tieng viet 4

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: La Trang
Ngày gửi: 18h:02' 23-12-2023
Dung lượng: 500.5 KB
Số lượt tải: 479
Nguồn:
Người gửi: La Trang
Ngày gửi: 18h:02' 23-12-2023
Dung lượng: 500.5 KB
Số lượt tải: 479
Số lượt thích:
0 người
TRƯỜNG TH NGÔ QUANG BÍCH
Họ và tên:...............................................
Lớp: 4......
Điểm
BÀI KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ I
MÔN: TIẾNG VIỆT – LỚP 4
Năm học: 2023 – 2024
Thời gian: 70 phút
Nhận xét của giáo viên
…………………………………………………………………….
…………………………………………………………………….
…………………………………………………………………….
ĐỀ BÀI
A. Kiểm tra đọc hiểu (10 điểm)
I. Đọc thành tiếng: (3 điểm) Bốc thăm đọc và trả lời câu hỏi:
- HS lên bảng bốc thăm bài đọc và trả lời câu hỏi
II. Kiểm tra đọc hiểu – Luyện từ và câu (7,0 điểm)
Đọc thầm văn bản sau:
MỘT ƯỚC MƠ
Hồi nhỏ, tôi rất thích đi học và tất cả những gì thuộc về nó: lớp học, bảng đen,
sách vở, những người bạn, tiếng giảng bài của thầy cô,... Và luôn ao ước sẽ có một
ngày, tôi tự hào giương cao tấm bằng tốt nghiệp trong niềm vui sướng và ánh mắt
mừng vui của mọi người. Nhưng tôi là con một gia đình nghèo, đông anh em. Tôi
phải quyết định nghỉ học và xin làm việc trong một tiệm bánh. Từ đó ước mơ của
tôi cũng lụi tàn dần. Lớn lên, như bao người phụ nữ khác, tôi lấy chồng, sinh con.
Tôi quyết tâm không để các con mình thất học, phải sống khổ sở như tôi. Và hai
vợ chồng tôi đã làm việc cật lực để nuôi dạy các con thành tài. Duy chỉ có cô con
gái út Lin-đa là có vấn đề. Lin-đa từ nhỏ đã ốm yếu, khó nuôi, nên ít có trường nào
nhận dạy bé lâu dài. Không đành lòng nhìn con đi theo vết xe đổ của mình, tôi bắt
đầu hỏi thăm và tìm hiểu.
Cuối cùng, tôi cũng kiếm được trường, đăng kí không chỉ cho Lin-đa mà còn
cho cả tôi cùng học nữa. Tôi muốn ở bên cạnh con, giúp đỡ nó và sâu xa hơn là tiếp
tục thực hiện giấc mơ của mình. Thật là thú vị khi lại được đến trường. Nhưng
cũng không dễ dàng chút nào khi ở tuổi 58, tôi phải vừa làm công việc nhà, vật với
những con số. Hai mẹ con tôi luôn động viên, an ủi và giúp đỡ nhau trong học
tập. Cứ thế cho đến ngày chúng tôi tốt nghiệp. Thật không ngờ, đến cuối đời, tôi
mới được sống cho mình, cho hạnh phúc và ước mơ của mình. Có lẽ hơi trễ một
chút nhưng tôi nhận ra một điều: đừng bao giờ chôn vùi những ước mơ! Hãy
vững tin rằng, một ngày mai ta sẽ biến chúng thành hiện thực.
(Đặng Thị Hòa)
Khoanh tròn vào chữ cái trước ý trả lời đúng trong các câu sau: (1;2;4)
Câu 1( Mức 1- 0,5 điểm) Tác giả của câu chuyện đã có ước mơ gì?
A. Được làm cô giáo
B. Được khen học giỏi.
C. Rất thích đi học.
Câu 2. (Mức 1- 0,5 điểm) Vì sao tác giả lại không được đến trường như bao
bạn khác?
A. Vì tác giả học không bằng các bạn
B. Vì nhà tác giả nghèo, đông anh em.
C. Vì nhà tác giả nhiều người không đi học.
Câu 3.(Mức 1- 0,5 điểm) Đánh dấu x vào ô trống trước câu trả lời đúng.
Vì sao tác giả lại đi học cùng con gái mình?
Vì tác giả muốn ở bên cạnh con, giúp đỡ con trong quá trình học tập.
Vì tác giả muốn tiếp tục thực hiện ước mơ được đi học của mình.
Vì tác giả là người nuông chiều con cái, và con gái hay ốm đau, bệnh tật.
Câu 4. (Mức 2- 0,5 điểm) Câu chuyện muốn nói với em điều gì?
A. Chỉ cần quyết tâm và nỗ lực thì ta sẽ đạt được điều ta mơ ước.
B. Hãy mơ mộng một chút cho cuộc đời thêm tươi đẹp.
C. Luôn nghĩ về quá khứ khi còn đi học để cuộc đời tươi đẹp
Câu 5.(Mức 3- 1,0 điểm) Ước mơ của em là gì? Để thực hiện những ước mơ đó,
em cần phải làm gì?
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
Câu 6. (Mức 1 - 1,0 điểm) Xếp các từ in đậm trong đoạn văn sau vào đúng
bảng dưới đây:
Nhiều người vẫn nghĩ loài cây bao báp kì diệu chỉ có ở Châu Phi. Nhưng thực
ra tại châu lục đen chỉ có duy nhất một loài bao báp. Còn trên đảo Ma-đa-gaxca ở Ấn Độ Dương có tới tận bảy loài. Một loài trong số đó còn được trồng
thành đồn điền, vì từ hạt của nó có thể chế được loại bơ rất ngon và bổ dưỡng.
