Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

giáo án tiếng anh

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: trần nguyễn lê na
Ngày gửi: 17h:18' 03-01-2024
Dung lượng: 26.8 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích: 0 người
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Võ Văn Mai – Phạm Quỳnh (đồng Chủ biên)
Vương Trọng Đức – Nguyễn Thị Ngọc Hà – Nguyễn Thị Hoài
Nguyễn Quang Hồng – Nguyễn Thị Trang Thanh – Lương Minh Tân
Nguyễn Thị Thanh Thuỷ – Nguyễn Thị Thu Thuỷ

TÀI LIỆU

GIÁO DỤC
ĐỊA PHƯƠNG
TỈNH Nghệ An LỚP

10
1

DANH SÁCHBAN BIÊN SOẠN
(Ban hành kèm theo Quyết định số 302/QĐ-UBND tỉnh ngày 4 tháng 02 năm 2020
của UBND tỉnh Nghệ An)
Trưởng ban:

Ông VÕ V
ĂN MAI

Phó Trưởng ban: Ông ĐÀO CÔNG LỢI
Ông TRẦN ĐÌNH THUẬN
Các thành viên:
Ông NGUYỄN VIỆT HÙNG

Bà NGUYỄN THỊ TRANG THANH

Ông NGUYỄN QUANG HỒNG

Ông PHẠM QUỲNH

Bà NGUYỄN THỊ HOÀI

Bà PHẠM MINH HƯƠNG

Ông PHẠM ĐÌNH HOÀ

Bà TẠ THỊ THANH HÀ

Ông VƯƠNG TRỌNG ĐỨC

Bà NGUYỄN THỊ THU THUỶ

Ông NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

Bà NGUYỄN THỊ THANH THUỶ

Ông VŨ THẾ HẢI

Bà PHANTHỊ ANH

Ông NGUYỄN CHÍ HOÀ

Ông LÊTÀI HOÈ

Bà HOÀNG THỊ THUỶ

Ông LƯƠNG MINH TÂN

Bà NGUYỄN THỊ NGỌC HÀ

2

LỜI NÓI ĐẦU
Các em học sinh lớp 10 thân mến,
Trên tay các em là cuốnTài liệu giáo dục địa phương tỉnh Nghệ An
lớp 10. Cuốn sách gồm 8 chủ đề với nội dung xoay quanh truyền thống,
văn hoá, kinh tế, xã hội, môi trường... của tỉnh Nghệ An.
Dưới sự hướng dẫn của thầy, cô giáo và sự đồng hành của người
thân, bạn bè, các em hãy tích cực tìm hiểu, trải nghiệm để hiểu
biết thêm về nơi mình sống, đồng thời thêm yêu và gắn bó với quê
hương mình.
Cuốn sách sẽ đồng hành cùng các em trong suốt năm học lớp 10,
hãy yêu quý và giữ gìn cẩn thận cuốn sách nhé!
Chúc các em có những hoạt động thật vui vẻ và bổ ích với cuốn
sách này!
CÁC TÁC GIẢ

3

GIỚI THIỆU CẤU TRÚC MỘT CHỦ ĐỀ

MỞ ĐẦU
− Xác định nhiệm vụ, vấn đề học tập học sinh cần giải quyết.
– Kết nối với những điều học sinh đã biết.
– Nêu vấn đề nhằm kích thích tư duy, tạo hứng thú đối với bài học.

HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
Cung cấp thông tin liên quan đến chủ đề và các hoạt động học tập,
giúp học sinh khai thác, chiếm lĩnh kiến thức mới.

LUYỆN TẬP
Gồm các câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ, hoạt động để củng cố, rèn luyện
các kĩ năng gắn với kiến thức vừa học.

VẬN DỤNG
Sử dụng các kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết các tình huống
trong thực tiễn, liên hệ mở rộng để xử lí các vấn đề liên quan gắn với
địa phương.

Hãy bảo quản, giữ gìn cuốn tài liệu này để dành tặng các em học sinh lớp sau.
4

MỤC LỤC
Trang

Chủ đề 1. TỔ CHỨC LÀNG, BẢN Ở NGHỆ AN

6

Chủ đề 2. THÀNH TỰU ÂM NHẠC Ở NGHỆ AN

13

Chủ đề 3. NGHỆ AN TRONG LỊCH SỬ CHỐNG
NGOẠI XÂM CỦA DÂN TỘC

18

Chủ đề 4. GIÁO DỤC Ở NGHỆ AN TRONG LỊCH SỬ

31

Chủ đề 5. SỬ DỤNG HỢP LÍ TÀI NGUYÊN THIÊNNHIÊN
Ở NGHỆ AN

52

Chủ đề 6. ĐA DẠNG SINH HỌC Ở NGHỆ AN

60

Chủ đề 7. CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI Ở ĐỊA PHƯƠNG

66

Chủ đề 8. THIÊN TAI VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở NGHỆ AN

75

5

Chủ đề

TỔ CHỨC LÀNG, BẢN Ở
NGHỆ AN

1

Học xong chủ đề, em sẽ:
− Nêu được một số nét cơ bản trong cách tổ chức làng,
bản ở Nghệ An qua các thời kì lịch sử;
– Giới thiệu được một làng, bản ở Nghệ An;
– Trình bày được ý nghĩa của cách tổ chức làng, bản ở
Nghệ An;
– Đề xuất được phương án bảo tồn giá trị văn hoá trong
cách tổ chức làng, bản ở Nghệ An.

