Xuân Diệu-Cuộc đời và thơ văn

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Ngọc Khánh
Ngày gửi: 08h:36' 16-05-2008
Dung lượng: 113.0 KB
Số lượt tải: 256
Nguồn:
Người gửi: Trần Ngọc Khánh
Ngày gửi: 08h:36' 16-05-2008
Dung lượng: 113.0 KB
Số lượt tải: 256
Số lượt thích:
0 người
Xuân Diệu là bút danh, Họ tên nhà thơ là Ngô Xuân Diệụ Ông sinh ngày 2 tháng 2 năm 1916 (năm Bính Thìn). Cha ông là Ngô Xuân Thọ, vốn quê ở xã Trảo Nha (vì thế có khi Xuân Diệu ký dưới bài viết là Thảo Nha), nay là xã Đại Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, đỗ tú tài kép Hán học, vào Bình Định dạy học, lấy vợ là Nguyễn Thị Hiệp, sinh ra Xuân Diệu tại van Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Xuân Diệu thửo nhỏ học chữ Nho và chữ quốc ngữ với cha, rồi đi học ở Quy Nhơn, trường Bưởi (Hà Nội), trường Khải Định (Huế). Năm 1940, Xuân Diệu đỗ tham tá nha Thương chính vào làm ở ty Thương chính Mỹ Tho (nay là Tiền Giang). Sau 4 năm làm công chức, Xuân Diệu thôi việc, ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn. Sinh ra và lớn lên ở quê mẹ, Xuân Diệu thường nói đến tác động của thiên nhiên nơi đây (Quy Nhơn) đối với hồn thơ nồng nàn, sôi nổi của ông, đặc biệt là những ngọn gió nồm ("Quê mẹ gió nồm thổi lên tươi mát") và những con sóng biển ("Như hôn mãi ngàn năm không thỏa, Bởi yêu bở lắm lắm, em ơi!"). Người ta còn nghĩ tới một lý do khác: ông là con vợ lẽ, phải xa mẹ từ nhỏ và thường bị hắt hủị Hoàn cảnh ấy khiến ông luôn luôn khao khát tình thương và sự thông cảm của người đờị Xuân Diệu một mặt đã chịu ảnh hưởng tư tưởng và văn hóa Pháp một cách có hệ thống trên ghế nhà trường, mặt khác, do xuất thân từ một gia đình nhà nho (con một ông ú kép, tức hai lần đỗ tú tài Hán học), lại tiếp thụ được một cách tự nhiên ảnh hưởng của nền văn hóa truyền thống. Vì thế có thể tìm thấy ở nhà thơ sự kết hợp hai yếu tố cổ điển và hiện đại, Đông và Tây trong tư tưởng và tình cảm thẩm mỹ. Tất nhiên, Tây học vẫn có ảnh hưởng sâu đậm hơn. Ngày 18 tháng 12 năm 1985, Xuân Diệu từ trần sao một cơn đau tim đột ngột. Xuân Diệu là một tài năng nhiều mặt: làm thơ, viết văn, nghiên cứu phê bình văn học, dịch thuật. Tất nhiên, ông trước hết vẫn là một nhà thơ - một trong những nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam hiện đạị
Xuân Diệu (bình luận văn chương)