Danh từ chung
Danh từ riêng
………………………………………
……………………………………………
………………………………………
……………………………………………
Câu 7.(Mức 1 – 0,5 điểm) Nối câu tục ngữ thích hợp ở bên A với lời khuyên, lời chê ở bên
B:
A
B
a) Ở hiền gặp lành.
1) Chê những người xấu tính, hay ghen
tị khi thấy người khác hạnh phúc, may
mắn.
b) Trâu buộc ghét trâu ăn.
2) Khuyên con người sống nhân hậu,
hiền lành thì sẽ gặp điều tốt đẹp.
Câu 8.(Mức 2 - 1,0 điểm) Viết hoa tên cơ quan, tổ chức cho đúng.
a. Sở giáo dục và đào tạo tỉnh hà giang.
……………………………………………………………………………………...
b. Nhà máy Thuỷ điện thác bà yên bái.
…..…………………………………………………………………………….…….
Câu 9.(Mức 3 - 1,5 điểm) Viết 2 – 3 câu có danh từ, động từ nói về trường,
lớp của em
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
B. Kiểm tra viết: (10 điểm)
Bài 1( 2 điểm). Sắp xếp các ý theo thứ tự trình bày đơn đúng quy định:
Chữ kí và họ tên người viết đơn
Nội dung đơn( Giới tiệu bản thân, lí do viết đơn, lời hứa, lời cảm ơn)
Nơi nhận đơn
Tên đơn
Địa điểm, thời gian viết đơn
Quốc hiệu, tiêu ngữ
Bài 2( 8 điểm) : Em hãy viết một bài văn miêu tả một con vật nuôi (trong nhà
em hoặc nhà hàng xóm mà em có dịp quan sát).
HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN TIẾNG VIỆT - LỚP 4
NĂM HỌC 2023 – 2024
A.Kiểm tra đọc hiểu(10 điểm)
I. Kiểm tra đọc thành tiếng : 3,0 điểm
Giáo viên cho học sinh bốc thăm và đọc một đoạn văn từ 90-100 tiếng, trả
lời một câu hỏi do giáo viên đưa ra.
Cách đánh giá, cho điểm:
- Đọc vừa đủ nghe, rõ ràng, tốc độ đọc đạt khoảng 90 tiếng/ phút, giọng đọc
có biểu cảm: 1,0 điểm.
- Đọc đúng tiếng, từ, ngắt nghỉ hơi đúng ở các dấu câu, các cụm từ rõ nghĩa
(đọc sai không quá 5 tiếng): 1,0 điểm.
- Nghe hiểu và trả lời đúng câu hỏi về nội dung đoạn đọc: 1,0 điểm.
Lưu ý: Giáo viên tùy theo mức độ cho điểm phù hợp.
CÂU HỎI:
BÀI 1: Câu hỏi: Cậu bé Rô-be làm nghề gì? (Làm nghề bán diêm.)
BÀI 2: Câu hỏi: Tìm những chi tiết miêu tả ngoại hình của Rô-be? (chừng mười
hai, mười ba tuổi ăn mặc tồi tàn, rách rưới, mặt mũi gầy gò, xanh xao…)
BÀI 3: Câu hỏi: Khi ngồi trên bãi biển, gia đình nọ đã nhìn thấy điều gì lạ?
(Một cụ già đang lẩm bẩm, dáo dác nhìn rồi thỉnh thoảng lại cúi xuống nhặt những)
BÀI 4: Câu hỏi: Những chi tiết nào mô tả thái độ coi thường, e ngại của gia đình
đó đối với bà cụ ? (Vội chạy ra gọi các con lại, căn dặn chúng phải tránh xa; cố ý
nói to để bà cụ nghe thấy mà đi chỗ khác kiếm ăn.)
BÀI 5: Câu hỏi: Em có suy nghĩ gì về việc làm của bà cụ ?(Việc làm của bà cụ rất
đáng được trả công.)
BÀI 6: Câu hỏi: Không gian trong ngôi nhà của bà khi Thanh trở về như thế nào ?
(Yên lặng)
BÀI 7: Câu hỏi: Vì sao Thanh đã khôn lớn rồi mà vẫn “cảm thấy chính bà che chở
cho mình cũng như những ngày còn nhỏ”?
BÀI 8: Câu hỏi: Vì sao chị Sứ lại yêu quê hương sâu nặng đến vậy?(Vì quê hương
là nơi chị đã sinh ra và lớn lên, nơi đã gắn bó rất nhiều kỉ niệm đầy ý nghĩa.)
BÀI 9: Câu hỏi: Vì sao chị Sứ lại yêu quê hương sâu nặng đến vậy?(Vì quê hương
là nơi chị đã sinh ra và lớn lên, nơi đã gắn bó rất nhiều kỉ niệm đầy ý nghĩa.)
BÀI 10: Câu hỏi: Tìm những chi tiết nói lên quyết tâm bảo vệ đất nước của ba
nàng công chúa ?( Ba nàng công chúa cùng nhau đến xin vua cha cho ra trận)
II. Kiểm tra đọc hiểu - Luyện từ và câu: 7,0 điểm
Câu
1
2
4
Đáp án
C
B
A
Số điểm
0,5
0,5
0,5
Câu 3. (0,5 điểm)Mỗi ý đúng được 0, 25 điểm
X Vì tác giả muốn ở bên cạnh con, giúp đỡ con trong quá trình học tập.
X Vì tác giả muốn tiếp tục thực hiện ước mơ được đi học của mình.
Câu 5: (1,0 điểm) Ước mơ của em là gì? Để thực hiện những ước mơ đó, em
cần phải làm gì?
