Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

7.1. Văn học Lớp 7

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Nga
Ngày gửi: 21h:43' 23-11-2024
Dung lượng: 602.5 KB
Số lượt tải: 34
Số lượt thích: 0 người
MỤC LỤC
BÀI 1: BẦU TRỜI TUỔI THƠ
- Văn bản Bầy chim chìa vôi
- Văn bản Đi lấy mật
- Văn bản Ngàn sao làm việc
BÀI 2: KHÚC NHẠC TÂM HỒN
- Văn bản Đồng dao mùa xuân
- Văn bản Gặp lá cơm nếp
BÀI 3: CỘI NGUỒN YÊU THƯƠNG
- Văn bản Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ
- Văn bản Người thầy đầu tiên
- Văn bản Quê hương
BÀI 4: GIAI ĐIỆU ĐẤT NƯỚC
- Văn bản: Mùa xuân nho nhỏ
- Văn bản: Gò me
- Văn bản Bài thơ đường núi của Nguyễn Đình Thi.
BÀI 5: MÀU SẮC TRĂM MIỀN
- Văn bản Tháng giêng mơ về trăng non rét ngọt.
- Văn bản Chuyện cơm hến
- Văn bản: Hội lồng tồng

BÀI 1: BẦU TRỜI TUỔI THƠ
VĂN BẢN: BẦY CHIM CHÌA VÔI

(Nguyễn Quang Thiều)

A. NỘI DUNG
I. Kiến thức chung về truyện ngắn
1. Khái niệm
- Truyện: Là một loại tác phẩm văn học kể lại một câu chuyện, có cốt truyện, nhân vật, không
gian, thời gian, hoàn cảnh diễn ra các sự việc.
- Đề tài là phạm vi đời sống được phản ánh, thể hiện trực tiếp trong tác phẩm văn học.
- Tiểu thuyết: Là tác phẩm văn xuôi cỡ lớn có nội dung phong phú, cốt truyện phức tạp, phản
ánh nhiều sự kiện, cảnh ngộ, miêu tả nhiều tuyến nhân vật, nhiều quan hệ chồng chéo với
những diễn biến tâm lí phức tạp, đa dạng.
2. Đặc điểm truyện
- Bối cảnh:
+ Bối cảnh lịch sử: Hoàn cảnh xã hội của một thời kì lịch sử.
+ Bối cảnh riêng: Thời gian và địa điểm, quang cảnh cụ thể xảy ra câu chuyện.
1

- Tính cách nhân vật: Thể hiện qua hình dáng, cử chỉ, hành động, suy nghĩ của nhân vật, qua
nhận xét của người kể chuyện và mối quan hệ với các nhân vật khác.
- Ngôi kể và tác dụng của việc thay đổi ngôi kể:
- Ngôi kể:
+ Ngôi thứ nhất: Xưng tôi.
Tác dụng ngôi kể 1: khiến cho câu chuyện được soi chiếu từ nhiều chiều, trở nên phong phú,
hấp dẫn, chứa đựng nhiều ý nghĩa hơn.
+ Ngôi thứ ba: Người kể giấu mặt.
- Tác dụng ngôi kể thứ 3: Cách kể này giúp người kể có thể kể một cách linh hoạt, tự do những
gì diễn ra với nhân vật.
4. Yêu cầu đọc hiểu truyện ngắn, tiểu thuyết
a. Đọc hiểu nội dung:
- Nêu được ấn tượng chung về văn bản.
- Nhận biết được đề tài, chủ đề, thông điệp mà văn bản muốn gửi đến người đọc.
- Nhận biết được tính cách của các nhân vật qua hành động, lời thoại,…của nhân vật và lời của
người kể chuyện.
- Nhận biết được tình cảm, cảm xúc của người viết thể hiện qua ngôn ngữ văn bản.
b. Đọc hiểu hình thức:
- Nhận biết được các yếu tố hình thức (bối cảnh, nhân vật, ngôi kể và sự thay đổi ngôi kể, từ
ngữ địa phương, đặc sắc ngôn ngữ vùng miền…)
- Nêu được những trải nghiệm trong cuộc sống giúp bản thân hiểu thêm về nhân vật, sự việc
trong tác phẩm văn học.
* Cách đọc hiểu văn bản truyện ngắn
- Xác định những sự việc được kể, đâu là sự việc chính; ngôi kể.
- Nhận biết tính cách nhân vật qua các chi tiết miêu tả ngoại hình, tâm lí, hành động và lời nói.
- Nhận biết được lời của người kể chuyện và lời của nhân vật; tình cảm của nhà văn.
- Rút ra đề tài, chủ đề của truyện.
- Rút ra được bài học cho bản thân.
II. Giới thiệu tác giả tác phẩm
1. Tiểu sử
- Nguyễn Quang Thiều (1957)
- Quê quán: thôn Hoàng Dương (Làng Chùa), xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây (nay
thuộc thành phố Hà Nội)
2. Sự nghiệp
- Là một nhà thơ, nhà văn
- Làm việc tại báo Văn nghệ từ năm 1992 và rời khỏi năm 2007
- Ông sáng tác thơ, viết truyện, vẽ tranh,... và từng được trao tặng hơn 20 giải thưởng văn học
trong nước và quốc tế
- Các tác phẩm chính: Ngôi nhà tuổi 17 (1990), Thơ Nguyễn Quang Thiều (1996), Mùa hoa cải
bên sông (1989),  Người, chân dung văn học (2008)...
3. Phong cách sáng tác
2