Tác giả : Trần Đăng Khoa. I Những năm cuối đời, Xuân Diệu hay nghĩ đến thời gian. Ông bất chợt hỏi tôi: - Này, năm nay, Khoa bao nhiêu tuổi rồi nhỉ? Câu hỏi như một thoáng thảng thốt, chứ Xuân Diệu còn lạ gì ngày sinh, tháng đẻ của tôi nữa. Và khi tôi nói tuổi mình thì ông nhìn tôi, thẫn thờ: - Cậu còn trẻ quá. Còn mênh mông thời gian ở trên đầu. Muốn làm gì mà chẳng được. Khoa còn đến nửa thế kỉ nữa để sáng tạo, để vượt lên... Quả là tôi còn nhiều thời gian. Đó là một may mắn, nhưng biết đâu đấy chẳng là bi kịch? Người bộ hành bé nhỏ đứng trước một con đường ngút ngát, phải lặn lội nửa thế kỉ nữa. Vượt như thế nào đây? Tôi ngẩng lên nhìn người đồng hành gần gụi nhưng cũng thật xa vợi. Bởi ông đã xuất hành trước tôi đến nửa thế kỉ. - Quỹ thời gian của mình còn ít quá. Cứ theo cái thước Đặng Thai Mai thì mình còn vài nấc nữa. Mà theo cái thước Xuân Thủy, Nguyên Hồng thì mình đã quá mấy nấc rồi. Nguyên Hồng mất đột ngột ở tuổi 65. Xuân Diệu đã ở cái tuổi 69. Ông như người chạy việt dã, đua với thời gian. Xuân Diệu tiết kiệm từng tích tắc. Nếu đi đâu về, thường thì ông treo áo lên mắc luôn chứ không vắt ở ghế, để khỏi phải mất một khoảng thời gian treo nó lên mắc áo. Có lần, Xuân Diệu mời tôi đến nhà để chuẩn bị cho cuộc hội thảo thơ ở trường Nguyễn Du. Ông hẹn chính xác tới từng phút. Tôi đến trước hẹn chừng nửa tiếng, ông kéo cái ghế mây mời tôi ngồi, rồi đưa cho tôi mấy tập bản thảo thơ tình chép tay của ông, để tôi đọc. Còn ông lại tiếp tục làm việc nửa tiếng nữa trên cái bàn cũ kĩ có lót một tấm kính cũng rất cũ kĩ. Dưới tấm kính là những bức ảnh ông chụp ở nước ngoài. Ông quên béng nhà đang có khách, quên cả cái nóng của Hà Nội mất điện và tiếng ồn ào náo động của đường phố tan tầm. Xuân Diệu như bò xoài trên trang giấy. Có lẽ bố tôi cày ải, chạy bão cũng không cực nhọc, khốn khổ như Xuân Diệu "cày" trên cánh đồng giấy của mình. - Có lẽ mình đến đứt mạch máu não mất. Buốt óc quá! - Chú mệt thế thì cứ nghỉ cho khỏe. - Tôi thành thực thương ông. - Nhưng các báo yêu cầu mình. Xã hội còn "com măng" mình. Thế nghĩa là mình vẫn còn có ích. Sợ nhất là thành "gái già". Chả ai còn ỏ ê đến nữa. Vả lại cứ phải viết, viết nhiều. Nhà văn tồn tại ở tác phẩm. Không có tác phẩm thì nhà văn ấy coi như đã chết. Thế nên cứ phải viết. Viết hàng ngày. Nhiều khi phải có người thúc mới ra được tác phẩm. Mình nhận bài và yêu cầu người đặt cứ phải thúc mình. Ấy thế rồi có sách đấy. Còn cứ chờ cảm xúc đến mới viết, thì muôn năm cảm xúc cũng chẳng đến cho. Nhà văn là ngồi vào bàn làm việc. Cứ làm việc, rồi sẽ tạo được cảm xúc. Rồi như thể tiện tay, Xuân Diệu với tờ báo nước ngoài, giới thiệu cho tôi hai bài thơ rất hay của một nữ thi sĩ mà ông vừa đọc được. Cả hai bài thơ viết bằng một giọng điệu. Đó là sự chiêm nghiệm của con người trược thời gian. Ở một bài, nữ thi sĩ nói rằng bà đang làm việc hết mình, có chút sinh lực gì, bà trao tặng hết độc giả để đến lúc thần chết đến gõ cửa, bà sẽ đi theo hắn với hai bàn tay không. Còn bài khác là lời tâm sự của bà: Bạn bè ơi, ngày mai nếu phải giã từ cõi đời này, tôi vẫn yêu