MỞ ĐẦU
Làng, bản ở Nghệ An đã được hình thành từ rất lâu đời. Làng, bản giống
như một tổ chức xã hội thu nhỏ, là đơn vị hành chính cấp nhỏ nhất trong
hệ thống Nhà nước, là tập hợp của nhiều gia đình, nhiều dòng họ chung
sống trên một mảnh đất. Con người sống trong cùng một làng, bản không
chỉ là cùng chung sống mà còn phải yêu thương, tương trợ lẫn nhau, cùng
lao động, cùng chia sẻ cả những ngọt bùi và khó khăn. Bởi vậy, làng, bản
không chỉ là không gian cư trú mà còn là không gian văn hoá, chứa đựng
tâm hồn của mỗi con người ở đó.

6

?

Quan sát hình ảnh và kể tên một số bản, làng ở Nghệ An.

Hình 1.1.Làng của người Kinh

Hình 1.3.Bản của người Thái

Hình 1.5. Bản của người Đan Lai

Hình 1.2.Bản của người Ơ Đu

Hình 1.4.Bản của người Khơ Mú

Hình 1.6. Bản của người Thổ

? Chia sẻ về nơi em sống.
Gợi ý: Tên bản/làng, cơ cấu tổ chức, cơ sở hạ tầng, tục lệ, lối sống.

7

HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
Lịch sử làng, bản ở Nghệ An gắn liền với lịch sử xã hội của loài người.
Thuở sơ khai, loài người sống theo kiểu bầy người nguyên thuỷ mà chưa có tổ
chức xã hội. Sau này, khi loài người phát triển, các tổ chức làng xã hay bản
mường mới bắt đầu xuất hiện. Nói về làng, xã không phải chỉ của người Việt ở
miền xuôi mà cả bản, mường của các dân tộc thiểu số ở miền tây Nghệ An (1).
Như vậy, ngoại trừ việc khác nhau về tộc người, về địa bàn cư trú hay cách thức
tổ chức, làng và bản đều mang sắc thái văn hoá đặc trưng của Nghệ An.
(1) Ninh Viết Giao, Nghệ An toàn chí tập V – Làng xã Nghệ An, NXB Nghệ An, 2016.

8

 Tổ chức làng, xã ở Nghệ An
 Về cơ bản, làng xã ở Nghệ An nói riêng và Việt Nam nói chung có bảy
kiểu hình thành phổ biến(1):
1. Kiểu hình thành làng phổ biến nhất là một hay hai người đến làm ăn sinh
sống rồi khai hoang, lập làng.
2. Kiểu hình thành làng thứ hai là người làm quan chiêu mộ dân tứ chiếng
đến khai khẩn đất hoang lập làng.
3. Kiểu hình thành làng thứ ba là từ chính sách lập đồn điền của nhà Lê sơ.
4. Kiểu hình thành thứ tư là làng của cư dân sống bằng nghề đánh bắt thuỷ
sản. Họ thường mượn hoặc thuê một mảnh đất của làng nào đó ven sông
để cúng lễ trong dịp tết Nguyên đán, giỗ thần và hội họp khi có việc cần.
Một số người già xin ở lại làm nhà, dần dần số cư dân đông hơn và họ xin
lập làng.
5. Kiểu hình thành thứ năm là từ việc tách làng, biệt triện do dân đông, lãnh
thổ rộng hay mâu thuẫn về quyền lợi.
6. Kiểu hình thành thứ sáu là việc lập làng theo tổ chức của Nhà nước. Xưa
kia, Nghệ An là vùng xa kinh đô, ít được khai thác nên Nhà nước phong
kiến thường di dân vào để lập trại khai khẩn đất hoang.
7. Kiểu hình thành thứ bảy là qua các cuộc cải cách hành chính, điều chỉnh
của nhà nước.
Sau Cách mạng tháng Tám
năm 1945, việc hình thành thêm
các làng mới, xã mới mạnh mẽ,
rộng khắp hơn nhiều. Không chỉ
có làng của người Việt mà các
bản người Thái, Mông, Thổ,
Khơ Mú,… đều gia tăng.
Hình 1.7. Làng của người Kinh ở Nghệ
An

(1) Ninh Viết Giao, Nghệ An toàn chí tập V – Làng xã Nghệ An, Sđd.