- Những tác phẩm viết cho thiếu nhi của Nguyễn Quang Thiều rất chân thực, gần gũi với cuộc
sống đời thường, thể hiện được vẻ đẹp của tâm hồng trẻ thơ nhạy cảm, trong sáng, tràn đầy
niềm yêu thương vạn vật.
- Không chỉ là nhà thơ tiên phong với trào lưu hiện đại mà còn là cây viết văn xuôi giàu cảm
xúc. Trong ông không chỉ có con người bay bổng, ưu tư với những phiền muộn thi ca, mà còn
có một nhà báo linh hoạt và nhạy bén.
4. Tìm hiểu chung về tác phẩm:
- Thể loại: Truyện ngắn.
- Đề tài: Tuổi thơ và thiên nhiên (Hai đứa trẻ và bầy chim chìa vôi)
- Nhân vật: Hai anh em Mên và Mon.
*Các sự việc chính:
- Nửa đêm, hai anh em Mên và Mon không ngủ được, lo lắng cho bầy chim chìa vôi ở bãi cát
giữa sông khi trời mưa to, nước dâng cao.
- Hai anh em bàn kế hoạch giải cứu bầy chim chìa vôi non.
- Trong đêm tối, hai anh em bơi thuyền ra chỗ dải cát nơi có bầy chìa vôi và chứng kiến cảnh
tượng bầy chim chìa vôi bay lên khỏi mặt nước.
- Phương thức biểu đạt: Tự sự
- Ngôi kể: ngôi thứ 3, phân biệt:
- Lời người kể chuyện: Khoảng hai giờ sáng Mon tỉnh giấc. Nó xoay mình sang phía anh nó, thì
thào gọi: ; - Thằng Mên hỏi lại, giọng nó ráo hoảnh như đã thức dậy từ lâu lắm rồi”;
- Lời nhân vật:- Anh Mên ơi, anh Mên!; - Gì đấy? Mày không ngủ à?
*Bố cục: 3 phần
+ Phần 1 (từ Khoảng hai giờ sáng … mùa sinh nở của chúng): Cuộc trò chuyện lúc hai giờ sáng
của hai anh em Mên – Mon và nỗi băn khoăn về bầy chim chìa vôi.
+ Phần 2 (từ Mùa mưa năm nay … ông Hảo mà đi): Hai anh em trốn đi cứu bầy chim chìa vôi
trong đêm mưa bão.
+ Phần 3 (từ Trôi đến đoạn sông … Không em ứ chơi với anh nữa): Những con chim chìa vôi
non cất cánh và ấn tượng xúc động của hai anh em.
Tóm tắt: Vào một đêm mưa bão, hai anh em Mon và Mên trằn trọc không ngủ được vì lo lắng
cho bầy chim chìa vôi, làm tổ ở bãi cát giữa sông. Suy nghĩ lo lắng khiến cả hai anh em không
ngủ được, quyết tâm đi đến bờ sông ngay trong đêm để mang những chú chim vào bờ. Khi bình
minh lên, dải cát vẫn còn lộ ra trên mặt nước, trong khoảnh khắc cuối cùng, những chú chim
non bay lên không trung khiến hai đứa trẻ vui mừng, hạnh phúc.
III. Định hướng phân tích văn bản
1. Vẻ đẹp tính cách nhân vật Mên và Mon
- Là những cậu bé có tâm hồn ngây thơ, nhạy cảm, trong sáng, nhân hậu, dũng cảm, biết yêu
thương.
- Thể hiện qua các chi tiết miêu tả:
*Nhân vật Mon:
- Em sợ những con chim chìa vôi non bị chết đuối mất; Thế anh bảo nó có bơi được không?;
3

