Tài liệu Chuyên sâu 9 - Học kì 2

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Ly Lan
Ngày gửi: 19h:17' 26-03-2023
Dung lượng: 527.4 KB
Số lượt tải: 249
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Ly Lan
Ngày gửi: 19h:17' 26-03-2023
Dung lượng: 527.4 KB
Số lượt tải: 249
Số lượt thích:
0 người
TÀI LIỆU ÔN THI CHUYỂN CẤP 9 LÊN 10
BỘ CHUYÊN SÂU NGỮ VĂN 9 – HỌC KÌ 2
(BẢN MỀM – BẢN PDF)
- Xin giới thiệu với các quý thầy cô BỘ CHUYÊN SÂU NGỮ VĂN 9 – HỌC KÌ 2 dành
cho HS đại trà.
- Bộ tài liệu gồm các văn bản trong SGK cùng với các vấn đề trọng tâm, các dạng
đề cụ thể xoay quanh văn bản. Bộ tài liệu HK2 gồm các văn bản:
Mùa xuân nho nhỏ
Viếng lăng Bác
Sang thu
Nói với con
Những ngôi sao xa xôi
- Bộ tài liệu có dàn bài hướng dẫn chi tiết, cụ thể.
- Có MỞ BÀI + KẾT BÀI MẪU.
- Phân tích chuyên sâu từng dạng đề.
- Mỗi tác phẩm đều đầy đủ bố cục 3 phần.
- Bộ tài liệu chuyên sâu phù hợp cho ôn thi, ôn tập giữa kì + cuối kì + thi chuyển
cấp… Các thầy/cô giáo có thể dùng để dạy, học sinh cũng có thể dùng để học, ôn
tập.
- Thầy cô được tặng kèm tài liệu NLXH + Đọc hiểu.
Ai có nhu cầu ib trực tiếp cho mình qua: (Tài liệu có phí nhẹ)
1. Facebook: Ngọc Quân
2. Zalo: 0972.223.767
Xin mời các thầy cô tham khảo bài mẫu dưới đây !!!
THƠ HIỆN ĐẠI
VĂN BẢN: VIẾNG LĂNG BÁC
(Viễn Phương)
PHẦN I. CÁC VẤN ĐỀ TRỌNG TÂM
Vấn đề 1: Phân tích/Cảm nhận khổ 1 + 2.
Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.
Vấn đề 2: Phân tích/Cảm nhận khổ 2 + 3.
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói trong tim!
Vấn đề 3: Phân tích/Cảm nhận khổ 3 + 4.
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim!
Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.
Vấn đề 3: Phân tích/Cảm nhận khổ 3 + 4.
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim!
Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.
Hướng dẫn chi tiết
A. MỞ BÀI
Cách viết Mở bài tương tự ở Vấn đề 1.
- Vấn đề nghị luận:
+ Đọc bài thơ hai khổ thơ cuối là cảm xúc của nhà thơ khi vào lăng viếng Bác. (Cảm nhận)
+ Và đọc bài thơ có lẽ người đọc ấn tượng nhất với hai khổ thơ cuối – những vần thơ
được coi là hay nhất của tác phẩm. (Phân tích)
B. THÂN BÀI
Luận điểm 1: Khái quát chung
- Bài thơ được viết vào năm 1976 khi đất nước mới được giải phóng, lăng Bác vừa được khánh
thành, Viễn Phương trong đoàn người miền Nam đầu tiên ra viếng lăng Bác.
- Bài thơ đã thể hiện lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ và mọi người đối
với Bác Hồ khi vào lăng viếng Bác.
→ Nếu viết ở Mở bài như Ví dụ 2/Vấn đề 1 thì không cần viết lại
- Ý chính:
+ Ở hai khổ thơ đầu, bằng các biện pháp tu từ ẩn dụ, hoán dụ, nói giảm nói tránh, điệp ngữ,
sử dụng thành ngữ, các từ ngữ giàu sức gợi và hình ảnh chọn lọc,…
+ Lời thơ đã diễn tả một cách sâu sắc nỗi niềm xúc động, nghẹn ngào của nhà thơ khi đứng
trước lăng và hòa vào dòng người vào lăng viếng Bác. Và tình cảm ấy được bộc lộ tiếp ở hai
khổ thơ cuối khi nhà thơ vào lăng viếng Bác.
Luận điểm 2: Trước hết, hiện lên trong đoạn thơ là niềm đau xót, tiếc thương của nhà thơ
khi thấy di hài của Bác trong lăng.
(Yếu tố biểu cảm: Trước hết, đọc đoạn thơ ta không thể nào quên được)
“Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim !”
- Giây phút vào trong lăng, nhà thơ xúc động nghẹn ngào khi bắt gặp bóng dáng thân yêu của
Bác. Bác như đang ngủ say trong giấc ngủ bình yên thanh thản giữa một không gian yên tịnh,
dịu nhẹ.
- Cả cuộc đời Bác chưa bao giờ có giấc ngủ trọn vẹn “trọn đời Bác có ngủ yên đâu”. Cả cuộc
đời của Bác đằng đặc biết bao đêm không ngủ, chỉ đến lúc này Người mới được chìm sâu
trong giấc ngủ, sau một cuộc đời cống hiến không biết mệt mỏi, cho dân tộc và nhân loại.
- Ngắm nhìn Bác ngủ yên trong không gian thanh tịnh dịu nhẹ ấy, nhà thơ liên tưởng đến
vầng trăng và hình ảnh ẩn dụ giàu ý nghĩa.
+ Trước hết hình ảnh vầng trăng gợi không gian thanh tịnh, ánh sáng dịu nhẹ của đèn điện
trong lăng.
+ Hơn thế nữa hình ảnh vầng trăng còn là hình ảnh ẩn dụ gợi tâm hồn, cốt cách thanh cao
của Bác. Đó là tâm hồn trong sáng nhân hậu bao dung như lòng mẹ, là tấm lòng “nâng niu tất
cả chỉ quên mình”, “yêu thương ngọn cỏ mỗi nhành hoa”.
+ Không những thế, hình ảnh vầng trăng đã gợi lên những hình ảnh vầng trăng quen thuộc
trong thơ Bác. Đột nhiên những câu thơ được Bác viết trong những ngày bị chính quyền
Tưởng Giới Thạch bắt giam như lại vang lên trong lòng người đọc: “Người ngắm trăng soi
ngoài cửa sổ/Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.
+ Vầng trăng là người bạn tri kỉ, đồng hành cùng Người trên mọi nẻo đường cách mạng. Vầng
trăng ấy giờ đây đang canh giấc ngủ ngàn thu của Người.
- Chứng kiến hình ảnh Người bình yên nghỉ trong lăng, trong lòng nhà thơ trào dâng niềm xót
thương vô hạn.
“Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói trong tim!”
+ Hai câu thơ sử dụng hình ảnh ẩn dụ “trời xanh”, kết hợp từ láy “mãi mãi” khẳng định sự bất
tử vĩnh hằng của tên tuổi và sự nghiệp Hồ Chí Minh. Bác còn mãi với non sông đất nước như
trời xanh còn mãi. Bác hóa vào thiên nhiên núi sông đã vào “cuộc trường sinh nhẹ cánh bay”.
+ (Tham khảo) Tố Hữu cũng từng có những vần thơ giống như vậy:
“Bác sống như trời đất của ta
Yêu từng ngọn lúa mỗi nhành hoa”
+ Bên cạnh biện pháp ẩn dụ, hai câu thơ còn có cách sử dụng từ tinh tế. Đó chính là cách sử
dụng cặp từ: “vẫn biết … mà sao” diễn tả cảm xúc thay đổi đột ngột, thể hiện sự ý nghĩa đối
lập: đó là sự đối lập giữa lí trí và cảm xúc. Lý trí biết rằng Người vĩnh hằng, bất tử cùng thời
gian như trời xanh còn mãi nhưng cảm xúc vẫn đau “nhói trong tim” khi chứng kiến Bác yên
nghỉ trong lăng. Bác đã mãi mãi đi xa.
