những con cừu nhai lại thức ăn, và thỉnh
thoảng có tiếng lạch cạch của dây buộc bò ở phía trên đầu. Bạn có
thể tưởng tượng ra sự kinh ngạc của Wilbur như thế nào khi một
giọng nói nhỏ mà trước đó chú chưa từng nghe, cất lên trong bóng
tối. Giọng nghe khá lảnh lót nhưng vui vẻ:
- Bạn muốn có một người bạn không, Wilbur? – Giọng đó nói. –
mình sẽ là một người bạn của bạn. Mình quan sát bạn suốt cả ngày
và mình thích bạn!
- Nhưng mình không nhìn thấy bạn. – Wilbur nhảy dựng lên và
nói. – Bạn ở đâu? Và bạn là ai vậy?
- Mình ở ngay trên này thôi, - giọng đó nói. – Hãy ngủ đi. Sáng
ra bạn sẽ thấy mình!

CHƯƠNG 5: CÔ NHỆN CHARLOTTE
Đêm dường như quá dài. Bụng Wilbur rỗng không, trong đầu
ngổn ngang bao ý nghĩ. Và khi mà bụng của bạn rỗng mà đầu bạn
lại đầy ắp những suy nghĩ thì thật khó mà ngủ được.
Đêm đó có đến hàng chục lần Wilbur tỉnh giấc, chú nhìn chằm
chằm vào bóng đêm và cố thử đoán xem đã mấy giờ rồi. Sân trại
không bao giờ có sự yên tĩnh tuyệt đối. Thậm chí vào lúc nửa đêm
cũng vẫn có điều gì đó xao động. Lần đầu tiên thức giấc, chú nghe
thấy tiếng Templeton đang gặm một lỗ nơi thùng g...
 
Gửi ý kiến