- Tổ chim sẽ bị chìm mất; Hay mình mang chúng nó vào bờ; Tổ chim ngập mất anh ạ; Mình
phải mang nó vào bờ, anh ạ;
- Không nhúc nhích, mặt tái nhợt, hửng lên ánh ngày; nhận ra mình đã khóc từ lúc nào; nhìn
nhau bật cười ngượng nghịu chạy về nhà.
- Không nhúc nhích, mặt tái nhợt, hửng lên ánh ngày; nhận ra mình đã khóc từ lúc nào; nhìn
nhau bật cười ngượng nghịu chạy về nhà.
*Nhân vật Mên:
- Có lẽ sắp ngập bãi cát rồi; chim thì bơi làm sao được.
- Làm thế nào bây giờ;
- Chứ còn sao Lúc này giọng thằng Mên tỏ vẻ rất người lớn; Nào xuống đò được rồi đấy; Phải
kéo về bến chứ, không thì chết; Bây giờ tao kéo mày đẩy; Thằng Mên quấn cái dây buộc vào
người nó và gò lưng kéo;… không nhúc nhích, mặt tái nhợt, hửng lên ánh ngày; nhận ra mình
đã khóc từ lúc nào; nhìn nhau bật cười ngượng nghịu chạy về nhà.
*Cảm xúc của Mên và Mon
- Vẫn đứng không nhúc nhích; mặt tái nhợ vì nước mưa hửng lên ánh ngày, lặng lẽ nhìn nhau
khóc;
- Bật cười ngượng nghịu chạy về phía ngôi nhà.
=> Hai anh em khóc vì vui sướng hạnh phúc khi chứng kiến bầy chim chìa vôi không bị chết
đuối; khóc vì được chứng kiến cảnh kì diệu của thiên nhiên,…
*Nhận xét nghệ thuật xây dựng nhân vật: Miêu tả tâm lí tinh tế, ngôn ngữ đối thoại sinh
động; đặt nhân vật vào tình huống mang tính thử thách để bộc lộ tính cách,…
2. Vẻ đẹp khung cảnh bãi sông trong buổi bình minh: kì diệu, thể hiện sức sống mãnh liệt
của tự nhiên và bản lĩnh của sự sinh tồn
- Thể hiện:
+ Chi tiết miêu tả cảnh tượng như huyền thoại: những cánh chim bé bỏng và ướt át đột ngột bứt
khỏi dòng nước khổng lồ bay lên (sự tương phản giữa hai hình ảnh cánh chim bé bỏng với dòng
nước khổng lồ và cảm xúc ngỡ ngàng, vui sướng của hai anh em Mên và Mon khi thấy bầy
chim chìa vôi non không bị chết đuối mặc dù dải cát nơi chúng làm tổ đã chìm trong dòng nước
lũ.
+ Chi tiết miêu tả khoảnh khắc bầy chim chìa vôi non cất cánh: nếu bầy chim non cất cánh sớm
hơn, chúng sẽ bị rơi xuống dòng nước trên đường từ bãi cát vào bờ. Và nếu chúng cất cánh
chậm một giây thôi, chúng sẽ bị dòng nước cuốn chìm. Chi tiết này cho ta cảm nhận về sự kì
diệu của thế giới tự nhiên và bản lĩnh của sự sinh tồn.
+ Chi tiết gợi hình ảnh và cảm xúc: Một con chim chìa vôi non đột nhiên rơi xuống như một
chiếc lá; con chim mẹ xoè rộng đôi cánh kêu lên- che chở khích lệ chim non và khi đôi chân
mảnh dẻ, run rẩy của chú chim vừa chạm đến mặt sông thì đôi cánh của nó đập một nhịp quyết
định, tấm thân bé bỏng của con chim vụt bứt ra khỏi dòng nước lũ, và bay lên cao hơn lần cất
cánh đầu tiên ở bãi cát.
+ Chi tiết miêu tả bầy chim non: Chúng đậu xuống bên lùm dứa dại bờ sông sau chuyến bay
đầu tiên và cũng là chuyến bay quan trọng (…) kì vĩ nhất trong đời chúng. Đây là chi tiết thể
hiện sức sống mãnh liệt của thiên nhiên; gợi liên tưởng đến lòng dũng cảm, những khoảnh khắc
con người vượt qua gian nan thử thách để trưởng thành...
4