+ Ba chữ “nhói trong tim” thể hiện nỗi xúc động niềm đau đớn, xót xa, tiếc thương vô hạn
của nhà thơ trước sự ra đi của Người, trước nỗi đau quá lớn của dân tộc. Đó không chỉ là tâm
trạng của nhà thơ Viễn Phương mà là tâm trạng của cả dân tộc Việt Nam. Nỗi đau ấy bao năm
rồi mà chưa thể nguôi ngoai.
+ (Tham khảo) Có lẽ cũng vì thế mà có một nhà thơ đã thốt lên rằng:
“Trái bưởi kia vàng ngọt với ai
Thơm cho ai nữa hỡi hoa nhài”
+ (Tham khảo) Mỗi khi chợt nghĩ về cái ngày trái tim ấy ngừng đập, ngày cả dân tộc phải gánh
chịu sự mất mát quá lớn lao, cõi lòng ta vẫn thấy đớn đau và đất trời Việt Nam vẫn ngậm
ngùi rơi lệ trong niềm tiếc thương:
"Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa…"
("Bác ơi" - Tố Hữu)
Chốt ý luận điểm: Như vậy bằng hình ảnh ẩn dụ giàu sức gợi, bằng biện pháp đối lập giữa
lý trí và cảm xúc khổ thơ đã ngợi ca tâm hồn trong sáng, thanh cao của Bác đồng thời bày
tỏ tình cảm tiếc thương vô hạn trước sự ra đi của Người.
Luận điểm 3: Đặc biệt, bài thơ khép lại bằng ước nguyện cao đẹp của nhà thơ khi nghĩ về
ngày mai chia xa.
(Yếu tố biểu cảm: gợi trong ta bao xúc động)
“Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”.
- Trước hết hiện lên trong khổ thơ là niềm xúc động trào dâng mãnh liệt của nhà thơ khi nghĩ
về giây phút rời xa lăng Bác. “Mai về miền Nam”, “mai” là chỉ thời gian ở thì tương lai, chưa
xảy ra. Chưa về mà đã nghĩ đến chia xa để thương để nhớ đến trào nước mắt đủ thấy tình
cảm, cảm xúc đối với Bác chân thành mãnh liệt đến nhường nào.
+ Hơn thế nữa, nhà thơ sử dụng cách biểu cảm trực tiếp “thương trào nước mắt” đã diễn tả
trọn vẹn tình cảm của người miền Nam đối với Bác. Ngày mai phải rời xa Bác rồi, xúc động
nghẹn ngào, bao yêu thương như vỡ òa, không kìm nén được. Một chữ “thương” mà chan
chứa bao niềm yêu thương, kính trọng cuộc đời cao cả vĩ đại của Bác – một người đã dành
trọn cuộc đời cho dân, cho nước, cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Một chữ “thương” mà
trào dâng niềm xót xa, đau đớn, tiếc thương vì mất đi Người Cha kính yêu. Đó không chỉ là
cảm xúc của Viễn Phương mà ông đang nói hộ tấm lòng của muôn vạn trái tim con người Việt
Nam khi phải rời xa chốn thiêng liêng.
- Từ niềm cảm xúc ấy, nhà thơ bày tỏ ước nguyện thật bình dị mà cao đẹp đáng trân trọng.
“Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”.
+ Điệp ngữ “muốn làm” và điệp cấu trúc câu đã tạo nhịp thơ nhanh, dồn dập diễn tả những
mong ước mãnh liệt, cháy bỏng được hóa thân vào cảnh vật quanh lăng, được mãi mãi canh
giấc ngủ bình yên cho Người. Nhà thơ muốn làm con chim đem âm thanh tươi vui rộn rã
quanh lăng Bác, muốn làm đóa hoa tỏa hương khoe sắc nơi Bác yên nghỉ.
+ (Tham khảo) Lời thơ khiến ta nhớ đến ước nguyện của Thanh Hải trong bài thơ “Mùa xuân
nho nhỏ”
“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến”
Nếu như Thanh Hải muốn hóa thân vào cảnh vật để làm đẹp cho cuộc đời, để cống hiến mùa
xuân của cuộc đời mình vào mùa xuân chung của dân tộc thì với Viễn Phương, ước nguyện
hóa thân vào cảnh vật là để được bên Bác suốt đời.
+ Và thật cao đẹp biết bao nhà thơ muốn hóa thân vào “cây tre trung hiếu” trong muôn ngàn
cây tre quanh lăng Bác để được tỏa bóng mát rượi nơi Bác yên nghỉ. Hình ảnh con chim, đóa
hoa là những hình ảnh ẩn dụ đẹp diễn tả ước nguyện muốn dâng lên Bác những gì tốt đẹp,
cao quý nhất của cuộc đời mình.
- Khép lại bài thơ là hình ảnh cây tre trung hiếu tạo nên kết cấu đầu cuối tương ứng cho bài
thơ đã khẳng định thêm vẻ đẹp con người Việt Nam: tấm lòng chung thủy, sắt son, nghĩa
tình, hướng về Bác, đi theo con đường Bác đã chọn.
Chốt ý luận điểm: Có thể nói, ước nguyện của nhà thơ thật khiêm nhường, nhỏ bé, bình dị
mà cao đẹp. Mọi ước nguyện đều thể hiện khát khao được ở gần Bác mãi mãi, muốn làm
vui, làm khuây, làm vơi nỗi vắng vẻ trong lòng của một con người đã hi sinh vì nước, vì dân.
Viễn Phương đã nói lên niềm mong ước của mình cũng như ước nguyện của tất cả mọi
người dân Việt Nam – muốn được gần bên Bác để:
“Ta bên Người, Người tỏa sáng bên ta
Ta bỗng lớn lên ở bên Người một chút”.
Luận điểm 4: Đánh giá
Tham khảo 2 cách đánh giá sau:
Cách 1:
- Nghệ thuật: Bằng thể thơ 8 chữ, giọng thơ
tha thiết trầm lắng, hình ảnh chọn lọc mang
tính biểu tượng cao, ngôn ngữ thơ giản dị,
mộc mạc mà gợi hình, gợi cảm đặc biệt là
điệp ngữ, điệp cấu trúc, ẩn dụ, nhân hóa, kết
cấu đầu cuối tương ứng…
- Nội dung:
+ Đoạn thơ đã diễn tả niềm xúc động của nhà
thơ khi nhìn thấy hình ảnh Bác yên nghỉ trong
lăng, nỗi đau đớn, thương tiếc trước sự ra đi
của Người cùng ước nguyện giản dị, mộc mạc
nhưng cũng khiêm nhường và tấm lòng thủy
chung son sắt, tình cảm biết ơn sâu sắc của
nhà thơ, của đồng bào miền Nam, của cả dân
tộc ta đối với Bác.
+ Lời thơ chính là tấm lòng tác giả, của nhân
dân của nước dành cho vị Cha già kính yêu
của dân tộc. Người sẽ luôn sống và sáng mãi
trong lòng dân tộc Việt Nam.
C. KẾT BÀI
VD1:
- Đoạn thơ/Hai khổ thơ cuối đã góp
phần làm nên sức sống cho bài thơ
“Viếng lăng Bác”.
- Gấp trang sách lại rồi/Đã bao năm
tháng trôi qua nhưng niềm xúc động
của nhà thơ khi nhìn thấy hình ảnh
Bác yên nghỉ trong lăng cùng với ước
nguyện giản dị, mộc mạc của nhà thơ
vẫn đọng mãi trong lòng ta với bao
cảm xúc.
Cách 2: Đánh giá nâng cao
- Nghệ thuật: Bằng thể thơ 8 chữ, giọng thơ
tha thiết trầm lắng, hình ảnh chọn lọc mang
tính biểu tượng cao, ngôn ngữ thơ giản dị,
mộc mạc mà gợi hình, gợi cảm đặc biệt là
điệp ngữ, điệp cấu trúc, ẩn dụ, nhân hóa, kết
cấu đầu cuối tương ứng…
- Nội dung:
+ Đoạn thơ đã diễn tả niềm xúc động khi
nhìn thấy hình ảnh Bác yên nghỉ trong lăng
cùng ước nguyện giản dị, mộc mạc nhưng
cũng khiêm nhường của nhà thơ.