9

 Trải qua các thời kì, làng có nhiều cách gọi khác nhau(1):
– Trang/trại: Hành Hương trang (xã Quỳnh Liên, huyện Quỳnh Lưu), trang
Cao Xá (xã Thanh Mỹ, Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu), trại Mạc Điền
(tổng Lãng Điền, Anh Sơn),…
– Phường (liên quan đến nghề đánh cá hoặc nghề thủ công): phường Tiểu Ca
(xã Kim Liên, huyện Nam Đàn), phường Thiên Lý (tổng Đô Lương, huyện
Đô Lương),…
– Vạn (liên quan đến nghề đánh cá): vạn Võng Nhi Trà (tổng Cát Ngạn,
huyện Thanh Chương), vạn Hến (tổng Đô An, huyện Hưng Nguyên),…
– Sách (vùng có rừng núi): sách Hạ Sưu (tổng Hạ Sưu, huyện Tân Kỳ), sách
Lâm La (tổng Lâm La, huyện Nghĩa Đàn),…
– Sở: sở Đức Giang (tổng Ngô Trường, huyện Nghi Lộc), sở Vệ Kỳ (Vệ
Chính, huyện Hưng Nguyên),…
– Tộc: tộc Hoàng Nghĩa (tổng Phù Long, huyện Hưng Nguyên), tộc Phường
Giáo (xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu),…
– Nậu (tương tự xóm): nậu Bảo Tháp (tổng Quan Trung, huyện Yên Thành),
nậu Bàng Vạn (tổng Thổ Hào, huyện Thanh Chương),…
– Cồn/quần (vùng đồng trũng): cồn Mụ, cồn Nhà (Diễn Bình); cồn Ràn, cồn
Ngà (Diễn Thái),…
– Đồng (dân cư lập nghiệp ở những cánh đồng): Đồng Văn, Đồng Mỹ
(huyện Yên Thành); Đồng Mờm, Đồng Én (huyện Diễn Châu),…
– Kẻ (có nghĩa là người, dân cư hoặc nơi chốn, quê quán): kẻ Băng (Thanh
Thuỷ, Nam Thanh, Nam Đàn), kẻ Giăng (Phúc Tăng, Tăng Thành, Yên
Thành),…
– Làng/thôn: làng Sen (Kim Liên, Nam Đàn), làng Thơi (Văn Thai, Quỳnh
Lưu), làng Ngòi (Long Hồi, Yên Thành),…
 Bộ máy quản lí của làng có hội đồng kì mục (sau này gọi là hội đồng hào
mục) và lí dịch đương thứ. Trong đó, hội đồng kì mục là các quan viên chức sắc
trong làng. Hội đồng kì mục có nhiệm vụ cố vấn cho lí dịch đương thứ. Lí dịch
đương thứ gồm có Lí trưởng, phó lí và ngũ hương (Hương bạ, Hương kiểm,
Hương bản, Hương mục và Hương dịch), sau này có thêm Bang tá và Chánh
phó
(1) Ninh Viết Giao, Nghệ An toàn chí tập V – Làng xã Nghệ An, Sđd, tr21 - 39.

10

đoàn phu. Lí trưởng là người đứng đầu một làng, phụ trách các việc về mặt hành
chính. Số lượng người giúp việc cho Lí trưởng sẽ thay đổi tuỳ theo từng làng.
Người dân trong làng được quản lí bởi hương ước.

?

1. Nêu khái quát về tổ chức làng, xã ở Nghệ An.
2. Có những kiểu hình thành làng nào ở Nghệ An?

 Tổ chức bản, mường ở Nghệ An
Bản là tập hợp của những thành viên có chung một vùng đất đai, trong đó
hầu hết diện tích dành cho phần khai thác và một phần dùng cho chuyên dùng.
Ranh giới giữa các vùng đất đai đó là sông, suối, khe, vực, cánh rừng (1),...

Hình 1.8. Bản Búng (huyện Con Cuông)

Mường là tổ chức xã hội cấp cao hơn bản, là một khu vực địa lí mà ranh giới
hành chính có thể rộng hoặc hẹp, trong đó có một hoặc nhiều tộc người sinh
sống(2).
Điển hình nhất cho tổ chức xã hội bản, mường ở Nghệ An phải kể đến dân
tộc Thái. Bản, mường của người Thái chứa đựng tất cả các nét đặc trưng cho tổ
chức bản, mường của dân tộc thiểu số Nghệ An. Do dân cư ít và cư trú rải rác
nên người Ơ Đu không có đơn vị dân cư cơ sở riêng. Bản người Mông (gọi là lu
dò) tập hợp theo dòng họ, mỗi bản có thể có một hoặc nhiều dòng họ. Người
Mông không có tổ chức mường. Tổ chức xã hội cơ bản của người Khơ Mú là
bản.
11

(1), (2) Ninh Viết Giao, Nghệ An toàn chí tập V – Làng xã Nghệ An, sđd, tr. 15-17, 21.

– Bộ máy quản lí của một
bản thường có: ông Nậu (trưởng
bản), ông Đậu hay ông Chăm (còn
gọi là Mo bản, phụ trách tâm
linh), ông Khoan (phụ trách kinh
tế – xã hội) và ông Đổi (phụ trách
việc an ninh). Tuy nhiên, xét về
chức năng văn hoá, các già làng
vẫn có vai trò quan trọng.
– Hội đồng quản lí của một mường lớn thường có: ông Tạo mường (quản lí
chung và phụ trách việc tâm linh), ông Chẩu mường (phụ trách việc kinh tế),
ông Lam mường (phụ trách việc xã hội) và ông Cai mường (phụ trách việc an
ninh).
– Hội đồng quản lí của một mường nhỏ thường có: quản mường (còn gọi là
chẩu mường), mo mường (phụ trách về các nghi lễ tâm linh), ao nha (lo trật tự,
trị an các khoản lễ vật mỗi khi có cúng lễ).
– Tên các bản, mường được đặt dựa vào nơi cư trú như:
+ Gần sông: Nậm Xá (Quế Phong), Nậm Khiên (Kỳ Sơn),…
+ Gần núi đồi: Pù Bài (Quế Phong), Pù Lau (Quỳ Hợp),…
+ Gần nhiều cây: Cỏ Nghi (Con Cuông), Cỏ Ba (Tương Dương),…
+…
Theo dòng lịch sử, nhiều bản đã đổi thành kẻ, thành làng.
Cũng như làng xã của người Kinh, bản của dân tộc thiểu số là tập hợp của
nhiều nếp nhà, nhiều gia đình cùng chung sống, tương trợ lẫn nhau và cùng
chung một mối tâm linh.
Hình 1.9. Lễ hội Hang Bua

?

12

1. Từ những thông tin trên, em hãy giới thiệu về một bản của
người dân tộc thiểu số ở Nghệ An. (Gợi ý: thông tin về địa lí,
thành phần dân cư, phương thức sản xuất, đời sống tinh thần,
phong tục,…).