các bạn thắm thiết, tôi vẫn quay quanh các bạn như một vệ tinh, tôi vẫn nhìn thấy các bạn. Nhưng các bạn thì chẳng bao giờ còn thấy tôi đâu. Xuân Diệu bùi ngùi : - Đấy, hay không? sâu sắc không? Nghĩ được đến thế là "xuất sáo" lắm (Xuất sáo là một từ riêng Xuân Diệu dùng để chỉ mức độ đánh giá cao hơn "xuất sắc" - TG). Đôi lúc mình cũng có ý nghĩ như thế. Hỡi các ông trẻ, hãy đến với tôi. Tôi còn nhiều kho báu lắm. Tôi sẽ trao hết cho các ông trẻ, để đến lúc cái chết gõ cửa, kéo đi, tôi chỉ là một cái vỏ câm đã vắt hết, là thằng kiết xác chỉ có hai bàn tay không ... - Ôi, chú cứ lo xa. Chứ chú khỏe lắm.Cháu trông chú đang "vượng" đấy. Tôi cười xuế xóa. Không ngở câu nói đùa ấy lại làm Xuân Diệu rất vui! Ông đứng dậy pha trà, rồi mở tủ lấy một cái kẹo đưa cho tôi. Kẹo Sôcôla Pháp, Huy Cận mang từ Paris về... - Cái tuổi của mình cũng không biết thế nào đâu. Nhưng dù thế nào mình cũng phải viết chục cuốn sách nữa, mình mới đi Văn Điển.
II Lần đầu tiên tôi gặp Xuân Diệu vào quãng cách đây hơn ba mươi năm.Dạo ấy, Xuân Diệu còn trẻ, mà tôi cũng chỉ là chú bé lên chín, lên mười, vừa lẫm chẫm bước chân vào làng thơ. Nói thế cho sang, cho oai, chứ thực tình lúc ấy, tôi chẳng có ý thức gì hết. Tôi đến với thơ hồn nhiên như em bé đến với trò chơi. Nhưng khi gặp Xuân Diệu thì tôi hiểu được rằng, thơ ca không bao giờ là trò chơi cả. Nó là một công việc sáng tạo cực nhọc.Có thể nói may mắn cho đời tôi là tôi đã sớm gặp được Xuân Diệu.Không phải tôi đến với ông mà chính ông tìm đến với tôi. Trong quan hệ, ông đối xử với tôi rất bình đẳng. Ông gọi tôi bằng cháu, đôi khi hứng lên bằng em. Nhưng trong sáng tác, ông coi tôi như một người bạn đồng nghệp. Còn tôi thì luôn biết mình là một người học trò nhỏ bé của ông. Xuân Diệu về nhà tôi vào năm 1968. Ông cùng Huy Cận dự đai hội cháu ngoan Bác Hồ ở Nam Sách. Và trong đại hội ấy, tình cờ ông gặp tôi.Mãi sau này, tôi mới biết đó là cách sắp xếp , bố trí của các anh chị huyện Đoàn. Họ sợ tôi tự kiêu trước sự kiện hai nhà thơ lớn tìm đến nhà. Ở cái thời ấy, người nào mang tiếng là tự kiêu, thì coi như kẻ vô dụng, là đồ bỏ đi rồi. Xuân Diệu cùng tôi chơi trò đóng kịch dưới sự dàn dựng của các nhà đạo diễn không chuyên ở huyện Đoàn. Nhưng về đến Nam Sách, thì ông quên mất cái đại hội ầm ĩ tiếng trống ếch ấy. Nửa đêm ông lần về nhà tôi. Theo lời mẹ tôi kể, thì bác "nhà báo" ấy mượn cây đèn bão, xách ra vườn, soi từng giàn trầu, gốc cau, luống mía và mấy cây bưởi. Xuân Diệu tìm gặp những "nhân vật" thân thuộc của tôi. "Bác ấy kiểm tra xem mày nói có đúng không. Khổ, có thế nào thì cứ nói như thế, đừng đặt điều thêm ra, kẻo lại mang tiếng là mình ăn ở không thật thà. Thấy bác ấy kiểm tra, tao lo quá. Thế có