+ Ước nguyện đó xuất phát từ tấm lòng biết
ơn, ngưỡng mộ, tôn kính của nhà thơ và
cũng là của nhân dân ta đối với Bác Hồ.
+ Qua bài thơ, Viễn Phương đã thay nhân
dân miền Nam nói riêng và nhân dân cả nước
nói chung dâng lên Bác cảm xúc chân thành,
lòng thành thiêng liêng.
+ Bài thơ sẽ tiếp tục sống trong lòng người
đọc, gợi nhắc cho những thế hệ mai sau kế
tục thành quả rực rỡ của cách mạng, biết
sống sao cho xứng đáng với sự hi sinh của
một con người vĩ đại mà giản dị – chủ tịch Hồ
Chí Minh, Người đã sống trọn một đời vì
nước vì dân.
VD2:
- Gần nửa thế kỷ trôi qua nhưng
nhưng niềm xúc động của nhà thơ khi
nhìn thấy hình ảnh Bác yên nghỉ trong
lăng cùng với ước nguyện giản dị, mộc
mạc của nhà thơ trong đoạn thơ/hai
khổ thơ cuối vẫn khiến ta không thể
nào quên.
- Viễn Phương đã để lại cho thơ ca Việt
Nam một thi phẩm xuất sắc về Bác Hồ.
- Có lẽ vì vậy mà đoạn thơ/hai khổ thơ
cuối nói riêng và cả bài thơ “Viếng lăng
Bác” nói chung vẫn luôn hấp dẫn bạn
đọc bao thế hệ.
THƠ HIỆN ĐẠI
VĂN BẢN: NÓI VỚI CON
(Y Phương)
PHẦN I. CÁC VẤN ĐỀ TRỌNG TÂM
Vấn đề 1: Phân tích/Cảm nhận đoạn thơ sau:
Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười
Người đồng mình yêu lắm con ơi
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng
Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới
Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.
Vấn đề 2: Phân tích/Cảm nhận đoạn thơ sau:
Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn
Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc
Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục
Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con.
Vấn đề 2: Phân tích/Cảm nhận đoạn thơ sau:
Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn
Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc
Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục
Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con.
Hướng dẫn chi tiết
A. MỞ BÀI
Cách 1: Mở bài trực tiếp
- Giới thiệu tác giả: Y Phương là nhà thơ viết nhiều về cuộc sống và con người miền núi.
- Phong cách: Thơ ông thể hiện một tâm hồn chân thật, mạnh mẽ, trong sáng với cách tư
duy giàu hình ảnh, cụ thể của người miền núi.
- Giới thiệu tác phẩm: “Nói với con” là bài thơ tiêu biểu cho phong cách ấy của ông.
- Nội dung tác phẩm: Bài thơ ca ngợi tình phụ tử thiêng liêng xúc động và khơi gợi ý chí
vươn lên trong cuộc sống của mỗi người.
- Vấn đề nghị luận:
Đọc bài thơ, ta không thể nào quên được lời tâm sự của người cha nói với con về những
phẩm chất cao đẹp của người đồng mình từ đó bày tỏ bao mong ước về con trong khổ thơ
cuối.
(Đề yêu cầu phân tích, loại bỏ yếu tố biểu cảm, thay bằng “ta cảm nhận được...”)
Cách 2: Bắt nguồn từ đề tài
- Tình cảm gia đình – thứ tình cảm ấm áp, thiêng liêng nhất trong trái tim mỗi con người đã
trở thành nguồn cảm hứng bất tận của thơ ca Việt Nam.
- Ta đã từng bắt gặp tình cảm thiêng liêng ấy trong “Con cò” của Chế Lan Viên, trong “Chiếc
lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng.
- Và đến với “Nói với con” của Y Phương, một lần nữa ta lại được cảm nhận cái thiêng liêng,
ấm áp của tình cảm gia đình mà cụ thể hơn chính là tình phụ tử.
- Vấn đề nghị luận: ...
B. THÂN BÀI
Luận điểm 1: Khái quát chung
- Bài thơ được viết vào năm 1980 – khi đất nước gặp vô vàn khó khăn, khiến không ít lòng
người chao đảo, không ít người vì cuộc sống mưu sinh mà đánh mất bản sắc truyền thống
quê hương mình. Trong hoàn cảnh đó, Y Phương đã sáng tác bài thơ tặng cho con gái đầu
lòng để dặn con và cũng là để tâm sự với chính mình: phải vượt qua sự nghèo khổ bằng văn
hóa, phải tin vào những giá trị đích thực, vĩnh cửu của văn hóa.
- Ý chính:
+ Ở khổ thơ đầu, bằng thể thơ tự do, giọng điệu tâm tình tha thiết, hình ảnh thơ đẹp, giản dị
và cách nói cụ thể, độc đáo mà gần gũi của người miền núi, Y Phương đã nói với con về cội
nguồn sinh dưỡng.
+ Ông muốn nói với con rằng gia đình và quê hương chính là cái nôi đầu tiên của cuộc đời
mỗi con người, là nơi ta được lớn lên, được yêu thương che chở.
+ Từ đó lời thơ nhắc nhở người đọc cần biết trân trọng gia đình và quê hương của chính mình.
+ Trong cái ngọt ngào của kỉ niệm về gia đình và quê hương, người cha đã tha thiết nói với
con về những phẩm chất tốt đẹp của người đồng mình, từ đó bày tỏ mong ước của người
cha dành cho con.
Luận điểm 2: Trước hết, người cha nói với con về những phẩm chất cao đẹp của người
đồng mình để lại trong ta bao cảm xúc.
Luận cứ 1: Người cha nói với con vẻ đẹp đầu tiên của người đồng mình là sống mạnh mẽ
khoáng đạt, giàu ý chí nghị lực, gắn bó thủy chung với quê hương nguồn cội khiến ta vô
cùng ngưỡng mộ:
“Người đồng mình thương lắm con ơi
... Xa nuôi chí lớn.”
- Nếu khi nói về nghĩa tình quê hương, người cha bộc lộ cảm xúc “người đồng mình yêu lắm
con ơi”– yêu cuộc sống vui tươi bình dị, yêu bản làng thơ mộng, yêu những tấm lòng chân
thật nghĩa tình, thì đến đây người cha nói “thương lắm con ơi”– bởi sau từ “thương” đó là
niềm thương cảm với bao nỗi vất vả, gian khó của con người quê hương, người cha biểu lộ
tình cảm yêu thương chân thành về gian truân, thử thách cùng ý chí mà người đồng mình đã
trải qua.
- Bằng cách tư duy độc đáo của người miền núi, Y Phương đã lấy cái cao vời vợi của trời để
đo nỗi buồn, lấy cái xa của đất để đo ý chí con người. - Sắp xếp tính từ “cao”, “xa” trong sự
tăng tiến, nhà thơ cho thấy khó khăn, thử thách càng lớn thì ý chí con người càng mạnh mẽ.
Chốt ý luận cứ: Có thể nói, cuộc sống của người đồng mình còn nhiều nỗi buồn, còn nhiều
bộn bề thiếu thốn song họ sẽ vượt qua tất cả, bởi họ có ý chí và nghị lực, họ luôn tin tưởng
vào tương lai tốt đẹp của dân tộc.
Luận cứ 2: Không chỉ vậy, điều đáng quý, đáng trân trọng là người đồng mình dù sống
trong nghèo khổ, gian nan nhưng vẫn thuỷ chung gắn bó với quê hương, cội nguồn:
“Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
... Không lo cực nhọc.”
- Phép liệt kê với những hình ảnh ẩn dụ “đá gập gềnh”, “thung nghèo đói” kết hợp thành ngữ
dân gian “Lên thác xuống ghềnh” gợi cuộc sống đói nghèo, khó khăn, cực nhọc của những
người đồng mình.