3. Đánh giá
a. Nghệ thuật
- Xây dựng tình huống truyện sinh động, gần gũi.
- Xây dựng nhân vật qua lời nói, hành động;
- Miêu tả tâm lí nhân vật đặc sắc.
- Ngôn ngữ đối thoại sinh động.
- Cách kể chuyện tự nhiên, hấp dẫn.
b. Nội dung – Ý nghĩa
- Truyện kể về tình cảm trong sáng, hồn nhiên,tấm lòng nhân hậu, yêu thương của hai đứa
trẻ đối với bầy chim chìa vôi.
- Truyện bồi dưỡng lòng trắc ẩn, tình yêu loài vật, yêu thiên nhiên quanh mình.
BÀI MẪU THAM KHẢO
Nhà văn Nguyễn Quang Thiều có nhiều tác phẩm đặc sắc viết cho thiếu nhi. “Bầy chim
chìa vôi” là một trong những tác phẩm đó. Truyện gửi gắm nhiều bài học ý nghĩa, sâu sắc.
Chuyện kể về Mon và Mên nhân vật chính trong truyện. Tình huống truyện được tác giả
xây dựng khá độc đáo. Khoảng hai giờ sáng, Mon tỉnh giấc rồi quay sang gọi anh trai là Mên.
Liên tiếp những câu hỏi như: “Anh bảo mưa có to không?”, “Nhưng anh bảo ước sông có lên to
không?” đã bộc lộ được vẻ lo lắng, bồn chồn của Mon. Những câu hỏi dồn dập khiến Mên gắt
lên: “Bảo cái gì mà bảo lắm thế”. Nhưng khi nghe Mon nói rằng: “Em sợ những con chim chìa
vôi non bị chết đuối mất”, Mên cũng hiểu ra. Đáp lại câu nói của em trai, Mên cũng bộc lộ sự lo
lắng: “Tao cũng sợ”. Thế rồi, cả hai đều không ngủ được, tiếp tục trò chuyện. Tài liệu của
Nhung tây Mon kể cho Mên nghe chuyện mình lén thả con cá bống mà bố đã bắt được. Mên
không trách mắng em mà chỉ bật cười khoái chí. Qua chi tiết này, có thể thấy được sự hồn
nhiên, thơ ngây của hai nhân vật này.
Sau một hồi bàn bạc, Mon đề nghị ra bờ sông cứu bầy chim chìa vôi. Không ngại mưa gió,
nguy hiểm, hai anh em lấy đò của ông Hảo để đi. Có thể thấy, Mon và Mên là những cậu bé
dũng cảm, giàu tình yêu thương loài vật. Cả hai tiếp tục trò chuyện. Khi đến gần bờ sông Mon
và Mên lập cập tụt xuống khỏi đò. Mên quấn cái dây buộc đò vào người rồi gò lưng kéo, Mon
lội bì bõm phía sau. Cho đến khi hai anh em đưa được con đò trở về chỗ cũ thì trời đã tang tảng
sáng. Cả hai chạy ngược lên đoạn bờ sông đối diện với bãi cát. Mon lại hỏi Mên xem bờ sông
đã ngập hết chưa, cánh chim có bay được không. Câu nói của Mon: “Anh ơi, có khi bố dậy rồi
đấy” khiến cho cả hai lòng đầy lo sợ. Thì ra, chúng cũng vẫn là những đứa trẻ biết lo sợ bị bố
mẹ mắng, vậy mà suy nghĩ và hành động lại thật đáng trân trọng. Đặc biệt, tác giả đã khắc họa
một khung cảnh tuyệt đẹp. Khi bình minh đã đủ để soi rọi những hạt mưa trên mặt sông, cũng là
lúc dòng nước khổng lồ đã nuốt chửng phần còn lại của bãi cát. Những cánh chim chìa vôi bé
bỏng đã ướt át bứt ra khỏi mặt nước, dương cao đôi cánh bay lên trời cao. Từ chiều qua, nước
đã dâng lên nhanh hơn. Nước dâng lên đến đâu, chim bố và chim mẹ lại dẫn bầy con tránh nước
đến đó. Những chú chim nhảy đến phần cao nhất của dải cát, nhảy lò cò trên những đôi chân
mảnh dẻ chưa thật sự cứng cáp. Bỗng một con chim đuối sức. Đôi cánh của nó dừng lại, rơi như
một chiếc lá, thế nhưng nó vẫn kiên cường dùng sức lực của chính bản thân mình để bay lên
hòa mình với bầy đàn. Hình ảnh cuối truyện Mon và Mên đứng yên không nhúc nhích. Khuôn
mặt tái nhợt vì nước mưa hừng lên ánh ngày. Cả hai nhận ra đã khóc từ lúc nào. Đó là giọt nước
mặt của sự xúc động, tình yêu thương.
5