-Viết được tên ước mơ (0,5 điểm)
- Viết được những việc cần phải làm để hiện thực hiện ước mơ đó (0,5 điểm)
Câu 6: (1,0 điểm). Xếp các từ in đậm trong đoạn văn vào đúng bảng
Danh từ chung
người, châu lục, đồn điền, bao báp
Danh từ riêng
Châu Phi, Ma-đa-ga-xca, Ấn Độ
Dương.
Câu 7: (1 điểm)Mỗi ý nối đúng được 0,5 điểm
A
B
a) Ở hiền gặp lành.
1) Chê những người xấu tính, hay
ghen tị khi thấy người khác hạnh
phúc, may mắn.
b) Trâu buộc ghét trâu ăn.
2) Khuyên con người sống nhân hậu,
hiền lành thì sẽ gặp điều tốt đẹp.
Câu 8. (1,0 điểm). Viết hoa đúng tên cơ quan, tổ chức mỗi ý được 0,5 điểm
a. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hà Giang.
b. Nhà máy Thuỷ điện Thác Bà Yên Bái.
Câu 9: (1,5 điểm)Viết được 2 – 3 câu có danh từ, động từ nói về trường, lớp
của em đúng chính tả được 1 điểm.
VD: Em đang học tại lớp 4A trường Tiểu học Ngô quang Bích. Trường em
nằm ở trung tâm xã Tiên Lương thuộc khu Bảy Mươi. Các thầy cô giáo ở trường
dạy chúng em rất nhiều điều hay.
B. Kiểm tra viết: (10 điểm)
Bài 1( 2 điểm). Sắp xếp các ý theo thứ tự trình bày đơn đúng quy định:
6 Chữ kí và họ tên người viết đơn
4
Nội dung đơn( Giới tiệu bản thân, lí do viết đơn, lời hứa, lời cảm ơn)
3
Nơi nhận đơn
2
Tên đơn
5
Địa điểm, thời gian viết đơn
1
Quốc hiệu, tiêu ngữ
Bài 2( 8 điểm) : Em hãy viết một bài văn miêu tả một con vật nuôi (trong nhà
em hoặc nhà hàng xóm mà em có dịp quan sát).
Bài văn đảm bảo các yêu cầu như sau:
- Trình bày dưới dạng một bài văn ngắn, có số lượng câu khoảng 15 câu trở
lên ( 1 điểm)
- Bài viết đúng dạng văn kể chuyện đủ 3 phần: Mở bài – Thân bài – Kết bài.
Bài viết đảm bảo đúng ngữ pháp, biết dùng từ, không mắc lỗi chính tả, chữ viết
sạch đẹp (7 điểm). Cụ thể:
Mở bài: Giới thiệu được con vật cần tả ( Có thể giới thiệu trực tiếp hoặc gián
tiếp) (1,5 điểm )
Thân bài: Phần miêu tả tập trung vào 2 mảng chính là ngoại hình và hoạt
động, ích lợi của con vật nuôi. Câu văn có sử dụng hình ảnh nhân hoá, so sánh phù
hợp, sinh động, gần gũi, thân thuộc với cuộc sống hàng ngày.(4 điểm)
Kết bài: Nêu được cảm xúc, suy nghĩ nhận xét của mình về con vật. (1,5
điểm)
Các mức điểm khác tùy mức độ sai sót GV cho điểm cho phù hợp.(Tuỳ theo
mức độ sai sót về ý, diễn đạt , chữ viết và lỗi chính tả của học sinh.
PHIẾU BÀI ĐỌC
Bài số 1: ĐỒNG TIỀN VÀNG
Một hôm vừa bước ra khỏi nhà, tôi gặp một cậu bé chừng mười hai, mười ba
tuổi ăn mặc tồi tàn, rách rưới, mặt mũi gầy gò, xanh xao, chìa những bao diêm
khẩn khoản nhờ tôi mua giúp. Tôi mở ví tiền ra và chép miệng:
- Rất tiếc là tôi không có xu lẻ.
- Không sao ạ. Ông cứ đưa cho cháu một đồng tiền vàng. Cháu chạy đến
hiệu buôn đổi rồi quay lại trả ông ngay.
Tôi nhìn cậu bé và lưỡng lự:
- Thật chứ?
- Thưa ông, cháu không phải là một đứa bé xấu.
Bài số 2: ĐỒNG TIỀN VÀNG
Nét mặt của cậu bé cương trực và tự hào tới mức tôi tin và giao cho cậu một
đồng tiền vàng.
Vài giờ sau, trở về nhà, tôi ngạc nhiên thấy cậu bé đang đợi mình, diện mạo
rất giống cậu bé nợ tiền tôi, nhưng nhỏ hơn vài tuổi, gầy gò, xanh xao hơn và
thoáng một nỗi buồn:
- Thưa ông, có phải ông vừa đưa cho anh Rô-be cháu một đồng tiền vàng
không ạ?
Tôi khẽ gật đầu. Cậu bé tiếp:
- Thưa ông, đây là tiền thừa của ông. Anh Rô-be sai cháu mang đến. Anh
cháu không thể mang trả ông được vì anh ấy đã bị xe tông, gãy chân, đang phải
nằm ở nhà.
Tim tôi se lại. Tôi đã thấy một tâm hồn đẹp trong cậu bé nghèo.
Bài số 3: MỘT VIỆC NHỎ THÔI
Một gia đình gồm hai vợ chồng và bốn đứa con nhỏ đi nghỉ mát ở một bãi
biển vào dịp hè. Bọn trẻ rất thích tắm biển và xây những toà lâu đài trên cát. Bố
mẹ chúng thuê một cái lều ngồi uống nước trên bờ, dõi nhìn các con vui đùa. Thế
rồi, họ trông thấy một bà cụ nhỏ nhắn ăn mặc xuềnh xoàng, trên tay cầm một
chiếc túi cũ đang tiến lại. Tóc bà đã bạc trắng, bị gió biển thổi tốc lên càng làm
cho khuôn mặt nhăn nheo của bà thêm khó coi. Bà cụ lẩm bẩm, dáo dác nhìn rồi
thỉnh thoảng lại cúi xuống nhặt những thứ gì đó trên bãi biển, bỏ vào cái túi.