2. Ngoài yếu tố tự nhiên và lao động để gắn bó cộng đồng, người dân bản
còn có những hình thức tổ chức đời sống, sinh hoạt như thế nào để thể
hiện tính cộng đồng?

 Truyền thống tốt đẹp của làng, bản ở Nghệ An

Người dân Nghệ An rất gắn bó với làng, bản. Tình làng nghĩa xóm, sự đùm bọc,
chở che, tương trợ lẫn nhau đã tạo nên không gian văn hoá làng, bản đặc trưng.
Người dân trong làng, bản không chỉ cùng nhau chung sống, lao động mà
còn được gắn kết với nhau bởi sự
nhất quán về phong tục, tín ngưỡng,
bởi vậy, “cái tôi chung” chính là đặc
trưng trong tính cách làng, bản ở
Nghệ An nói riêng, của Việt Nam nói
chung. Từ đó hình thành nên nhiều
truyền thống tốt đẹp, như: truyền
thống yêu nước; truyền thống nghĩa
tình; truyền
thống đoàn kết; truyền thống chăm
Hình 1.10. Trẻ em ở Bản Búng chỉ, cần cù
lao động; truyền thống (huyện Con Cuông)
hiếu học, tôn sư trọng đạo; truyền thống
tôn trọng người lớn tuổi;…

?

Nêu những truyền thống tốt đẹp của làng, bản ở Nghệ An.

LUYỆN TẬP

 Mô hình hoá cách tổ chức làng, bản ở Nghệ An qua các thời kì.
 Nêu ý nghĩa và giá trị văn hoá của tổ chức làng, bản ở Nghệ An.
13

Chủ đề

THÀNH TỰU ÂM NHẠC Ở
NGHỆ AN

2

VẬN DỤNG



Đánh giá về tổ chức làng, bản ở địa phương em hiện nay. Đề xuất ý kiến cá
nhân về những vấn đề cần giữ gìn hoặc cần thay đổi.

 Em hãy đề xuất một số phương án để bảo tồn giá trị văn hoá trong cách tổ
chức làng, bản ở Nghệ An.

Học xong chủ đề, em sẽ:
− Giới thiệu được thành tựu âm nhạc ở Nghệ An: âm nhạc
dân gian, âm nhạc đương đại;
– Trình bày được một số giá trị âm nhạc Nghệ An vànhững đóng góp
của nhạc sĩ ở Nghệ An với nền âm nhạc dân tộc;
– Bước đầu vận dụng được thành tựu âm nhạc của
Nghệ An phục vụ đời sống và các sinh hoạt nghệ thuật tại
địa phương.

MỞ ĐẦU
Nghệ An là mảnh đất địa linh nhân kiệt, là nơi ghi dấu truyền thống lâu
đời, đậm đà bản sắc dân tộc. Thấm đượm trong tâm hồn mỗi người con
xứ Nghệ là những làn điệu, những lời ca mộc mạc, bình dị mà sâu sắc, nhẹ
nhàng mà lắng đọng. Cùng với quan họ, ca Huế, cải lương,... dân ca xứ
Nghệ đã làm nên thương hiệu của âm nhạc dân gian Việt Nam.
Tinh hoa âm nhạc Nghệ An không chỉ nằm trong những lời ca được lưu
truyền mà còn phát triển mạnh mẽ trong đời sống sinh hoạt âm nhạc của
người dân nơi đây. Rất nhiều thế hệ nhạc sĩ đã khai thác, sử dụng chất
liệu dân ca xứ Nghệ trong các tác phẩm của mình. Những giai điệu thân
thương, đằm thắm ấy là tình cảm gắn bó với quê hương, đất nước, góp
phần giới thiệu văn hoá Việt Nam đến với thế giới.
14

?

Thành tựu âm nhạc của Nghệ An từ truyền thống
đến hiện đại đã được biểu hiện như thế nào?

HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
Nghệ An có thành phần dân tộc đa dạng, điều đó đã tạo nên bức tranh âm
nhạc dân gian phong phú, đa sắc màu cho mảnh đất này. Nếu khu vực miền núi
phía tây đặc trưng với thanh âm của khèn hoà quyện cùng điệu múa xoè của
người Thái, với những bài hát đối đáp của các chàng trai, cô gái người Mường,
người Mông hay người Khơ Mú, thì người dân ven biển lại say đắm trong
những điệu hò, những lời hát giao duyên truyền cảm. Nhưng nổi bật hơn cả có
lẽ là những làn điệu dân ca Ví, Giặm – một đặc sản không thể thiếu khi nói đến
Nghệ An.
Ví và Giặm là hai lối hát khác nhau nhưng thường được hát xen kẽ nên có
tên ghép là Ví, Giặm. Ví là lối hát tự do, ngân nga mang tính chất trữ tình,
thường sử dụng thể thơ lục bát hoặc song thất lục bát. Giặm là lối hát có nhịp
điệu, tiết tấu mạnh, rõ ràng, thường sử dụng thể thơ 5 chữ, mỗi khổ có 5 câu và
trong đó câu thứ 5 lặp lại câu thứ 4. Ví, Giặm thường có ba hình thức trình diễn
là hát lẻ, hát đối và hát cuộc. Đây là loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian
mang bản sắc riêng của nhân dân xứ Nghệ (Nghệ An và Hà Tĩnh), được diễn
xướng cùng với nhiều hoạt động trong cuộc sống. Có rất nhiều làn điệu được
lưu truyền như: Ví phường vải, Ví phường đan, Ví phường nón, Ví phường củi,
Ví trèo non, Ví đò đưa, Giặm ru, Giặm kể, Giặm khuyên,... Trong các cuộc hát,
Ví phường vải có quy cách và thủ tục chặt chẽ nhất. Âm điệu, tiết tấu của dân
ca địa phương, đặc biệt là Ví, Giặm đã tạo cảm hứng cho nhiều thế hệ nhạc sĩ
Việt Nam viết nên những tác phẩm âm nhạc có giá trị. Với những đặc điểm độc
đáo trong diễn xướng và ý nghĩa văn hoá, năm 2014, Ví và Giặm đã được
UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại.