Truyện ngắn Bầy chim chìa vôi, tác giả đã gửi gắm thông điệp sâu sắc. Chúng ta hãy
sống hòa hợp, gắn bó và yêu thương loài vật, có như vậy cuộc sống mới trở lên ý nghĩa và ấm
áp biết bao.
B. LUYỆN TẬP
1. Dạng bài tập trắc nghiệm
Câu 1: Truyện được kể theo ngôi thứ mấy?
A. Ngôi thứ nhất
B. Ngôi thứ 2
C. Ngôi thứ 3
D. Kết hợp ngôi 1 và 3
Câu 2: Bầy chim chìa vôi có bao nhiêu nhân vật?
A. 2
B. 3
C. 4
D. 5
Câu 3: Đề tài của bầy chim chìa vôi là
A. Gia đình
B. Phụ nữ
C. Trẻ em
D. Học đường
Câu 4: Điều gì khiến hai an hem Mên, Mon lo lắng?
A. Những con chim chìa vôi non có thể bị chết đuối
B. Những con cá bống của bố bị người ta bắt mất
C. Những con chim chìa vôi không thẻ bay về tổ
D. Những con cá bống của bố bị cuốn đi nơi khác
Câu 5: Đâu là tính cách của nhân vật Mon?
A. Có trách nhiệm biết suy nghĩ
B. Biết quan tâm mọi thứ xung quanh
C. Yêu động vật thiên nhiên
D. Tất cả đáp án trên đều đúng
Câu 6: Bầy chim chìa vôi cất cánh có thành công hay không?
A. Có
B. Không
2. Dạng đọc hiểu ngữ liệu SGK
BÀI SỐ 1
Đọc đoạn trích sau và tra lời các câu hỏi:
Khoảng hai giờ sáng Mon tỉnh giấc. Nó xoay mình sang phía anh nó thì thào:
- Anh Mên ơi, anh Mên!
- Gì đấy? Mày không ngủ à? - Thằng Mên hỏi lại, giọng nó ráo hoảnh như đã thức
dậy từ lâu lắm rồi.
- Anh bảo mưa có to không?
- Lị chẳng to. Thế mày không nghe thấy gì à?
- Nhưng anh bảo nước sông lên có to không?
- Bây giờ phải ngập đến cánh bãi dưới rồi.
- Thế anh bảo...
- Bảo cái gì mà bảo lắm thế - Mên gắt em nó.
- Em bảo - Mon ngập ngừng - Thế cái bãi cát giữa sông đã ngập chưa?
- Ừ nhỉ - Giọng thằng Mên chợt thảng thốt - Có lẽ sắp ngập mất bãi cát rồi.
- Em sợ những con chim chìa vôi non bị chết đuối mất.
- Tao cũng sợ.
- Thế anh bảo chúng nó có bơi được không?
6