Bài số 4: MỘT VIỆC NHỎ THÔI
Hai vợ chồng không hẹn mà cùng vội chạy ra gọi các con lại, căn dặn
chúng phải tránh xa người đàn bà khả nghi kia. Dường như họ cố ý nói to cho bà
nghe thấy để bà đi chỗ khác kiếm ăn.
Cụ già không biết có nghe thấy gì không giữa tiếng sóng biển ì ầm, chỉ thấy
bà cứ từ từ tiến về phía họ. Thế rồi bà cụ dừng lại nhìn mấy đứa trẻ dễ thương
đang ngơ ngác nhìn mình. Bà mỉm cười với họ nhưng không ai đáp lại mà giả vờ
ngó lơ đi chỗ khác. Bà cụ lại lẳng lặng làm tiếp công việc khó hiểu của mình. Còn
cả gia đình kia thì chẳng hứng thú tắm biển nữa, họ kéo nhau lên quán nước phía
trên bãi biển.
Bài số 5: MỘT VIỆC NHỎ THÔI
Thương cháu đến ngẩn ngơ, từ dạo ấy, bà cứ lặng lẽ đi dọc bãi biển, tìm
nhặt những mảnh chai, mảnh sắt hoặc hòn đá có cạnh sắc. Mọi người hỏi lí do thì
bà cụ đáp mà đôi mắt ướt nhòe : “Ô, tôi chỉ làm một việc nhỏ thôi ấy mà, để các
cháu bé có thể vui chơi trên bãi biển mà không bao giờ bị chết như đứa cháu đáng
thương của tôi”.
Nghe xong câu chuyện, người chồng vội chạy ngay xuống bãi biển mong có thể
nói một lời xin lỗi và một lời biết ơn chân thành, nhưng bà cụ đã đi xa rồi. Bóng
bà chỉ còn là một chấm nhỏ trên bãi biển vắng người khi chiều đang xuống…
Bài số 6: VỀ THĂM BÀ
Thanh bước lên thềm, nhìn vào trong nhà. Cảnh tượng gian nhà cũ không có
gì thay đổi. Sự yên lặng làm Thanh mãi mới cất được tiếng gọi khẽ :
- Bà ơi !
Thanh bước xuống dưới giàn thiên lý. Có tiếng người đi, rồi bà, mái tóc bạc
phơ, chống gậy trúc ở ngoài vườn vào. Thanh cảm động và mừng rỡ, chạy lại gần.
- Cháu đã về đấy ư ?
Bà ngừng nhai trầu, đôi mắt hiền từ dưới làn tóc trắng nhìn cháu, âu yếm và
mến thương :
- Đi vào trong nhà kẻo nắng, cháu !
Thanh đi, người thẳng, mạnh, cạnh bà lưng đã còng. Tuy vậy, Thanh cảm
thấy chính bà che chở cho mình cũng như những ngày còn nhỏ.
Bài số 7: VỀ THĂM BÀ
- Cháu đã ăn cơm chưa ?
- Dạ chưa. Cháu xuống tàu về đây ngay. Nhưng cháu không thấy đói.
Bà nhìn cháu, giục :
- Cháu rửa mặt đi, rồi nghỉ kẻo mệt !
Thanh đến bên bể múc nước vào thau rửa mặt. Nước mát rượi và Thanh
cúi nhìn bóng mình trong lòng bể với những mảnh trời xanh.
Lần nào trở về với bà, Thanh cũng thấy thanh thản và bình yên như thế.
Căn nhà, thửa vườn này như một nơi mát mẻ và hiền lành. Ở đấy, lúc nào bà
cũng sẵn sàng chờ đợi để mến yêu Thanh.
Bài số 8: QUÊ HƯƠNG
Chị Sứ yêu biết bao nhiêu cái chốn này, nơi chị oa oa cất tiếng khóc đầu
tiên, nơi quả ngọt, trái sai đã thấm hồng da dẻ chị. Chính tại nơi này, mẹ chị đã
hát ru chị ngủ. Và đến lúc làm mẹ, chị lại hát ru con những câu hát ngày xưa...
Chị Sứ yêu Hòn Đất bằng cái tình yêu hầu như là máu thịt. Chị thương
ngôi nhà sàn lâu năm có cái bậc thang, nơi mà bất cứ lúc nào đứng đó, chị cũng
có thể nhìn thấy sóng biển, thấy xóm nhà xen lẫn trong vườn cây, thấy ruộng
đồng, thấy núi Ba Thê vòi vọi xanh lam cứ mỗi buổi hoàng hôn lại hiện trắng
những cánh cò.
Bài số 9: QUÊ HƯƠNG
Ánh nắng lên tới bờ cát, lướt qua những thân tre nghiêng nghiêng, vàng
óng. Nắng đã chiếu sáng lóa cửa biển. Xóm lưới cũng ngập trong nắng đó. Sứ
nhìn những làn khói bay lên từ các mái nhà chen chúc của bà con làng biển. Sứ
còn thấy rõ những vạt lưới đen ngăm, trùi trũi.
Nắng sớm đẫm chiếu người Sứ. Ánh nắng chiếu vào đôi mắt chị, tắm
mượt mái tóc, phủ đầy đôi bờ vai tròn trịa của chị.
Bài số 10: Ba nàng công chúa
Vua San-ta có ba nàng công chúa rất xinh đẹp và giỏi giang. Năm ấy, đất
nước có giặc ngoại xâm mà vua tuổi đã cao, sức đã yếu. Ba nàng công chúa cùng
nhau đến xin vua cha cho ra trận nhưng đức vua dứt khoát, bảo:
- Các con mảnh mai như thế thì làm được gì nào?