làm sao không, hả con? Mà thôi, đừng có thơ phú gì nữa cho rắc rôi ra. Cứ đi cày như bố mày là yên chuyện." Mẹ tôi vẫn băn khoăn, lẩn mẩn không yên, cho mãi đến chiều hôm sau, Xuân Diệu cùng Huy Cận vui vẻ kéo tôi trở lại nhà. Lúc đó đã xế chiều. Dân làng đổ đến nhà tôi để xem "hai ông Tây". Trong lúc Huy Cận nói chuyện với bà con xã viên, thì Xuân Diệu kéo tôi ra ngoài. Ông ngồi bệt xuống góc san trước cửa chuồng gà và bắt đầu chất vẫn tôi. Mồ hôi ông vã đầm đìa, ướt đẫm cả cái áo sơ - mi kẻ sọc. Xuân Diệu mở cuốn sổ thơ tôi mà ông chép tay, rồi bắt đầu đánh dấu, ghi chép. Tôi không biết ông có nghe tôi không. Thỉnh thoảng, gương mặt ông lại ngẩn ra, nom xa vợi như ông đang nghĩ đến một chuyện nào khác. Rồi ông thay kính liên tục, mỗi khi mồ hôi làm mờ mắt kính. Ông có đến hai cái kính để ở hai cái áo khác nhau. Cứ sau năm bảy phút, ông lại thay kính. Xuân Diệu dường như không có thói quen lau kính. Trong chùm thơ tôi, ông đặc biệt chú ý bài "Mưa". - Sao cháu lại chọn thể thơ này, mà không phải là lục bát? - Vì cháu muốn diễn tả cơn mưa. Cơn mưa rào dồn dập, hối hả, lúc mau, lúc thưa,nên phải dùng loại thơ tự do có những câu dài ngắn không đều. Còn nếu diễn tả cánh cò bay chẳng hạn, thì cháu mới làm lục bát. Xuân Diệu mỉm cười, nhìn xéo vào mặt tôi: - Tại sao thế? Tôi không trả lời được câu hỏi ấy của ông. Tôi chỉ biết con cò bay thì cánh vươn nhịp nhàng hợp với thơ lục bát. Xuân Diệu cười vang lên. - Thế còn :" Ông trời - mặc áo giáp đen", sao cháu lại viết thế? - Vì cháu nghĩ đến Thánh Gióng. Ông Thánh Gióng ra trận. Thế bác có biết ông Thánh Gióng không? Đến đây thì tôi biết mình thật ngớ ngẩn. Làm sao Xuân Diệu lại không biết Thánh Gióng ? Cũng may lúc ấy, ông không để ý đến câu hỏi của tôi. Ông tiếp tục "quay" tôi. Tại sao lại "đội sấm - đội chớp"? Ông sấm ông ấy đánh cái xoẹt. Thế cậu muốn bố cậu chết hay sao mà bắt ông ấy "đội sấm"? Tôi không dám cãi Xuân Diệu, chỉ cười trừ. Xuân Diệu cũng cười. Nhưng mấy ngày sau, vào lúc mười giờ đêm ngày 1 -6 -1968, cái làng quê hẻo lánh, yên tĩnh của tôi đã vang lên giọng bình thơ của "ông Tây" qua các loa công cộng, trong buổi phát thanh "tiếng thơ". Giọng Xuân Diệu sang sảng: "Bố em đi cày về Đội sấm Đội chớp Đội cả trời mưa..." Thế là từ đấy, Xuân Diệu trở thành người thầy dạy nghề nghiêm khắc, gần gũi, thân
Xuân Diệu (bình luận văn chương)