- Những câu thơ dài ngắn, cùng những thanh trắc tạo ấn tượng về cuộc sống trắc trở, gian
nan, đói nghèo của quê hương.
- Điệp ngữ “sống”, “không chê” và điệp cấu trúc câu cùng hình ảnh đối xứng đã nhấn mạnh:
người đồng mình có thể nghèo nàn, thiếu thốn về vật chất nhưng họ không thiếu ý chí và
quyết tâm. Người đồng mình chấp nhận và thủy chung gắn bó cùng quê hương, dẫu quê
hương có đói nghèo, vất vả. Và phải chăng, chính cuộc sống nhọc nhằn, đầy vất vả khổ đau
ấy đã tôi luyện cho chí lớn để rồi tình yêu quê hương sẽ tạo nên sức mạnh giúp họ vượt qua
tất cả.
- Phép so sánh “Sống như sông như suối” gợi vẻ đẹp tâm hồn và ý chí của người đồng mình.
Gian khó là thế, họ vẫn tràn đầy sinh lực, tâm hồn lãng mạn, khoáng đạt như hình ảnh đại
ngàn của sông núi. Tình cảm của họ trong trẻo, dạt dào như dòng suối, con sông trước niềm
tin yêu cuộc sống, tin yêu con người.
Luận cứ 3: Một nét đẹp nữa đáng trân trọng của người đồng mình là tầm vóc lớn lao, ý
thức tự lập, tự cường và tinh thần tự tôn dân tộc khiến ta trân trọng, cảm phục:
“Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục”
- Phẩm chất của người của con người quê hương còn được người cha ca ngợi qua cách nói
đối lập tương phản giữa hình thức bên ngoài và giá trị tinh thần bên trong, nhưng rất đúng
với người miền núi:
“Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con”
+ Lời thơ mộc mạc, giản dị nhưng chứa bao tâm tình.
+ Cụm từ “thô sơ da thịt” là cách nói bằng hình ảnh cụ thể của bà con dân tộc Tày, ngợi
ca những con người mộc mạc, giản dị, chất phác, thật thà, chịu thương, chịu khó.
+ Cụm từ “chẳng nhỏ bé” khẳng định sự lớn lao của ý chí, của nghị lực, cốt cách và niềm tin.
→ Sự tương phản này đã tôn lên tầm vóc của người đồng mình. Họ mộc mạc nhưng giàu
chí khí, niềm tin. Họ có thể “thô sơ da thịt” nhưng không hề nhỏ bé về tâm hồn, về ý chí.
- Cùng với ý thức tự lực, tự cường, người đồng mình còn ngời sáng tinh thần tự tôn dân tộc
và khát vọng xây dựng quê hương:
“Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục”
+ Lối nói của Y Phương đậm ngôn ngữ dân tộc – độc đáo mà vẫn chứa đựng ý vị sâu xa.
+ Hình ảnh “Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương” vừa mang tính tả thực (chỉ
truyền thống làm nhà kê đá cho cao của người miền núi), vừa mang ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc:
Người đồng mình bằng chính bàn tay và khối óc, bằng sức lao động đã xây dựng và làm đẹp
giàu cho quê hương, xây dựng để nâng tầm quê hương. Còn quê hương là điểm tựa tinh
thần với phong tục tập quán nâng đỡ những con người có chí khí và niềm tin.
→ Câu thơ đã khái quát về tinh thần tự tôn dân tộc, về ý thức bảo vệ nguồn cội, bảo tồn
những truyền thống quê hương tốt đẹp của người đồng mình.
Luận điểm 3: Khép lại bài thơ, người cha gửi tới đứa con yêu lời nhắn ngủ trìu mến, chứa
chan biết bao niềm tin yêu, hy vọng khiến ta xúc động (trân trọng).
“Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con.”
- Giọng thơ vừa tha thiết, trìu mén lại vữa rắn rỏi mạnh mẽ như một mệnh lệnh thể hiện
mong ước chân thành của người cha. Con là con của cha, con mang tâm hồn cốt cách của
người đồng mình, con được nuôi dưỡng từ mảnh đất quê hương, gian khó mà nghĩa tình nên
con phải ngẩng cao đầu để sống phải làm nên những điều lớn lao, phải cuộc sống ý chí để
xứng đáng với cội nguồn.
- Cha nhắc con không bao giờ được sống tầm thường nhỏ bé, có thể mộc mạc chân chất về
da thịt nhưng không được nhỏ bé về tâm hồn, khí phách. Nói cách khác người cha mong con
khí phách, ý chí vươn lên trong cuộc sống tự tin và vững bước trên đường đời, tự hào về
truyền thống quê hương, không được đánh mất bản sắc văn hóa quê mình.
- Từ đó người cha muốn truyền cho con lòng tự hào về cội nguồn sinh dưỡng sức sống mạnh
mẽ bến bỉ và truyền thống văn hóa tốt đẹp của quê hương; truyền cho con kinh nghiệm sống
– tự tin, can đảm có ý chí khi bước vào đời. Lời dặn của cha thô mộc dễ hiểu chan chứa niềm
hi vọng lớn lao của cha, hi vọng đứa con vững bước trên đường đời, tiếp nối truyền thống và
làm vẻ vang quê hương.
Luận điểm 4: Đánh giá
- Nghệ thuật: Bằng thể thơ tự do ít vần, giọng thơ khi tha thiết tâm tình, khi rắn rỏi mạnh mẽ,
hình ảnh chân thực, cụ thể, mang đậm tư duy miền núi, ngôn ngữ bình dị mà giàu sức gợi,...
- Nội dung:
+ Đoạn thơ đã giúp người đọc cảm nhận được trọn vẹn những phẩm chất đẹp đẽ của người
đồng mình. Người đồng minh là những người giàu ý chí nghị lực và niềm tin, luôn thủy chung
tình nghĩa, phóng khoáng lãng mạn.
+ Từ đó người cha muốn nhắc nhở mỗi người hãy sống xứng đáng với quê hương, không
được đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc, không được đánh mất ý chí vươn lên trong cuộc
sống…
- Thái độ của tác giả: Và đằng sau những vần thơ ấy, ta nhận ra tình yêu, niềm tự hào và sự
gắn bó sâu nặng và tình yêu thương sâu sắc của nhà thơ. Tình cảm ấy thật đáng trân trọng.
C. KẾT BÀI
VD1:
- Khổ thơ cuối/Đoạn thơ trên
đã góp phần làm nên sức
sống của bài thơ “Nói với
con”. - Gấp trang sách lại
rồi/Đã bao năm tháng trôi
qua nhưng những tâm sự
của người cha về vẻ đẹp của
người đồng mình và những
lời dặn dò chan chứa yêu
thương vẫn đọng mãi trong
lòng ta bao niềm trân trọng
xúc động.
VD2:
- Gần nửa thế kỉ trôi qua
nhưng những lời tâm sự của
người cha với con về phẩm
chất cao đẹp của người đồng
mình ở khổ thơ thứ hai/
đoạn thơ trên vẫn khiến ta
không thể nào quên.
- Y Phương đã để lại cho thơ
ca Việt Nam một thi phẩm
xuất sắc về đề tài tình phụ tử.
Có lẽ vì vậy mà khổ thơ thứ
hai/đoạn thơ trên nói riêng
VD3:
- Quả thực “Nói với con” của
Y Phương là một bài thơ độc
đáo. Tác phẩm ấy và nhất là
khổ thơ cuối đã khơi gợi
trong lòng người đọc không
ít những tình cảm đẹp. Nó
khiến ta càng thêm cảm phục
trước tài năng thơ của Y
Phương, càng thêm trân
trọng hơn tình cảm gia đình
– thứ tình cảm thiêng liêng
cao đẹp nhất.
và bài thơ “Nói với con” nói - Từ những lời cha nói với
chung luôn hấp dẫn trái tim con, bài thơ đã nhắc nhở mỗi
bạn đọc bao thế hệ.
chúng ta về trách nhiệm của
bản thân với gia đình, với
quê hương đất nước. Và có
lẽ chính vì thế mà sau bao
thăng trầm của lịch sử, “Nói
với con” của Y Phương vẫn
còn mãi trong lòng bạn đọc
bao thế hệ.