Họ và tên:...............................................
Lớp: 4......
Điểm
BÀI KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ I
MÔN: TIẾNG VIỆT – LỚP 4
Năm học: 2023 – 2024
Thời gian: 70 phút
Nhận xét của giáo viên
…………………………………………………………………….
…………………………………………………………………….
…………………………………………………………………….
ĐỀ BÀI
A. Kiểm tra đọc hiểu (10 điểm)
I. Đọc thành tiếng: (3 điểm) Bốc thăm đọc và trả lời câu hỏi:
- HS lên bảng bốc thăm bài đọc và trả lời câu hỏi
II. Kiểm tra đọc hiểu – Luyện từ và câu (7,0 điểm)
Đọc thầm văn bản sau:
MỘT ƯỚC MƠ
Hồi nhỏ, tôi rất thích đi học và tất cả những gì thuộc về nó: lớp học, bảng đen,
sách vở, những người bạn, tiếng giảng bài của thầy cô,... Và luôn ao ước sẽ có một
ngày, tôi tự hào giương cao tấm bằng tốt nghiệp trong niềm vui sướng và ánh mắt
mừng vui của mọi người. Nhưng tôi là con một gia đình nghèo, đông anh em. Tôi
phải quyết định nghỉ học và xin làm việc trong một tiệm bánh. Từ đó ước mơ của
tôi cũng lụi tàn dần. Lớn lên, như bao người phụ nữ khác, tôi lấy chồng, sinh con.
Tôi quyết tâm không để các con mình thất học, phải sống khổ sở như tôi. Và hai
vợ chồng tôi đã làm việc cật lực để nuôi dạy các con thành tài. Duy chỉ có cô con
gái út Lin-đa là có vấn đề. Lin-đa từ nhỏ đã ốm yếu, khó nuôi, nên ít có trường nào
nhận dạy bé lâu dài. Không đành lòng nhìn con đi theo vết xe đổ của mình, tôi bắt
đầu hỏi thăm và tìm hiểu.
Cuối cùng, tôi cũng kiếm được trường, đăng kí không chỉ cho Lin-đa mà còn
cho cả tôi cùng học nữa. Tôi muốn ở bên cạnh con, giúp đỡ nó và sâu xa hơn là tiếp
tục thực hiện giấc mơ của mình. Thật là thú vị khi lại được đến trường. Nhưng
cũng không dễ dàng chút nào khi ở tuổi 58, tôi phải vừa làm công việc nhà, vật với
những con số. Hai mẹ con tôi luôn động viên, an ủi và giúp đỡ nhau trong học
tập. Cứ thế cho đến ngày chúng tôi tốt nghiệp. Thật không ngờ, đến cuối đời, tôi
mới được sống cho mình, cho hạnh phúc và ước mơ của mình. Có lẽ hơi trễ một
chút nhưng tôi nhận ra một điều: đừng bao giờ chôn vùi những ước mơ! Hãy
vững tin rằng, một ngày mai ta sẽ biến chúng thành hiện thực.
(Đặng Thị Hòa)
Khoanh tròn vào chữ cái trước ý trả lời đúng trong các câu sau: (1;2;4)
Câu 1( Mức 1- 0,5 điểm) Tác giả của câu chuyện đã có ước mơ gì?
A. Được làm cô giáo
B. Được khen học giỏi.
C. Rất thích đi học.
Câu 2. (Mức 1- 0,5 điểm) Vì sao tác giả lại không được đến trường như bao
bạn khác?
A. Vì tác giả học không bằng các bạn
B. Vì nhà tác giả nghèo, đông anh em.
C. Vì nhà tác giả nhiều người không đi học.
Câu 3.(Mức 1- 0,5 điểm) Đánh dấu x vào ô trống trước câu trả lời đúng.
Vì sao tác giả lại đi học cùng con gái mình?
Vì tác giả muốn ở bên cạnh con, giúp đỡ con trong quá trình học tập.
Vì tác giả muốn tiếp tục thực hiện ước mơ được đi học của mình.
Vì tác giả là người nuông chiều con cái, và con gái hay ốm đau, bệnh tật.
Câu 4. (Mức 2- 0,5 điểm) Câu chuyện muốn nói với em điều gì?
A. Chỉ cần quyết tâm và nỗ lực thì ta sẽ đạt được điều ta mơ ước.
B. Hãy mơ mộng một chút cho cuộc đời thêm tươi đẹp.
C. Luôn nghĩ về quá khứ khi còn đi học để cuộc đời tươi đẹp
Câu 5.(Mức 3- 1,0 điểm) Ước mơ của em là gì? Để thực hiện những ước mơ đó,
em cần phải làm gì?
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
Câu 6. (Mức 1 - 1,0 điểm) Xếp các từ in đậm trong đoạn văn sau vào đúng
bảng dưới đây:
Nhiều người vẫn nghĩ loài cây bao báp kì diệu chỉ có ở Châu Phi. Nhưng thực
ra tại châu lục đen chỉ có duy nhất một loài bao báp. Còn trên đảo Ma-đa-gaxca ở Ấn Độ Dương có tới tận bảy loài. Một loài trong số đó còn được trồng
thành đồn điền, vì từ hạt của nó có thể chế được loại bơ rất ngon và bổ dưỡng.
Danh từ chung
Danh từ riêng
………………………………………
……………………………………………
………………………………………
……………………………………………
Câu 7.(Mức 1 – 0,5 điểm) Nối câu tục ngữ thích hợp ở bên A với lời khuyên, lời chê ở bên
B:
A
B
a) Ở hiền gặp lành.