15

Hình 2.1. Liên hoan dân ca Ví, Giặm Hình 2.2. Các nghệ sĩ hát Ví, Giặm năm 2016
trên sông Lam

Mặc dù bị ảnh hưởng bởi các trào lưu văn hoá phương Tây, âm nhạc dân
gian ở Nghệ An vẫn được bảo tồn trong cộng đồng các dân tộc qua những lễ hội
dân gian. Ở thành thị, nhiều câu lạc bộ dân ca được thành lập để bảo tồn di sản
văn hoá của quê hương thông qua hoạt động sinh hoạt ca hát và truyền dạy cho
lớp trẻ. Nghệ An cũng là một trong số ít các tỉnh, thành còn tồn tại Đoàn ca múa
dân gian. Bên cạnh đó, Nghệ An cũng thành lập Trung tâm bảo tồn và phát huy
di sản dân ca xứ Nghệ. Điều này đã cho thấy giá trị của âm nhạc dân gian trong
dòng chảy thời đại ở Nghệ An rất được coi trọng. Âm nhạc dân gian có vị trí
quan trọng trong đời sống âm nhạc của người Nghệ An.
Về âm nhạc đương đại, thừa hưởng truyền thống âm nhạc dân gian đặc sắc,
các lớp nhạc sĩ của quê hương Nghệ An cũng không ngừng đóng góp cho nền
âm nhạc Việt Nam nhiều tác phẩm có giá trị. Phần lớn trong những sáng tác của
mình, các nhạc sĩ đã khéo léo kết hợp chất liệu âm nhạc dân gian với hơi thở
của âm nhạc hiện đại. Điều này đã giúp nhiều người trưởng thành trong nền âm
nhạc chuyên nghiệp của đất nước. Có thể kể đến những một số tên tuổi như:
Nguyễn Tài Tuệ với các ca khúc bất hủ: Tiếng hát giữa rừng Pắc Bó, Xa khơi...;
An Thuyên với Neo đậu bến quê, Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác,...; Trần Hoàn
với Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh, Giận mà thương,...; Nguyễn
Trọng Tạo với Khúc hát sông quê; Xuân Thuỷ với những đóng góp cho nền
nghệ thuật quân đội hay những nhạc sĩ đã và đang cống hiến cho mảnh đất Nghệ
An như: Nghệ sĩ nhân dân Phạm Tiến Dũng, Lê Hàm, Mai Cường, Trần Viết
Kỳ, Vũ Ngọc Quang, Vũ Quốc Nam,...; một số ca sĩ như Hương Tràm, Hồng
Duyên, Hồng Ngọc,...

Hình 2.3. Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ hướng
16

Hình 2.4. Nhạc sĩ An Thuyên

dẫn hát bài “Tiếng hát giữa rừng Pắc Bó”

Đời sống âm nhạc tại Nghệ An khá phát triển, đa dạng về thể loại và hình
thức. Từ những thể loại nhỏ như ca khúc cho đến những thể loại lớn như ca
cảnh, ca kịch; từ âm nhạc phục vụ sinh hoạt cho đến những ca khúc cách mạng
đều mang đậm bản sắc xứ Nghệ qua những âm điệu, tiết tấu đặc trưng. Hằng
năm, trong các cuộc liên hoan âm nhạc, nhiều bài mới được sáng tác, nhiều tiết
mục được dàn dựng công phu trên cơ sở phát triển từ những làn điệu dân ca
truyền thống của địa phương. Bên cạnh đó, nhiều nhạc sĩ (không chỉ riêng ở
Nghệ An) cũng lấy Ví, Giặm làm nhân tố cho những cảm xúc trong tác phẩm
của mình và đã tạo được nhiều dấu ấn trong lòng thính giả.
Như vậy, có thể thấy rằng thành tựu âm nhạc của Nghệ An tồn tại trên nhiều
phương diện, từ sự phong phú về làn điệu dân ca của các dân tộc anh em cùng
chung sống trên địa bàn cũng như sự ảnh hưởng của những chất liệu đặc trưng
trong dân ca xứ Nghệ tới các tác phẩm âm nhạc mới. Cùng với những giá trị văn
hoá khác, thành tựu trong âm nhạc của Nghệ An đã tạo nên giá trị tinh thần to
lớn không chỉ cho người dân xứ Nghệ mà còn là niềm tự hào của dân tộc Việt
Nam nói chung. Âm điệu dân gian đã hoà vào nhịp sống hiện đại, phản ánh sức
sống mãnh liệt của mảnh đất Nghệ An và ngày càng phát triển trong diện mạo
mới. Cho dù trong lĩnh vực sáng tác hay biểu diễn, nhạc dân gian hay nhạc
đương đại đều thể hiện rõ âm điệu đặc trưng của xứ Nghệ qua từng câu hát, từng
điệu đàn, chứa đựng tâm hồn cao đẹp, nghĩa nặng, tình sâu của người dân nơi
đây.
Âm nhạc Nghệ An ngày nay là sự tổng hoà của những tinh thần mới, hơi thở
mới với cội nguồn dân ca sâu nặng. Cùng với những giá trị văn hoá khác, những
thành tựu trong âm nhạc của Nghệ An đã tạo nên giá trị tinh thần to lớn không
chỉ cho người dân nơi đây mà còn là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam nói
chung. Ví, Giặm xứ Nghệ cùng với quan họ, hát xoan, ca Huế hay đờn ca tài tử
đã làm nên vẻ đẹp của âm nhạc truyền thống Việt Nam.