__________ HẾT __________
BỘ CHUYÊN SÂU NGỮ VĂN 9 – HỌC KÌ 2
(BẢN MỀM – BẢN PDF)
- Xin giới thiệu với các quý thầy cô BỘ CHUYÊN SÂU NGỮ VĂN 9 – HỌC KÌ 2 dành
cho HS đại trà.
- Bộ tài liệu gồm các văn bản trong SGK cùng với các vấn đề trọng tâm, các dạng
đề cụ thể xoay quanh văn bản. Bộ tài liệu HK2 gồm các văn bản:
Mùa xuân nho nhỏ
Viếng lăng Bác
Sang thu
Nói với con
Những ngôi sao xa xôi
- Bộ tài liệu có dàn bài hướng dẫn chi tiết, cụ thể.
- Có MỞ BÀI + KẾT BÀI MẪU.
- Phân tích chuyên sâu từng dạng đề.
- Mỗi tác phẩm đều đầy đủ bố cục 3 phần.
- Bộ tài liệu chuyên sâu phù hợp cho ôn thi, ôn tập giữa kì + cuối kì + thi chuyển
cấp… Các thầy/cô giáo có thể dùng để dạy, học sinh cũng có thể dùng để học, ôn
tập.
- Thầy cô được tặng kèm tài liệu NLXH + Đọc hiểu.
Ai có nhu cầu ib trực tiếp cho mình qua: (Tài liệu có phí nhẹ)
1. Facebook: Ngọc Quân
2. Zalo: 0972.223.767
Xin mời các thầy cô tham khảo bài mẫu dưới đây !!!
THƠ HIỆN ĐẠI
VĂN BẢN: VIẾNG LĂNG BÁC
(Viễn Phương)
PHẦN I. CÁC VẤN ĐỀ TRỌNG TÂM
Vấn đề 1: Phân tích/Cảm nhận khổ 1 + 2.
Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.
Vấn đề 2: Phân tích/Cảm nhận khổ 2 + 3.
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói trong tim!
Vấn đề 3: Phân tích/Cảm nhận khổ 3 + 4.
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim!
Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.
Vấn đề 3: Phân tích/Cảm nhận khổ 3 + 4.
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim!
Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.
Hướng dẫn chi tiết
A. MỞ BÀI
Cách viết Mở bài tương tự ở Vấn đề 1.
- Vấn đề nghị luận:
+ Đọc bài thơ hai khổ thơ cuối là cảm xúc của nhà thơ khi vào lăng viếng Bác. (Cảm nhận)
+ Và đọc bài thơ có lẽ người đọc ấn tượng nhất với hai khổ thơ cuối – những vần thơ
được coi là hay nhất của tác phẩm. (Phân tích)
B. THÂN BÀI
Luận điểm 1: Khái quát chung
- Bài thơ được viết vào năm 1976 khi đất nước mới được giải phóng, lăng Bác vừa được khánh
thành, Viễn Phương trong đoàn người miền Nam đầu tiên ra viếng lăng Bác.
- Bài thơ đã thể hiện lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ và mọi người đối
với Bác Hồ khi vào lăng viếng Bác.
→ Nếu viết ở Mở bài như Ví dụ 2/Vấn đề 1 thì không cần viết lại
- Ý chính:
+ Ở hai khổ thơ đầu, bằng các biện pháp tu từ ẩn dụ, hoán dụ, nói giảm nói tránh, điệp ngữ,
sử dụng thành ngữ, các từ ngữ giàu sức gợi và hình ảnh chọn lọc,…
+ Lời thơ đã diễn tả một cách sâu sắc nỗi niềm xúc động, nghẹn ngào của nhà thơ khi đứng
trước lăng và hòa vào dòng người vào lăng viếng Bác. Và tình cảm ấy được bộc lộ tiếp ở hai
khổ thơ cuối khi nhà thơ vào lăng viếng Bác.
Luận điểm 2: Trước hết, hiện lên trong đoạn thơ là niềm đau xót, tiếc thương của nhà thơ
khi thấy di hài của Bác trong lăng.
(Yếu tố biểu cảm: Trước hết, đọc đoạn thơ ta không thể nào quên được)
“Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim !”
- Giây phút vào trong lăng, nhà thơ xúc động nghẹn ngào khi bắt gặp bóng dáng thân yêu của
Bác. Bác như đang ngủ say trong giấc ngủ bình yên thanh thản giữa một không gian yên tịnh,
dịu nhẹ.
- Cả cuộc đời Bác chưa bao giờ có giấc ngủ trọn vẹn “trọn đời Bác có ngủ yên đâu”. Cả cuộc
đời của Bác đằng đặc biết bao đêm không ngủ, chỉ đến lúc này Người mới được chìm sâu
trong giấc ngủ, sau một cuộc đời cống hiến không biết mệt mỏi, cho dân tộc và nhân loại.
- Ngắm nhìn Bác ngủ yên trong không gian thanh tịnh dịu nhẹ ấy, nhà thơ liên tưởng đến
vầng trăng và hình ảnh ẩn dụ giàu ý nghĩa.
+ Trước hết hình ảnh vầng trăng gợi không gian thanh tịnh, ánh sáng dịu nhẹ của đèn điện
trong lăng.
+ Hơn thế nữa hình ảnh vầng trăng còn là hình ảnh ẩn dụ gợi tâm hồn, cốt cách thanh cao
của Bác. Đó là tâm hồn trong sáng nhân hậu bao dung như lòng mẹ, là tấm lòng “nâng niu tất
cả chỉ quên mình”, “yêu thương ngọn cỏ mỗi nhành hoa”.
+ Không những thế, hình ảnh vầng trăng đã gợi lên những hình ảnh vầng trăng quen thuộc
trong thơ Bác. Đột nhiên những câu thơ được Bác viết trong những ngày bị chính quyền
Tưởng Giới Thạch bắt giam như lại vang lên trong lòng người đọc: “Người ngắm trăng soi
ngoài cửa sổ/Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.
+ Vầng trăng là người bạn tri kỉ, đồng hành cùng Người trên mọi nẻo đường cách mạng. Vầng
trăng ấy giờ đây đang canh giấc ngủ ngàn thu của Người.
- Chứng kiến hình ảnh Người bình yên nghỉ trong lăng, trong lòng nhà thơ trào dâng niềm xót
thương vô hạn.
“Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói trong tim!”
+ Hai câu thơ sử dụng hình ảnh ẩn dụ “trời xanh”, kết hợp từ láy “mãi mãi” khẳng định sự bất
tử vĩnh hằng của tên tuổi và sự nghiệp Hồ Chí Minh. Bác còn mãi với non sông đất nước như
trời xanh còn mãi. Bác hóa vào thiên nhiên núi sông đã vào “cuộc trường sinh nhẹ cánh bay”.
+ (Tham khảo) Tố Hữu cũng từng có những vần thơ giống như vậy:
“Bác sống như trời đất của ta
Yêu từng ngọn lúa mỗi nhành hoa”
+ Bên cạnh biện pháp ẩn dụ, hai câu thơ còn có cách sử dụng từ tinh tế. Đó chính là cách sử
dụng cặp từ: “vẫn biết … mà sao” diễn tả cảm xúc thay đổi đột ngột, thể hiện sự ý nghĩa đối
lập: đó là sự đối lập giữa lí trí và cảm xúc. Lý trí biết rằng Người vĩnh hằng, bất tử cùng thời
gian như trời xanh còn mãi nhưng cảm xúc vẫn đau “nhói trong tim” khi chứng kiến Bác yên
nghỉ trong lăng. Bác đã mãi mãi đi xa.
+ Ba chữ “nhói trong tim” thể hiện nỗi xúc động niềm đau đớn, xót xa, tiếc thương vô hạn
của nhà thơ trước sự ra đi của Người, trước nỗi đau quá lớn của dân tộc. Đó không chỉ là tâm
trạng của nhà thơ Viễn Phương mà là tâm trạng của cả dân tộc Việt Nam. Nỗi đau ấy bao năm
rồi mà chưa thể nguôi ngoai.