1) Chê những người xấu tính, hay ghen
tị khi thấy người khác hạnh phúc, may
mắn.
b) Trâu buộc ghét trâu ăn.
2) Khuyên con người sống nhân hậu,
hiền lành thì sẽ gặp điều tốt đẹp.
Câu 8.(Mức 2 - 1,0 điểm) Viết hoa tên cơ quan, tổ chức cho đúng.
a. Sở giáo dục và đào tạo tỉnh hà giang.
……………………………………………………………………………………...
b. Nhà máy Thuỷ điện thác bà yên bái.
…..…………………………………………………………………………….…….
Câu 9.(Mức 3 - 1,5 điểm) Viết 2 – 3 câu có danh từ, động từ nói về trường,
lớp của em
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
B. Kiểm tra viết: (10 điểm)
Bài 1( 2 điểm). Sắp xếp các ý theo thứ tự trình bày đơn đúng quy định:
Chữ kí và họ tên người viết đơn
Nội dung đơn( Giới tiệu bản thân, lí do viết đơn, lời hứa, lời cảm ơn)
Nơi nhận đơn
Tên đơn
Địa điểm, thời gian viết đơn
Quốc hiệu, tiêu ngữ
Bài 2( 8 điểm) : Em hãy viết một bài văn miêu tả một con vật nuôi (trong nhà
em hoặc nhà hàng xóm mà em có dịp quan sát).
HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN TIẾNG VIỆT - LỚP 4
NĂM HỌC 2023 – 2024
A.Kiểm tra đọc hiểu(10 điểm)
I. Kiểm tra đọc thành tiếng : 3,0 điểm
Giáo viên cho học sinh bốc thăm và đọc một đoạn văn từ 90-100 tiếng, trả
lời một câu hỏi do giáo viên đưa ra.
Cách đánh giá, cho điểm:
- Đọc vừa đủ nghe, rõ ràng, tốc độ đọc đạt khoảng 90 tiếng/ phút, giọng đọc
có biểu cảm: 1,0 điểm.
- Đọc đúng tiếng, từ, ngắt nghỉ hơi đúng ở các dấu câu, các cụm từ rõ nghĩa
(đọc sai không quá 5 tiếng): 1,0 điểm.
- Nghe hiểu và trả lời đúng câu hỏi về nội dung đoạn đọc: 1,0 điểm.
Lưu ý: Giáo viên tùy theo mức độ cho điểm phù hợp.
CÂU HỎI:
BÀI 1: Câu hỏi: Cậu bé Rô-be làm nghề gì? (Làm nghề bán diêm.)
BÀI 2: Câu hỏi: Tìm những chi tiết miêu tả ngoại hình của Rô-be? (chừng mười
hai, mười ba tuổi ăn mặc tồi tàn, rách rưới, mặt mũi gầy gò, xanh xao…)
BÀI 3: Câu hỏi: Khi ngồi trên bãi biển, gia đình nọ đã nhìn thấy điều gì lạ?
(Một cụ già đang lẩm bẩm, dáo dác nhìn rồi thỉnh thoảng lại cúi xuống nhặt những)
BÀI 4: Câu hỏi: Những chi tiết nào mô tả thái độ coi thường, e ngại của gia đình
đó đối với bà cụ ? (Vội chạy ra gọi các con lại, căn dặn chúng phải tránh xa; cố ý
nói to để bà cụ nghe thấy mà đi chỗ khác kiếm ăn.)
BÀI 5: Câu hỏi: Em có suy nghĩ gì về việc làm của bà cụ ?(Việc làm của bà cụ rất
đáng được trả công.)
BÀI 6: Câu hỏi: Không gian trong ngôi nhà của bà khi Thanh trở về như thế nào ?
(Yên lặng)
BÀI 7: Câu hỏi: Vì sao Thanh đã khôn lớn rồi mà vẫn “cảm thấy chính bà che chở
cho mình cũng như những ngày còn nhỏ”?
BÀI 8: Câu hỏi: Vì sao chị Sứ lại yêu quê hương sâu nặng đến vậy?(Vì quê hương
là nơi chị đã sinh ra và lớn lên, nơi đã gắn bó rất nhiều kỉ niệm đầy ý nghĩa.)
BÀI 9: Câu hỏi: Vì sao chị Sứ lại yêu quê hương sâu nặng đến vậy?(Vì quê hương
là nơi chị đã sinh ra và lớn lên, nơi đã gắn bó rất nhiều kỉ niệm đầy ý nghĩa.)
BÀI 10: Câu hỏi: Tìm những chi tiết nói lên quyết tâm bảo vệ đất nước của ba
nàng công chúa ?( Ba nàng công chúa cùng nhau đến xin vua cha cho ra trận)
II. Kiểm tra đọc hiểu - Luyện từ và câu: 7,0 điểm
Câu
1
2
4
Đáp án
C
B
A
Số điểm
0,5
0,5
0,5
Câu 3. (0,5 điểm)Mỗi ý đúng được 0, 25 điểm
X Vì tác giả muốn ở bên cạnh con, giúp đỡ con trong quá trình học tập.
X Vì tác giả muốn tiếp tục thực hiện ước mơ được đi học của mình.
Câu 5: (1,0 điểm) Ước mơ của em là gì? Để thực hiện những ước mơ đó, em
cần phải làm gì?
-Viết được tên ước mơ (0,5 điểm)
- Viết được những việc cần phải làm để hiện thực hiện ước mơ đó (0,5 điểm)
Câu 6: (1,0 điểm). Xếp các từ in đậm trong đoạn văn vào đúng bảng
Danh từ chung
người, châu lục, đồn điền, bao báp
Danh từ riêng
Châu Phi, Ma-đa-ga-xca, Ấn Độ
Dương.