Tác giả : Trần Đăng Khoa. I Những năm cuối đời, Xuân Diệu hay nghĩ đến thời gian. Ông bất chợt hỏi tôi: - Này, năm nay, Khoa bao nhiêu tuổi rồi nhỉ? Câu hỏi như một thoáng thảng thốt, chứ Xuân Diệu còn lạ gì ngày sinh, tháng đẻ của tôi nữa. Và khi tôi nói tuổi mình thì ông nhìn tôi, thẫn thờ: - Cậu còn trẻ quá. Còn mênh mông thời gian ở trên đầu. Muốn làm gì mà chẳng được. Khoa còn đến nửa thế kỉ nữa để sáng tạo, để vượt lên... Quả là tôi còn nhiều thời gian. Đó là một may mắn, nhưng biết đâu đấy chẳng là bi kịch? Người bộ hành bé nhỏ đứng trước một con đường ngút ngát, phải lặn lội nửa thế kỉ nữa. Vượt như thế nào đây? Tôi ngẩng lên nhìn người đồng hành gần gụi nhưng cũng thật xa vợi. Bởi ông đã xuất hành trước tôi đến nửa thế kỉ. - Quỹ thời gian của mình còn ít quá. Cứ theo cái thước Đặng Thai Mai thì mình còn vài nấc nữa. Mà theo cái thước Xuân Thủy, Nguyên Hồng thì mình đã quá mấy nấc rồi. Nguyên Hồng mất đột ngột ở tuổi 65. Xuân Diệu đã ở cái tuổi 69. Ông như người chạy việt dã, đua với thời gian. Xuân Diệu tiết kiệm từng tích tắc. Nếu đi đâu về, thường thì ông treo áo lên mắc luôn chứ không vắt ở ghế, để khỏi phải mất một khoảng thời gian treo nó lên mắc áo. Có lần, Xuân Diệu mời tôi đến nhà để chuẩn bị cho cuộc hội thảo thơ ở trường Nguyễn Du. Ông hẹn chính xác tới từng phút. Tôi đến trước hẹn chừng nửa tiếng, ông kéo cái ghế mây mời tôi ngồi, rồi đưa cho tôi mấy tập bản thảo thơ tình chép tay của ông, để tôi đọc. Còn ông lại tiếp tục làm việc nửa tiếng nữa trên cái bàn cũ kĩ có lót một tấm kính cũng rất cũ kĩ. Dưới tấm kính là những bức ảnh ông chụp ở nước ngoài. Ông quên béng nhà đang có khách, quên cả cái nóng của Hà Nội mất điện và tiếng ồn ào náo động của đường phố tan tầm. Xuân Diệu như bò xoài trên trang giấy. Có lẽ bố tôi cày ải, chạy bão cũng không cực nhọc, khốn khổ như Xuân Diệu "cày" trên cánh đồng giấy của mình. - Có lẽ mình đến đứt mạch máu não mất. Buốt óc quá! - Chú mệt thế thì cứ nghỉ cho khỏe. - Tôi thành thực thương ông. - Nhưng các báo yêu cầu mình. Xã hội còn "com măng" mình. Thế nghĩa là mình vẫn còn có ích. Sợ nhất là thành "gái già". Chả ai còn ỏ ê đến nữa. Vả lại cứ phải viết, viết nhiều. Nhà văn tồn tại ở tác phẩm. Không có tác phẩm thì nhà văn ấy coi như đã chết. Thế nên cứ phải viết. Viết hàng ngày. Nhiều khi phải có người thúc mới ra được tác phẩm. Mình nhận bài và yêu cầu người đặt cứ phải thúc mình. Ấy thế rồi có sách đấy. Còn cứ chờ cảm xúc đến mới viết, thì muôn năm cảm xúc cũng chẳng đến cho. Nhà văn là ngồi vào bàn làm việc. Cứ làm việc, rồi sẽ tạo được cảm xúc. Rồi như thể tiện tay, Xuân Diệu với tờ báo nước ngoài, giới thiệu cho tôi hai bài thơ rất hay của một nữ thi sĩ mà ông vừa đọc được. Cả hai bài thơ viết bằng một giọng điệu. Đó là sự chiêm nghiệm của con người trược thời gian. Ở một bài, nữ thi sĩ nói rằng bà đang làm việc hết mình, có chút sinh lực gì, bà trao tặng hết độc giả để đến lúc thần chết đến gõ cửa, bà sẽ đi theo hắn với hai bàn tay không. Còn bài khác là lời tâm sự của bà: Bạn bè ơi, ngày mai nếu phải giã