+ (Tham khảo) Có lẽ cũng vì thế mà có một nhà thơ đã thốt lên rằng:
“Trái bưởi kia vàng ngọt với ai
Thơm cho ai nữa hỡi hoa nhài”
+ (Tham khảo) Mỗi khi chợt nghĩ về cái ngày trái tim ấy ngừng đập, ngày cả dân tộc phải gánh
chịu sự mất mát quá lớn lao, cõi lòng ta vẫn thấy đớn đau và đất trời Việt Nam vẫn ngậm
ngùi rơi lệ trong niềm tiếc thương:
"Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa…"
("Bác ơi" - Tố Hữu)
Chốt ý luận điểm: Như vậy bằng hình ảnh ẩn dụ giàu sức gợi, bằng biện pháp đối lập giữa
lý trí và cảm xúc khổ thơ đã ngợi ca tâm hồn trong sáng, thanh cao của Bác đồng thời bày
tỏ tình cảm tiếc thương vô hạn trước sự ra đi của Người.
Luận điểm 3: Đặc biệt, bài thơ khép lại bằng ước nguyện cao đẹp của nhà thơ khi nghĩ về
ngày mai chia xa.
(Yếu tố biểu cảm: gợi trong ta bao xúc động)
“Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”.
- Trước hết hiện lên trong khổ thơ là niềm xúc động trào dâng mãnh liệt của nhà thơ khi nghĩ
về giây phút rời xa lăng Bác. “Mai về miền Nam”, “mai” là chỉ thời gian ở thì tương lai, chưa
xảy ra. Chưa về mà đã nghĩ đến chia xa để thương để nhớ đến trào nước mắt đủ thấy tình
cảm, cảm xúc đối với Bác chân thành mãnh liệt đến nhường nào.
+ Hơn thế nữa, nhà thơ sử dụng cách biểu cảm trực tiếp “thương trào nước mắt” đã diễn tả
trọn vẹn tình cảm của người miền Nam đối với Bác. Ngày mai phải rời xa Bác rồi, xúc động
nghẹn ngào, bao yêu thương như vỡ òa, không kìm nén được. Một chữ “thương” mà chan
chứa bao niềm yêu thương, kính trọng cuộc đời cao cả vĩ đại của Bác – một người đã dành
trọn cuộc đời cho dân, cho nước, cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Một chữ “thương” mà
trào dâng niềm xót xa, đau đớn, tiếc thương vì mất đi Người Cha kính yêu. Đó không chỉ là
cảm xúc của Viễn Phương mà ông đang nói hộ tấm lòng của muôn vạn trái tim con người Việt
Nam khi phải rời xa chốn thiêng liêng.
- Từ niềm cảm xúc ấy, nhà thơ bày tỏ ước nguyện thật bình dị mà cao đẹp đáng trân trọng.
“Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”.
+ Điệp ngữ “muốn làm” và điệp cấu trúc câu đã tạo nhịp thơ nhanh, dồn dập diễn tả những
mong ước mãnh liệt, cháy bỏng được hóa thân vào cảnh vật quanh lăng, được mãi mãi canh
giấc ngủ bình yên cho Người. Nhà thơ muốn làm con chim đem âm thanh tươi vui rộn rã
quanh lăng Bác, muốn làm đóa hoa tỏa hương khoe sắc nơi Bác yên nghỉ.
+ (Tham khảo) Lời thơ khiến ta nhớ đến ước nguyện của Thanh Hải trong bài thơ “Mùa xuân
nho nhỏ”
“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến”
Nếu như Thanh Hải muốn hóa thân vào cảnh vật để làm đẹp cho cuộc đời, để cống hiến mùa
xuân của cuộc đời mình vào mùa xuân chung của dân tộc thì với Viễn Phương, ước nguyện
hóa thân vào cảnh vật là để được bên Bác suốt đời.
+ Và thật cao đẹp biết bao nhà thơ muốn hóa thân vào “cây tre trung hiếu” trong muôn ngàn
cây tre quanh lăng Bác để được tỏa bóng mát rượi nơi Bác yên nghỉ. Hình ảnh con chim, đóa
hoa là những hình ảnh ẩn dụ đẹp diễn tả ước nguyện muốn dâng lên Bác những gì tốt đẹp,
cao quý nhất của cuộc đời mình.
- Khép lại bài thơ là hình ảnh cây tre trung hiếu tạo nên kết cấu đầu cuối tương ứng cho bài
thơ đã khẳng định thêm vẻ đẹp con người Việt Nam: tấm lòng chung thủy, sắt son, nghĩa
tình, hướng về Bác, đi theo con đường Bác đã chọn.
Chốt ý luận điểm: Có thể nói, ước nguyện của nhà thơ thật khiêm nhường, nhỏ bé, bình dị
mà cao đẹp. Mọi ước nguyện đều thể hiện khát khao được ở gần Bác mãi mãi, muốn làm
vui, làm khuây, làm vơi nỗi vắng vẻ trong lòng của một con người đã hi sinh vì nước, vì dân.
Viễn Phương đã nói lên niềm mong ước của mình cũng như ước nguyện của tất cả mọi
người dân Việt Nam – muốn được gần bên Bác để:
“Ta bên Người, Người tỏa sáng bên ta
Ta bỗng lớn lên ở bên Người một chút”.
Luận điểm 4: Đánh giá
Tham khảo 2 cách đánh giá sau:
Cách 1:
- Nghệ thuật: Bằng thể thơ 8 chữ, giọng thơ
tha thiết trầm lắng, hình ảnh chọn lọc mang
tính biểu tượng cao, ngôn ngữ thơ giản dị,
mộc mạc mà gợi hình, gợi cảm đặc biệt là
điệp ngữ, điệp cấu trúc, ẩn dụ, nhân hóa, kết
cấu đầu cuối tương ứng…
- Nội dung:
+ Đoạn thơ đã diễn tả niềm xúc động của nhà
thơ khi nhìn thấy hình ảnh Bác yên nghỉ trong
lăng, nỗi đau đớn, thương tiếc trước sự ra đi
của Người cùng ước nguyện giản dị, mộc mạc
nhưng cũng khiêm nhường và tấm lòng thủy
chung son sắt, tình cảm biết ơn sâu sắc của
nhà thơ, của đồng bào miền Nam, của cả dân
tộc ta đối với Bác.
+ Lời thơ chính là tấm lòng tác giả, của nhân
dân của nước dành cho vị Cha già kính yêu
của dân tộc. Người sẽ luôn sống và sáng mãi
trong lòng dân tộc Việt Nam.
C. KẾT BÀI
VD1:
- Đoạn thơ/Hai khổ thơ cuối đã góp
phần làm nên sức sống cho bài thơ
“Viếng lăng Bác”.
- Gấp trang sách lại rồi/Đã bao năm
tháng trôi qua nhưng niềm xúc động
của nhà thơ khi nhìn thấy hình ảnh
Bác yên nghỉ trong lăng cùng với ước
nguyện giản dị, mộc mạc của nhà thơ
vẫn đọng mãi trong lòng ta với bao
cảm xúc.
Cách 2: Đánh giá nâng cao
- Nghệ thuật: Bằng thể thơ 8 chữ, giọng thơ
tha thiết trầm lắng, hình ảnh chọn lọc mang
tính biểu tượng cao, ngôn ngữ thơ giản dị,
mộc mạc mà gợi hình, gợi cảm đặc biệt là
điệp ngữ, điệp cấu trúc, ẩn dụ, nhân hóa, kết
cấu đầu cuối tương ứng…
- Nội dung:
+ Đoạn thơ đã diễn tả niềm xúc động khi
nhìn thấy hình ảnh Bác yên nghỉ trong lăng
cùng ước nguyện giản dị, mộc mạc nhưng
cũng khiêm nhường của nhà thơ.