Câu 7: (1 điểm)Mỗi ý nối đúng được 0,5 điểm
A
B
a) Ở hiền gặp lành.
1) Chê những người xấu tính, hay
ghen tị khi thấy người khác hạnh
phúc, may mắn.
b) Trâu buộc ghét trâu ăn.
2) Khuyên con người sống nhân hậu,
hiền lành thì sẽ gặp điều tốt đẹp.
Câu 8. (1,0 điểm). Viết hoa đúng tên cơ quan, tổ chức mỗi ý được 0,5 điểm
a. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hà Giang.
b. Nhà máy Thuỷ điện Thác Bà Yên Bái.
Câu 9: (1,5 điểm)Viết được 2 – 3 câu có danh từ, động từ nói về trường, lớp
của em đúng chính tả được 1 điểm.
VD: Em đang học tại lớp 4A trường Tiểu học Ngô quang Bích. Trường em
nằm ở trung tâm xã Tiên Lương thuộc khu Bảy Mươi. Các thầy cô giáo ở trường
dạy chúng em rất nhiều điều hay.
B. Kiểm tra viết: (10 điểm)
Bài 1( 2 điểm). Sắp xếp các ý theo thứ tự trình bày đơn đúng quy định:
6 Chữ kí và họ tên người viết đơn
4
Nội dung đơn( Giới tiệu bản thân, lí do viết đơn, lời hứa, lời cảm ơn)
3
Nơi nhận đơn
2
Tên đơn
5
Địa điểm, thời gian viết đơn
1
Quốc hiệu, tiêu ngữ
Bài 2( 8 điểm) : Em hãy viết một bài văn miêu tả một con vật nuôi (trong nhà
em hoặc nhà hàng xóm mà em có dịp quan sát).
Bài văn đảm bảo các yêu cầu như sau:
- Trình bày dưới dạng một bài văn ngắn, có số lượng câu khoảng 15 câu trở
lên ( 1 điểm)
- Bài viết đúng dạng văn kể chuyện đủ 3 phần: Mở bài – Thân bài – Kết bài.
Bài viết đảm bảo đúng ngữ pháp, biết dùng từ, không mắc lỗi chính tả, chữ viết
sạch đẹp (7 điểm). Cụ thể:
Mở bài: Giới thiệu được con vật cần tả ( Có thể giới thiệu trực tiếp hoặc gián
tiếp) (1,5 điểm )
Thân bài: Phần miêu tả tập trung vào 2 mảng chính là ngoại hình và hoạt
động, ích lợi của con vật nuôi. Câu văn có sử dụng hình ảnh nhân hoá, so sánh phù
hợp, sinh động, gần gũi, thân thuộc với cuộc sống hàng ngày.(4 điểm)
Kết bài: Nêu được cảm xúc, suy nghĩ nhận xét của mình về con vật. (1,5
điểm)
Các mức điểm khác tùy mức độ sai sót GV cho điểm cho phù hợp.(Tuỳ theo
mức độ sai sót về ý, diễn đạt , chữ viết và lỗi chính tả của học sinh.
PHIẾU BÀI ĐỌC
Bài số 1: ĐỒNG TIỀN VÀNG
Một hôm vừa bước ra khỏi nhà, tôi gặp một cậu bé chừng mười hai, mười ba
tuổi ăn mặc tồi tàn, rách rưới, mặt mũi gầy gò, xanh xao, chìa những bao diêm
khẩn khoản nhờ tôi mua giúp. Tôi mở ví tiền ra và chép miệng:
- Rất tiếc là tôi không có xu lẻ.
- Không sao ạ. Ông cứ đưa cho cháu một đồng tiền vàng. Cháu chạy đến
hiệu buôn đổi rồi quay lại trả ông ngay.
Tôi nhìn cậu bé và lưỡng lự:
- Thật chứ?
- Thưa ông, cháu không phải là một đứa bé xấu.
Bài số 2: ĐỒNG TIỀN VÀNG
Nét mặt của cậu bé cương trực và tự hào tới mức tôi tin và giao cho cậu một
đồng tiền vàng.
Vài giờ sau, trở về nhà, tôi ngạc nhiên thấy cậu bé đang đợi mình, diện mạo
rất giống cậu bé nợ tiền tôi, nhưng nhỏ hơn vài tuổi, gầy gò, xanh xao hơn và
thoáng một nỗi buồn:
- Thưa ông, có phải ông vừa đưa cho anh Rô-be cháu một đồng tiền vàng
không ạ?
Tôi khẽ gật đầu. Cậu bé tiếp:
- Thưa ông, đây là tiền thừa của ông. Anh Rô-be sai cháu mang đến. Anh
cháu không thể mang trả ông được vì anh ấy đã bị xe tông, gãy chân, đang phải
nằm ở nhà.
Tim tôi se lại. Tôi đã thấy một tâm hồn đẹp trong cậu bé nghèo.
Bài số 3: MỘT VIỆC NHỎ THÔI
Một gia đình gồm hai vợ chồng và bốn đứa con nhỏ đi nghỉ mát ở một bãi
biển vào dịp hè. Bọn trẻ rất thích tắm biển và xây những toà lâu đài trên cát. Bố
mẹ chúng thuê một cái lều ngồi uống nước trên bờ, dõi nhìn các con vui đùa. Thế
rồi, họ trông thấy một bà cụ nhỏ nhắn ăn mặc xuềnh xoàng, trên tay cầm một
chiếc túi cũ đang tiến lại. Tóc bà đã bạc trắng, bị gió biển thổi tốc lên càng làm
cho khuôn mặt nhăn nheo của bà thêm khó coi. Bà cụ lẩm bẩm, dáo dác nhìn rồi
thỉnh thoảng lại cúi xuống nhặt những thứ gì đó trên bãi biển, bỏ vào cái túi.