từ cõi đời này, tôi vẫn yêu các bạn thắm thiết, tôi vẫn quay quanh các bạn như một vệ tinh, tôi vẫn nhìn thấy các bạn. Nhưng các bạn thì chẳng bao giờ còn thấy tôi đâu. Xuân Diệu bùi ngùi : - Đấy, hay không? sâu sắc không? Nghĩ được đến thế là "xuất sáo" lắm (Xuất sáo là một từ riêng Xuân Diệu dùng để chỉ mức độ đánh giá cao hơn "xuất sắc" - TG). Đôi lúc mình cũng có ý nghĩ như thế. Hỡi các ông trẻ, hãy đến với tôi. Tôi còn nhiều kho báu lắm. Tôi sẽ trao hết cho các ông trẻ, để đến lúc cái chết gõ cửa, kéo đi, tôi chỉ là một cái vỏ câm đã vắt hết, là thằng kiết xác chỉ có hai bàn tay không ... - Ôi, chú cứ lo xa. Chứ chú khỏe lắm.Cháu trông chú đang "vượng" đấy. Tôi cười xuế xóa. Không ngở câu nói đùa ấy lại làm Xuân Diệu rất vui! Ông đứng dậy pha trà, rồi mở tủ lấy một cái kẹo đưa cho tôi. Kẹo Sôcôla Pháp, Huy Cận mang từ Paris về... - Cái tuổi của mình cũng không biết thế nào đâu. Nhưng dù thế nào mình cũng phải viết chục cuốn sách nữa, mình mới đi Văn Điển.
II Lần đầu tiên tôi gặp Xuân Diệu vào quãng cách đây hơn ba mươi năm.Dạo ấy, Xuân Diệu còn trẻ, mà tôi cũng chỉ là chú bé lên chín, lên mười, vừa lẫm chẫm bước chân vào làng thơ. Nói thế cho sang, cho oai, chứ thực tình lúc ấy, tôi chẳng có ý thức gì hết. Tôi đến với thơ hồn nhiên như em bé đến với trò chơi. Nhưng khi gặp Xuân Diệu thì tôi hiểu được rằng, thơ ca không bao giờ là trò chơi cả. Nó là một công việc sáng tạo cực nhọc.Có thể nói may mắn cho đời tôi là tôi đã sớm gặp được Xuân Diệu.Không phải tôi đến với ông mà chính ông tìm đến với tôi. Trong quan hệ, ông đối xử với tôi rất bình đẳng. Ông gọi tôi bằng cháu, đôi khi hứng lên bằng em. Nhưng trong sáng tác, ông coi tôi như một người bạn đồng nghệp. Còn tôi thì luôn biết mình là một người học trò nhỏ bé của ông. Xuân Diệu về nhà tôi vào năm 1968. Ông cùng Huy Cận dự đai hội cháu ngoan Bác Hồ ở Nam Sách. Và trong đại hội ấy, tình cờ ông gặp tôi.Mãi sau này, tôi mới biết đó là cách sắp xếp , bố trí của các anh chị huyện Đoàn. Họ sợ tôi tự kiêu trước sự kiện hai nhà thơ lớn tìm đến nhà. Ở cái thời ấy, người nào mang tiếng là tự kiêu, thì coi như kẻ vô dụng, là đồ bỏ đi rồi. Xuân Diệu cùng tôi chơi trò đóng kịch dưới sự dàn dựng của các nhà đạo diễn không chuyên ở huyện Đoàn. Nhưng về đến Nam Sách, thì ông quên mất cái đại hội ầm ĩ tiếng trống ếch ấy. Nửa đêm ông lần về nhà tôi. Theo lời mẹ tôi kể, thì bác "nhà báo" ấy mượn cây đèn bão, xách ra vườn, soi từng giàn trầu, gốc cau, luống mía và mấy cây bưởi. Xuân Diệu tìm gặp những "nhân vật" thân thuộc của tôi. "Bác ấy kiểm tra xem mày nói có đúng không. Khổ, có thế nào thì cứ nói như thế, đừng đặt điều thêm ra, kẻo lại mang tiếng là mình ăn ở không thật thà. Thấy bác ấy