+ Ước nguyện đó xuất phát từ tấm lòng biết
ơn, ngưỡng mộ, tôn kính của nhà thơ và
cũng là của nhân dân ta đối với Bác Hồ.
+ Qua bài thơ, Viễn Phương đã thay nhân
dân miền Nam nói riêng và nhân dân cả nước
nói chung dâng lên Bác cảm xúc chân thành,
lòng thành thiêng liêng.
+ Bài thơ sẽ tiếp tục sống trong lòng người
đọc, gợi nhắc cho những thế hệ mai sau kế
tục thành quả rực rỡ của cách mạng, biết
sống sao cho xứng đáng với sự hi sinh của
một con người vĩ đại mà giản dị – chủ tịch Hồ
Chí Minh, Người đã sống trọn một đời vì
nước vì dân.
VD2:
- Gần nửa thế kỷ trôi qua nhưng
nhưng niềm xúc động của nhà thơ khi
nhìn thấy hình ảnh Bác yên nghỉ trong
lăng cùng với ước nguyện giản dị, mộc
mạc của nhà thơ trong đoạn thơ/hai
khổ thơ cuối vẫn khiến ta không thể
nào quên.
- Viễn Phương đã để lại cho thơ ca Việt
Nam một thi phẩm xuất sắc về Bác Hồ.
- Có lẽ vì vậy mà đoạn thơ/hai khổ thơ
cuối nói riêng và cả bài thơ “Viếng lăng
Bác” nói chung vẫn luôn hấp dẫn bạn
đọc bao thế hệ.
THƠ HIỆN ĐẠI
VĂN BẢN: NÓI VỚI CON
(Y Phương)
PHẦN I. CÁC VẤN ĐỀ TRỌNG TÂM
Vấn đề 1: Phân tích/Cảm nhận đoạn thơ sau:
Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười
Người đồng mình yêu lắm con ơi
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng
Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới
Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.
Vấn đề 2: Phân tích/Cảm nhận đoạn thơ sau:
Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn
Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc
Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục
Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con.
Vấn đề 2: Phân tích/Cảm nhận đoạn thơ sau:
Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn
Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc
Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục
Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con.
Hướng dẫn chi tiết
A. MỞ BÀI
Cách 1: Mở bài trực tiếp
- Giới thiệu tác giả: Y Phương là nhà thơ viết nhiều về cuộc sống và con người miền núi.
- Phong cách: Thơ ông thể hiện một tâm hồn chân thật, mạnh mẽ, trong sáng với cách tư
duy giàu hình ảnh, cụ thể của người miền núi.
- Giới thiệu tác phẩm: “Nói với con” là bài thơ tiêu biểu cho phong cách ấy của ông.
- Nội dung tác phẩm: Bài thơ ca ngợi tình phụ tử thiêng liêng xúc động và khơi gợi ý chí
vươn lên trong cuộc sống của mỗi người.
- Vấn đề nghị luận:
Đọc bài thơ, ta không thể nào quên được lời tâm sự của người cha nói với con về những
phẩm chất cao đẹp của người đồng mình từ đó bày tỏ bao mong ước về con trong khổ thơ
cuối.
(Đề yêu cầu phân tích, loại bỏ yếu tố biểu cảm, thay bằng “ta cảm nhận được...”)
Cách 2: Bắt nguồn từ đề tài
- Tình cảm gia đình – thứ tình cảm ấm áp, thiêng liêng nhất trong trái tim mỗi con người đã
trở thành nguồn cảm hứng bất tận của thơ ca Việt Nam.
- Ta đã từng bắt gặp tình cảm thiêng liêng ấy trong “Con cò” của Chế Lan Viên, trong “Chiếc
lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng.
- Và đến với “Nói với con” của Y Phương, một lần nữa ta lại được cảm nhận cái thiêng liêng,
ấm áp của tình cảm gia đình mà cụ thể hơn chính là tình phụ tử.
- Vấn đề nghị luận: ...
B. THÂN BÀI
Luận điểm 1: Khái quát chung
- Bài thơ được viết vào năm 1980 – khi đất nước gặp vô vàn khó khăn, khiến không ít lòng
người chao đảo, không ít người vì cuộc sống mưu sinh mà đánh mất bản sắc truyền thống
quê hương mình. Trong hoàn cảnh đó, Y Phương đã sáng tác bài thơ tặng cho con gái đầu
lòng để dặn con và cũng là để tâm sự với chính mình: phải vượt qua sự nghèo khổ bằng văn
hóa, phải tin vào những giá trị đích thực, vĩnh cửu của văn hóa.
- Ý chính:
+ Ở khổ thơ đầu, bằng thể thơ tự do, giọng điệu tâm tình tha thiết, hình ảnh thơ đẹp, giản dị
và cách nói cụ thể, độc đáo mà gần gũi của người miền núi, Y Phương đã nói với con về cội
nguồn sinh dưỡng.
+ Ông muốn nói với con rằng gia đình và quê hương chính là cái nôi đầu tiên của cuộc đời
mỗi con người, là nơi ta được lớn lên, được yêu thương che chở.
+ Từ đó lời thơ nhắc nhở người đọc cần biết trân trọng gia đình và quê hương của chính mình.
+ Trong cái ngọt ngào của kỉ niệm về gia đình và quê hương, người cha đã tha thiết nói với
con về những phẩm chất tốt đẹp của người đồng mình, từ đó bày tỏ mong ước của người
cha dành cho con.
Luận điểm 2: Trước hết, người cha nói với con về những phẩm chất cao đẹp của người
đồng mình để lại trong ta bao cảm xúc.
Luận cứ 1: Người cha nói với con vẻ đẹp đầu tiên của người đồng mình là sống mạnh mẽ
khoáng đạt, giàu ý chí nghị lực, gắn bó thủy chung với quê hương nguồn cội khiến ta vô
cùng ngưỡng mộ:
“Người đồng mình thương lắm con ơi
... Xa nuôi chí lớn.”
- Nếu khi nói về nghĩa tình quê hương, người cha bộc lộ cảm xúc “người đồng mình yêu lắm
con ơi”– yêu cuộc sống vui tươi bình dị, yêu bản làng thơ mộng, yêu những tấm lòng chân
thật nghĩa tình, thì đến đây người cha nói “thương lắm con ơi”– bởi sau từ “thương” đó là
niềm thương cảm với bao nỗi vất vả, gian khó của con người quê hương, người cha biểu lộ
tình cảm yêu thương chân thành về gian truân, thử thách cùng ý chí mà người đồng mình đã
trải qua.
- Bằng cách tư duy độc đáo của người miền núi, Y Phương đã lấy cái cao vời vợi của trời để
đo nỗi buồn, lấy cái xa của đất để đo ý chí con người. - Sắp xếp tính từ “cao”, “xa” trong sự
tăng tiến, nhà thơ cho thấy khó khăn, thử thách càng lớn thì ý chí con người càng mạnh mẽ.
Chốt ý luận cứ: Có thể nói, cuộc sống của người đồng mình còn nhiều nỗi buồn, còn nhiều
bộn bề thiếu thốn song họ sẽ vượt qua tất cả, bởi họ có ý chí và nghị lực, họ luôn tin tưởng
vào tương lai tốt đẹp của dân tộc.
Luận cứ 2: Không chỉ vậy, điều đáng quý, đáng trân trọng là người đồng mình dù sống
trong nghèo khổ, gian nan nhưng vẫn thuỷ chung gắn bó với quê hương, cội nguồn:
“Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
... Không lo cực nhọc.”
- Phép liệt kê với những hình ảnh ẩn dụ “đá gập gềnh”, “thung nghèo đói” kết hợp thành ngữ
dân gian “Lên thác xuống ghềnh” gợi cuộc sống đói nghèo, khó khăn, cực nhọc của những
người đồng mình.
- Những câu thơ dài ngắn, cùng những thanh trắc tạo ấn tượng về cuộc sống trắc trở, gian
nan, đói nghèo của quê hương.