?

1. Trình bày những thành tựu về âm nhạc dân gian và âm nhạc
đương đại ở Nghệ An.
2. Khái quát những giá trị âm nhạc ở Nghệ An và nêu vai trò của âm
nhạcNghệ An trong nền âm nhạc dân tộc.

17

LUYỆN TẬP

 Nghe một số tác phẩm tiêu biểu của các nhạc sĩ ở Nghệ An. Tìm hiểu về âm
hưởng dân ca được sử dụng trong các tác phẩm đó.



Tóm tắt những hiểu biết của em về một nhạc sĩ/nghệ sĩ ở Nghệ An.

Gợi ý:

Tiểu sử: Họ tên, năm sinh,
quê quán, quá trình hoạt động

Những thành tựu tiêu biểu: Các tác
phẩm, giải thưởng

VẬN DỤNG

 Nêu những thành tựu âm nhạc và các hình thức sinh hoạt âm nhạc tại địa
phương em.



Giao lưu, gặp mặt các nhạc sĩ ở địa phương để được nghe giới thiệu và tập
hát những làn điệu, những bài dân ca của quê hương.

 Tổ chức thi hát dân ca xứ Nghệ giữa các nhóm.

18

Chủ đ


NGHỆ AN TRONG LỊCH
CH
SỬỐNG NGOẠI XÂM CỦA
DÂN TỘC

3

Học xong chủ đề, em sẽ:

− Nêu được một số cuộc khởi nghĩa hoặc phong trào đấu tranh tiêu biểu
của nhân dân Nghệ An trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc;
– Giải thích được nguyên nhân thất bại hoặc thắng lợi và nêu được ý
nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh chống ngoại
xâm của nhân dân Nghệ An;
– Đánh giá được vị trí, vai trò của Nghệ An trong lịch sử chống ngoại
xâm của dân tộc và nhận thức được vị trí của Nghệ An trong công
cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay.

MỞ ĐẦU

Hình 3.1.Sông Lam núi Hồng

Phan Huy Chú đã từng viết về địa thế và vai trò của vùng đất Nghệ An: “...
Nơi hiểm yếu như thành đồng ao nóng của nước và là then chốt của các triều
đại”(1). Nghệ An vừa có địa thế hiểm yếu, lại vừa có yếu tố nhân hoà, nhân
kiệt. Trong tiến trình lịch sử dân tộc, Nghệ An luôn chứng tỏ vị thế địa − chiến
lược, địa − quân sự quan trọng của nhiều cuộc kháng chiến, khởi nghĩa chống
ngoại xâm.
(1) Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập I, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2005, tr. 62.

19

?

Quân và dân Nghệ An đã có những đóng góp như thế nào trong lịch sử
chống ngoại xâm của dân tộc như thế nào?

HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
Thời Bắc thuộc, Nghệ An là căn cứ quan trọng ban đầu của cuộc khởi nghĩa
Mai Thúc Loan, Dương Thanh. Thời Lý – Trần, nhân dân Nghệ An cũng tích
cực tham gia các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống, quân xâm lược
Mông – Nguyên.
Thế kỉ XV, Nghệ An trở thành địa bàn chiến lược trong cuộc khởi nghĩa
Lam Sơn. Những thắng lợi trên đất Nghệ An như Bồ Đằng, Trà Lân, Khả Lưu,
Bồ Ải,... đã góp phần mở rộng địa bàn của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, là bàn đạp
quan trọng để nghĩa quân Lam Sơn tiến ra Bắc, giành thắng lợi.
Nghệ An cũng có nhiều đóng góp trong phong trào Cần Vương, phong trào
chống Pháp của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, cuộc kháng chiến chống
Pháp và chống Mỹ trong thế kỉ XX.



Nghệ An trong lịch sử chống ngoại xâm từ thời Bắc thuộc đến nửa đầu thế
kỉ XIX

a. Nghệ An trong các cuộc khởi nghĩa thời Bắc thuộc và kháng chiến chống
Tống thời Tiền Lê, thời Lý
Thời Bắc thuộc, Nghệ An là căn cứ quan trọng ban đầu của khởi nghĩa Mai
Thúc Loan (713 − 723). Mai Thúc Loan đã dựng đại bản doanh Vạn An làm căn
cứ địa chống lại chính quyền phương Bắc.
Sang thế kỉ IX, Nghệ An lại tiếp tục trở thành căn cứ của khởi nghĩa do
Dương Thanh lãnh đạo.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Tống thời Tiền Lê và thời Lý, Nghệ An
là hậu phương lớn. Trong thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống Tống
năm 981 có sự góp sức của nhân dân vùng châu Hoan, Châu Ái, là nguồn cung
ứng nhân tài, vật lực phục vụ cho cuộc kháng chiến.

20

Trong cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ hai (1075 – 1077), tướng quân
Phạm Trọng Y (người Nghệ An) đã tham gia chống Tống trên phòng tuyến
sông Cầu dưới sự chỉ huy của Thái uý Lý Thường Kiệt.
Hình 3.2. Đền Độc Lôi thờ Phạm Trọng Y (xã
Nam Giang, huyện Nam Đàn)

21

Em có biết?