kiểm tra, tao lo quá. Thế có làm sao không, hả con? Mà thôi, đừng có thơ phú gì nữa cho rắc rôi ra. Cứ đi cày như bố mày là yên chuyện." Mẹ tôi vẫn băn khoăn, lẩn mẩn không yên, cho mãi đến chiều hôm sau, Xuân Diệu cùng Huy Cận vui vẻ kéo tôi trở lại nhà. Lúc đó đã xế chiều. Dân làng đổ đến nhà tôi để xem "hai ông Tây". Trong lúc Huy Cận nói chuyện với bà con xã viên, thì Xuân Diệu kéo tôi ra ngoài. Ông ngồi bệt xuống góc san trước cửa chuồng gà và bắt đầu chất vẫn tôi. Mồ hôi ông vã đầm đìa, ướt đẫm cả cái áo sơ - mi kẻ sọc. Xuân Diệu mở cuốn sổ thơ tôi mà ông chép tay, rồi bắt đầu đánh dấu, ghi chép. Tôi không biết ông có nghe tôi không. Thỉnh thoảng, gương mặt ông lại ngẩn ra, nom xa vợi như ông đang nghĩ đến một chuyện nào khác. Rồi ông thay kính liên tục, mỗi khi mồ hôi làm mờ mắt kính. Ông có đến hai cái kính để ở hai cái áo khác nhau. Cứ sau năm bảy phút, ông lại thay kính. Xuân Diệu dường như không có thói quen lau kính. Trong chùm thơ tôi, ông đặc biệt chú ý bài "Mưa". - Sao cháu lại chọn thể thơ này, mà không phải là lục bát? - Vì cháu muốn diễn tả cơn mưa. Cơn mưa rào dồn dập, hối hả, lúc mau, lúc thưa,nên phải dùng loại thơ tự do có những câu dài ngắn không đều. Còn nếu diễn tả cánh cò bay chẳng hạn, thì cháu mới làm lục bát. Xuân Diệu mỉm cười, nhìn xéo vào mặt tôi: - Tại sao thế? Tôi không trả lời được câu hỏi ấy của ông. Tôi chỉ biết con cò bay thì cánh vươn nhịp nhàng hợp với thơ lục bát. Xuân Diệu cười vang lên. - Thế còn :" Ông trời - mặc áo giáp đen", sao cháu lại viết thế? - Vì cháu nghĩ đến Thánh Gióng. Ông Thánh Gióng ra trận. Thế bác có biết ông Thánh Gióng không? Đến đây thì tôi biết mình thật ngớ ngẩn. Làm sao Xuân Diệu lại không biết Thánh Gióng ? Cũng may lúc ấy, ông không để ý đến câu hỏi của tôi. Ông tiếp tục "quay" tôi. Tại sao lại "đội sấm - đội chớp"? Ông sấm ông ấy đánh cái xoẹt. Thế cậu muốn bố cậu chết hay sao mà bắt ông ấy "đội sấm"? Tôi không dám cãi Xuân Diệu, chỉ cười trừ. Xuân Diệu cũng cười. Nhưng mấy ngày sau, vào lúc mười giờ đêm ngày 1 -6 -1968, cái làng quê hẻo lánh, yên tĩnh của tôi đã vang lên giọng bình thơ của "ông Tây" qua các loa công cộng, trong buổi phát thanh "tiếng thơ". Giọng Xuân Diệu sang sảng: "Bố em đi cày về Đội sấm Đội chớp Đội cả trời mưa..." Thế là từ đấy, Xuân Diệu trở thành người thầy dạy nghề nghiêm khắc, gần gũi, thân









Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn, tha thiết” (Thi nhân Việt Nam). Xuân Diệu rạo rực yêu đời lắm nên thơ ông thấm đẫm niềm khao khát cựa quậy, thoát ra khỏi “ao đời bằng phẳng”, tiểu sử tóm tắt ngắn gọn về xuân diệu
để xáo động mặt nước, để khẳng định cái tôi, để dâng cho đời, cho người “một nguồn sống chưa từng thấy”.