Bài số 4: MỘT VIỆC NHỎ THÔI
Hai vợ chồng không hẹn mà cùng vội chạy ra gọi các con lại, căn dặn
chúng phải tránh xa người đàn bà khả nghi kia. Dường như họ cố ý nói to cho bà
nghe thấy để bà đi chỗ khác kiếm ăn.
Cụ già không biết có nghe thấy gì không giữa tiếng sóng biển ì ầm, chỉ thấy
bà cứ từ từ tiến về phía họ. Thế rồi bà cụ dừng lại nhìn mấy đứa trẻ dễ thương
đang ngơ ngác nhìn mình. Bà mỉm cười với họ nhưng không ai đáp lại mà giả vờ
ngó lơ đi chỗ khác. Bà cụ lại lẳng lặng làm tiếp công việc khó hiểu của mình. Còn
cả gia đình kia thì chẳng hứng thú tắm biển nữa, họ kéo nhau lên quán nước phía
trên bãi biển.
Bài số 5: MỘT VIỆC NHỎ THÔI
Thương cháu đến ngẩn ngơ, từ dạo ấy, bà cứ lặng lẽ đi dọc bãi biển, tìm
nhặt những mảnh chai, mảnh sắt hoặc hòn đá có cạnh sắc. Mọi người hỏi lí do thì
bà cụ đáp mà đôi mắt ướt nhòe : “Ô, tôi chỉ làm một việc nhỏ thôi ấy mà, để các
cháu bé có thể vui chơi trên bãi biển mà không bao giờ bị chết như đứa cháu đáng
thương của tôi”.
Nghe xong câu chuyện, người chồng vội chạy ngay xuống bãi biển mong có thể
nói một lời xin lỗi và một lời biết ơn chân thành, nhưng bà cụ đã đi xa rồi. Bóng
bà chỉ còn là một chấm nhỏ trên bãi biển vắng người khi chiều đang xuống…
Bài số 6: VỀ THĂM BÀ
Thanh bước lên thềm, nhìn vào trong nhà. Cảnh tượng gian nhà cũ không có
gì thay đổi. Sự yên lặng làm Thanh mãi mới cất được tiếng gọi khẽ :
- Bà ơi !
Thanh bước xuống dưới giàn thiên lý. Có tiếng người đi, rồi bà, mái tóc bạc
phơ, chống gậy trúc ở ngoài vườn vào. Thanh cảm động và mừng rỡ, chạy lại gần.
- Cháu đã về đấy ư ?
Bà ngừng nhai trầu, đôi mắt hiền từ dưới làn tóc trắng nhìn cháu, âu yếm và
mến thương :
- Đi vào trong nhà kẻo nắng, cháu !
Thanh đi, người thẳng, mạnh, cạnh bà lưng đã còng. Tuy vậy, Thanh cảm
thấy chính bà che chở cho mình cũng như những ngày còn nhỏ.
Bài số 7: VỀ THĂM BÀ
- Cháu đã ăn cơm chưa ?
- Dạ chưa. Cháu xuống tàu về đây ngay. Nhưng cháu không thấy đói.
Bà nhìn cháu, giục :
- Cháu rửa mặt đi, rồi nghỉ kẻo mệt !
Thanh đến bên bể múc nước vào thau rửa mặt. Nước mát rượi và Thanh
cúi nhìn bóng mình trong lòng bể với những mảnh trời xanh.
Lần nào trở về với bà, Thanh cũng thấy thanh thản và bình yên như thế.
Căn nhà, thửa vườn này như một nơi mát mẻ và hiền lành. Ở đấy, lúc nào bà
cũng sẵn sàng chờ đợi để mến yêu Thanh.
Bài số 8: QUÊ HƯƠNG
Chị Sứ yêu biết bao nhiêu cái chốn này, nơi chị oa oa cất tiếng khóc đầu
tiên, nơi quả ngọt, trái sai đã thấm hồng da dẻ chị. Chính tại nơi này, mẹ chị đã
hát ru chị ngủ. Và đến lúc làm mẹ, chị lại hát ru con những câu hát ngày xưa...
Chị Sứ yêu Hòn Đất bằng cái tình yêu hầu như là máu thịt. Chị thương
ngôi nhà sàn lâu năm có cái bậc thang, nơi mà bất cứ lúc nào đứng đó, chị cũng
có thể nhìn thấy sóng biển, thấy xóm nhà xen lẫn trong vườn cây, thấy ruộng
đồng, thấy núi Ba Thê vòi vọi xanh lam cứ mỗi buổi hoàng hôn lại hiện trắng
những cánh cò.
Bài số 9: QUÊ HƯƠNG
Ánh nắng lên tới bờ cát, lướt qua những thân tre nghiêng nghiêng, vàng
óng. Nắng đã chiếu sáng lóa cửa biển. Xóm lưới cũng ngập trong nắng đó. Sứ
nhìn những làn khói bay lên từ các mái nhà chen chúc của bà con làng biển. Sứ
còn thấy rõ những vạt lưới đen ngăm, trùi trũi.
Nắng sớm đẫm chiếu người Sứ. Ánh nắng chiếu vào đôi mắt chị, tắm
mượt mái tóc, phủ đầy đôi bờ vai tròn trịa của chị.
Bài số 10: Ba nàng công chúa
Vua San-ta có ba nàng công chúa rất xinh đẹp và giỏi giang. Năm ấy, đất
nước có giặc ngoại xâm mà vua tuổi đã cao, sức đã yếu. Ba nàng công chúa cùng
nhau đến xin vua cha cho ra trận nhưng đức vua dứt khoát, bảo:
- Các con mảnh mai như thế thì làm được gì nào?
 








Các ý kiến mới nhất