Sau khi cuộc kháng chiến thắng
lợi, Phạm Trọng Y được nhà Lý cử
đi dẹp giặc Bồn Man (phía tây
Nghệ An). Lúc trở về, ông đóng
quân ở chân núi Thai Phong.
Truyền thuyết kể rằng: Vào một
đêm bỗng nhiên có tiếng sấm vang
trời, tướng quân vụt bay lên không
trung biến mất. Dân làng lập đền
Độc Lôi dưới chân núi để thờ ông.

22

b. Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Mông − Nguyên thời Trần
Trong kháng chiến chống Mông – Nguyên lần thứ hai (1285), khi rút về
Thanh Hoá (3/1285), nhà Trần rơi vào tình thế hiểm nguy. Lúc này, vua Trần
Nhân Tông đặt tất cả niềm tin vào đội quân hậu bị Nghệ An:
Cối Kê cựu sự quân tu ký
Hoan, Diễn do tồn thập vạn binh
(Chuyện cũ Cối Kê(1) ngươi nên nhớ
Hoan, Diễn nay còn mười vạn binh)(2).
Khi quân Toa Đô đã tiến ra đến Nghệ An, dưới sự chỉ huy của Trần Nhật
Duật, lực lượng của triều đình và nhân dân địa phương đã tổ chức các trận đánh
lớn nhỏ nhằm ngăn chặn hướng tiến công ra Bắc của quân Mông – Nguyên. Tại
vùng cảng Xước (phường Quỳnh Lập, thị xã Hoàng Mai) đã diễn ra cuộc chặn
đánh quân của Toa Đô. Cuộc chiến này còn ghi nhận công lao chặn giặc ở ven
biển của danh tướng Hoàng Tá Thốn, ông có khả năng lặn lâu để đục thủng
thuyền giặc.
(1)

Điển tích Trung Hoa: Thời Chiến Quốc, vua Câu Tiễn nước Việt đánh nhau với nước Ngô, thất bại
thảm hại lui giữ Cối Kê, sau đánh bại Ngô vương Phù Sai, không chỉ khôi phục giang sơn mà còn chiếm
luôn nước Ngô.
(2)
Ngô Sĩ Liên và sử thần triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998,
tr. 51.

23

Hình 3.3. Đền Đức Hoàng
thờ Hoàng Tá Thốn
(xã Phúc Thành, huyện Yên Thành)
Em có biết?

Hoàng Tá Thốn quê ở xã
Diễn Vạn, huyện Diễn Châu. Từ
nhỏ, ông đã có tài bơi lội “đi lại

24

dưới nước như đi trên bộ vậy”. Dưới thời Trần,
ông được phong chức Nội thư gia và sung vào
đội thuỷ quân thiện chiến. Sau khi mất, ông
được nhân dân địa phương lập đền thờ, tôn là
Sát Hải đại vương. Ngoài đền thờ chính ở Diễn
Vạn, trên địa bàn tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng
Bình và Thanh Hoá còn có hàng chục ngôi đền
thờ tự ông.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh thời nhà Hồ (1406 – 1407), nhà
Hồ huy động quân dân xây dựng nhiều thành trì chống giặc, điển hình là thành
Bàu Đột ở Quỳnh Lưu, thành Hồ Vương trên núi Đại Huệ.

? 1. Nêu đóng góp của Nghệ An trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thời
Lý – Trần – Hồ.
2. Đánh giá vị trí của Nghệ An trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm
trước thế kỉ XV.

c. Nghệ An trong các cuộc khởi nghĩa chống Minh đầu thế kỉ XV
Tại Nghệ An, ngay từ năm 1407, nhân dân hai huyện Đông Lan và Trà
Thanh thuộc phủ Diễn Châu (nay là các huyện Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh
Lưu) đã nổi lên đốt phá nhà ngục, giết chết nhiều quan quân nhà Minh. Từ năm
1407 đến năm 1414, Nghệ An đã hai lần trở thành “đại bản doanh” của cuộc
khởi nghĩa Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng. Tướng Nguyễn Cảnh Chân (quê ở
Thanh Chương) trở thành một trong những tướng lĩnh chủ chốt dưới ngọn cờ
của Trần Ngỗi.
Tại huyện Đông Lan, phủ Diễn Châu đã nổ ra cuộc nổi dậy của dân làng
Trang Niên (nay thuộc xã Mỹ Thành, huyện Yên Thành) dưới sự chỉ huy của
Nguyễn Vĩnh Lộc chống lại nhà Minh.
Hình 3.4. Phủ thờ họ Nguyễn Cảnh (huyện
Thanh Chương)
25

Em có biết?

Nguyễn Cảnh Chân (1355 – 1409) quê ở
làng Ngọc Sơn, xã Yên Thành, huyện Thanh
Chương. Ông đỗ tiến sĩ năm 1384, làm An
phủ sứ Hoá Châu (Thừa Thiên Huế) thời
nhà Trần. Nguyễn Cảnh Chân cùng Đặng
Tất tham gia khởi nghĩa chống Minh do
Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng chỉ huy. Sau
khi đạt được một số thắng lợi, lo sợ
Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất tiếm quyền
nên Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng đã bức
tử cả hai người.

26

Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 – 1427), Nghệ An trở thành địa bàn
quan trọng của nghĩa quân Lam Sơn sau khi chuyển từ Thanh Hoá vào Nghệ An
theo đề nghị của tướng quân Nguyễn Chích. Chiến thắng đầu tiên của nghĩa
quân trên vùng đất Nghệ An là trận Bồ Đằng (xã Châu Nga, huyện Quỳ Châu)
tháng 10/1424, tiêu diệt hơn 2000 quân địch, giết chết tướng Trần Trung, buộc
địch phải chạy về thành Trà Lân và thành Nghệ An.