- Điệp ngữ “sống”, “không chê” và điệp cấu trúc câu cùng hình ảnh đối xứng đã nhấn mạnh:
người đồng mình có thể nghèo nàn, thiếu thốn về vật chất nhưng họ không thiếu ý chí và
quyết tâm. Người đồng mình chấp nhận và thủy chung gắn bó cùng quê hương, dẫu quê
hương có đói nghèo, vất vả. Và phải chăng, chính cuộc sống nhọc nhằn, đầy vất vả khổ đau
ấy đã tôi luyện cho chí lớn để rồi tình yêu quê hương sẽ tạo nên sức mạnh giúp họ vượt qua
tất cả.
- Phép so sánh “Sống như sông như suối” gợi vẻ đẹp tâm hồn và ý chí của người đồng mình.
Gian khó là thế, họ vẫn tràn đầy sinh lực, tâm hồn lãng mạn, khoáng đạt như hình ảnh đại
ngàn của sông núi. Tình cảm của họ trong trẻo, dạt dào như dòng suối, con sông trước niềm
tin yêu cuộc sống, tin yêu con người.
Luận cứ 3: Một nét đẹp nữa đáng trân trọng của người đồng mình là tầm vóc lớn lao, ý
thức tự lập, tự cường và tinh thần tự tôn dân tộc khiến ta trân trọng, cảm phục:
“Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục”
- Phẩm chất của người của con người quê hương còn được người cha ca ngợi qua cách nói
đối lập tương phản giữa hình thức bên ngoài và giá trị tinh thần bên trong, nhưng rất đúng
với người miền núi:
“Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con”
+ Lời thơ mộc mạc, giản dị nhưng chứa bao tâm tình.
+ Cụm từ “thô sơ da thịt” là cách nói bằng hình ảnh cụ thể của bà con dân tộc Tày, ngợi
ca những con người mộc mạc, giản dị, chất phác, thật thà, chịu thương, chịu khó.
+ Cụm từ “chẳng nhỏ bé” khẳng định sự lớn lao của ý chí, của nghị lực, cốt cách và niềm tin.
→ Sự tương phản này đã tôn lên tầm vóc của người đồng mình. Họ mộc mạc nhưng giàu
chí khí, niềm tin. Họ có thể “thô sơ da thịt” nhưng không hề nhỏ bé về tâm hồn, về ý chí.
- Cùng với ý thức tự lực, tự cường, người đồng mình còn ngời sáng tinh thần tự tôn dân tộc
và khát vọng xây dựng quê hương:
“Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục”
+ Lối nói của Y Phương đậm ngôn ngữ dân tộc – độc đáo mà vẫn chứa đựng ý vị sâu xa.
+ Hình ảnh “Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương” vừa mang tính tả thực (chỉ
truyền thống làm nhà kê đá cho cao của người miền núi), vừa mang ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc:
Người đồng mình bằng chính bàn tay và khối óc, bằng sức lao động đã xây dựng và làm đẹp
giàu cho quê hương, xây dựng để nâng tầm quê hương. Còn quê hương là điểm tựa tinh
thần với phong tục tập quán nâng đỡ những con người có chí khí và niềm tin.
→ Câu thơ đã khái quát về tinh thần tự tôn dân tộc, về ý thức bảo vệ nguồn cội, bảo tồn
những truyền thống quê hương tốt đẹp của người đồng mình.
Luận điểm 3: Khép lại bài thơ, người cha gửi tới đứa con yêu lời nhắn ngủ trìu mến, chứa
chan biết bao niềm tin yêu, hy vọng khiến ta xúc động (trân trọng).
“Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con.”
- Giọng thơ vừa tha thiết, trìu mén lại vữa rắn rỏi mạnh mẽ như một mệnh lệnh thể hiện
mong ước chân thành của người cha. Con là con của cha, con mang tâm hồn cốt cách của
người đồng mình, con được nuôi dưỡng từ mảnh đất quê hương, gian khó mà nghĩa tình nên
con phải ngẩng cao đầu để sống phải làm nên những điều lớn lao, phải cuộc sống ý chí để
xứng đáng với cội nguồn.
- Cha nhắc con không bao giờ được sống tầm thường nhỏ bé, có thể mộc mạc chân chất về
da thịt nhưng không được nhỏ bé về tâm hồn, khí phách. Nói cách khác người cha mong con
khí phách, ý chí vươn lên trong cuộc sống tự tin và vững bước trên đường đời, tự hào về
truyền thống quê hương, không được đánh mất bản sắc văn hóa quê mình.
- Từ đó người cha muốn truyền cho con lòng tự hào về cội nguồn sinh dưỡng sức sống mạnh
mẽ bến bỉ và truyền thống văn hóa tốt đẹp của quê hương; truyền cho con kinh nghiệm sống
– tự tin, can đảm có ý chí khi bước vào đời. Lời dặn của cha thô mộc dễ hiểu chan chứa niềm
hi vọng lớn lao của cha, hi vọng đứa con vững bước trên đường đời, tiếp nối truyền thống và
làm vẻ vang quê hương.
Luận điểm 4: Đánh giá
- Nghệ thuật: Bằng thể thơ tự do ít vần, giọng thơ khi tha thiết tâm tình, khi rắn rỏi mạnh mẽ,
hình ảnh chân thực, cụ thể, mang đậm tư duy miền núi, ngôn ngữ bình dị mà giàu sức gợi,...
- Nội dung:
+ Đoạn thơ đã giúp người đọc cảm nhận được trọn vẹn những phẩm chất đẹp đẽ của người
đồng mình. Người đồng minh là những người giàu ý chí nghị lực và niềm tin, luôn thủy chung
tình nghĩa, phóng khoáng lãng mạn.
+ Từ đó người cha muốn nhắc nhở mỗi người hãy sống xứng đáng với quê hương, không
được đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc, không được đánh mất ý chí vươn lên trong cuộc
sống…
- Thái độ của tác giả: Và đằng sau những vần thơ ấy, ta nhận ra tình yêu, niềm tự hào và sự
gắn bó sâu nặng và tình yêu thương sâu sắc của nhà thơ. Tình cảm ấy thật đáng trân trọng.
C. KẾT BÀI
VD1:
- Khổ thơ cuối/Đoạn thơ trên
đã góp phần làm nên sức
sống của bài thơ “Nói với
con”. - Gấp trang sách lại
rồi/Đã bao năm tháng trôi
qua nhưng những tâm sự
của người cha về vẻ đẹp của
người đồng mình và những
lời dặn dò chan chứa yêu
thương vẫn đọng mãi trong
lòng ta bao niềm trân trọng
xúc động.
VD2:
- Gần nửa thế kỉ trôi qua
nhưng những lời tâm sự của
người cha với con về phẩm
chất cao đẹp của người đồng
mình ở khổ thơ thứ hai/
đoạn thơ trên vẫn khiến ta
không thể nào quên.
- Y Phương đã để lại cho thơ
ca Việt Nam một thi phẩm
xuất sắc về đề tài tình phụ tử.
Có lẽ vì vậy mà khổ thơ thứ
hai/đoạn thơ trên nói riêng
VD3:
- Quả thực “Nói với con” của
Y Phương là một bài thơ độc
đáo. Tác phẩm ấy và nhất là
khổ thơ cuối đã khơi gợi
trong lòng người đọc không
ít những tình cảm đẹp. Nó
khiến ta càng thêm cảm phục
trước tài năng thơ của Y
Phương, càng thêm trân
trọng hơn tình cảm gia đình
– thứ tình cảm thiêng liêng
cao đẹp nhất.
và bài thơ “Nói với con” nói - Từ những lời cha nói với
chung luôn hấp dẫn trái tim con, bài thơ đã nhắc nhở mỗi
bạn đọc bao thế hệ.
chúng ta về trách nhiệm của
bản thân với gia đình, với
quê hương đất nước. Và có
lẽ chính vì thế mà sau bao
thăng trầm của lịch sử, “Nói
với con” của Y Phương vẫn
còn mãi trong lòng bạn đọc
bao thế hệ.
__________ HẾT __________
 









Các ý kiến mới nhất