Em có biết?

Đền Thần Đinh ở Kẻ Nính (xã Châu Hạnh, huyện Quỳ Châu), từng thờ một
Tạo mường có tên là Lo Kăm Hoa. Thần tích đền này cho biết: Đội quân áo đỏ
của Lo Kăm Hoa đã giúp Lê Lợi lập trận mai phục tại Bồ Đằng. Về sau, trong một
lần đánh nhau với giặc Minh, Lo Kăm Hoa bị tử trận. Thương tiếc ông, nhân dân
địa phương lập đền thờ.
Đền Chín gian ở Quế Phong thờ Trời và các tiên tổ Lo Kăm, trong đó có Lo
Kăm Hiền, cũng là người có công cùng nghĩa binh áo đỏ giúp Lê Lợi đánh thắng
giặc Minh ở Bồ Đằng.
Em có biết?

Hình 3.5. Đền Trương Hán
(xã Thọ Sơn, huyện Anh Sơn)

Ở bản Kẻ Trằng (nay thuộc xã Thọ
Sơn, huyện Anh Sơn) có ngôi miếu
thờ Trương Hán – tù trưởng người
Thái – đã đem voi ngựa, lương thảo
ủng hộ nghĩa quân và kêu gọi dân
bản góp sức giúp Lê Lợi vây thành,
diệt giặc. Ngày đất nước khải hoàn,
ông được Lê Lợi phong Khả
Lam quốc công.

Cuộc chuyển hướng chiến lược vào Nghệ An đã đưa cuộc khởi nghĩa Lam
Sơn sang giai đoạn mới, mở rộng địa bàn khởi nghĩa với nhiều chiến thắng lớn.
Điều này chứng minh vị thế địa – chiến lược, địa – quân sự quan trọng của
Nghệ An đến thắng lợi bước đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
d. Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Thanh năm 1789
Trên đường tiến quân ra Bắc
tiêu diệt quân Thanh, ngày
26/12/1788, Quang Trung
27

đã dừng chân tại Nghệ An hơn
10 ngày để tuyển quân và củng
cố lực lượng. Vua duyệt binh,
đọc dụ khích lệ tướng sĩ rồi tiến
quân ra Bắc Hà.
Hình 3.6. Đền thờ vua Quang Trung trên núi Dũng
Quyết (thành phố Vinh)

1.
nghĩa

?

2.

28

Nêu đóng góp của nhân dân Nghệ An trong các cuộc kháng chiến, khởi
từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX.
Đánh giá vị trí, vai trò của Nghệ An trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

 Nghệ An trong phong trào đấu tranh chống Pháp cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ
XX

a.

Nghệ An trong kháng chiến chống Pháp (1858 – 1884)

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam. Năm 1859, sau khi
thành Gia Định bị chiếm, Văn Đức Giai, Dương Doãn Hải và nhiều sĩ phu khác
ở Nghệ An dâng biểu xin kiên quyết chống Pháp rồi tổ chức đội nghĩa binh vào
Nam chi viện cho nhà yêu nước Trương Định.
Năm 1873, Pháp đánh chiếm thành Hà Nội, Tổng đốc An Tĩnh là Tôn Thất
Triệt họp văn thân Nghệ – Tĩnh bàn kế chống Pháp, giao cho Trần Tấn, Đặng
Như Mai (Nghệ An) và Nguyễn Huy Điển, Trần Quang Cán (Hà Tĩnh) đứng ra
chuẩn bị. Năm 1874, khởi nghĩa nổ ra ở Thanh Chương, nhưng cuối cùng đã bị
đàn áp và thất bại.
b.

Nghệ An trong phong trào Cần Vương
Nhân dân Nghệ An cũng đi đầu hưởng ứng phong trào Cần Vương.
Bảng 3.1. Một số cuộc khởi nghĩa chống Pháp hưởng
ứng phong trào Cần Vương ở Nghệ An(1)
STT

Tên cuộc khởi nghĩa

Thời gian

Địa điểm

1

Nguyễn Nguyên Thành

1885

Đô Lương

2

Đinh Văn Chất, Ngô Quảng

1885

Nghi Lộc

3

Trần Khắc Kiệm, Nguyễn Hữu Chính,
Trần Văn Biềng, Hồ Văn Phú

1885

Thanh Chương, Đô
Lương

4

Lê Doãn Nhạ

1885

Yên Thành, Diễn Châu,
Anh Sơn, Con Cuông

5

Vương Thúc Mậu, Vương Thúc Quý

1886 – 1887

Nam Đàn

6

Lang Văn Thiết

1888

Nghĩa Đàn, Quỳ Châu,
Quế Phong

7

Nguyễn Xuân Ôn

1885 – 1889

Diễn Châu

(1) Tỉnh uỷ – Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An, Lịch sử Nghệ An, tập 1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012.

29

Khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn (xã Diễn Thái, huyện Diễn Châu) nổ ra
vào đầu năm 1886 kéo dài đến năm 1889. Đây là cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn
nhất, tập hợp lực lượng kháng chiến chống Pháp của cả tỉnh Nghệ An, cùng với
khởi nghĩa của Phan Đình Phùng đã đưa phong trào chống Pháp lên đỉnh cao.
Cuộc khởi nghĩa và phong trào Cần Vương ở Nghệ An thất bại nhưng đã
hun đúc tinh thần yêu nước, ý chí chống giặc ngoại xâm của nhân dân xứ Nghệ,
làm điểm tựa tinh thần cho những phong trào đấu tranh tiếp theo. c. Nghệ ...
 
Gửi ý kiến