- Chim thì bơi làm sao được. Mày làm chim chìa vôi cứ như vịt ấy.
Hai đứa bé nằm trong chiếc chăn dạ đã rách nhiều chỗ thì thầm nói chuyện. Bên
ngoài mưa vẫn to. Trong tiếng mưa hình như có tiếng nước sông dâng cao xiên xiết
chảy.
- Chiều hôm qua em theo bố đi kéo chũm ở bờ sông.
- Thế thì sao?
- Bố bảo chỉ ở sông làng mình chim chìa vôi mới làm tổ như thế. Sao nó lại không
làm tổ ở trên bờ hả anh?
- Tao không biết.
Mưa càng to và gió càng mạnh. Cánh cửa liếp bị gió thổi đập cành cạch. Có tiếng
người đi qua đầu ngõ nhà hai đứa bé gọi nhau. Một ai đó nói: "Mẹ kiếp. Năm nay
nước sông to phải biết."
- Ai đi đâu đấy hả anh? Mon hỏi.
- Người trong làng đi kéo chũm sông về.
- Nhỡ nước ngập bãi cát thì sao, hả anh?
- Mày đừng hỏi nữa, ngủ đi.
Mên gắt và xoay lưng về phía em nó. Hai đứa bé nằm im, nhưng không ngủ.
( Trích Bày chim chìa vôi – SGK Ngữ văn 7 tập 1 - Nguyễn Quang Thiều)

Câu 1: Đoạn trích trên trích trong văn bản nào? Tác giả là ai?
Câu 2: Xác định phương thức biểu đạt và ngôi kể của đoạn trích trên? Tác dụng
của ngôi kể đó?
Câu 3: Trong đoạn trích trên nhân vật Mon và Mên lo lắng điều gì?
Câu 4: Xác định nội dung của đoạn trích trên?
Câu 5: Tính cách của hai nhân vật Mon và Mên hiện ra qua đoạn trích trên như thế
nào?
Gợi ý trả lời
Câu 1: Đoạn văn trên được trích trong văn bản Bầy chim chìa vôi của tác giả Nguyễn Quang
Thiều
Câu 2: Phương thức biểu đạt: Tự sự
- Ngôi kể Thứ ba
Tác dụng: Cách kể này giúp người kể có thể kể một cách linh hoạt, tự do những gì diễn ra với
nhân vật.
Câu 3: Mên và Mon lo lắng cho bày chim chìa vôi sợ ko bơi được vào bờ, sợ nước sông dâng
ngập bãi cát, bầy chim chìa vôi non sẽ bị chết đuối.
Câu 4: Nội dung của đoạn trích trên cuộc đối thoại của Mên và Mon. Trong một đêm mưa
lớn, Mon tỉnh giấc lúc gần hai giờ sáng. Cậu đã gọi Mên dậy để nói chuyện, bộc lộ nỗi lo lắng
của mình. Cậu lo lắng cho bầy chim chìa vôi làm tổ ở gần bờ sông. Cơn mưa lớn kéo dài sẽ
khiến cho nước sông dâng cao, những con chim non sẽ bị chết đuốithể hiện sự lo lắng cho bày
chim chìa vôi sau một đêm mưa lớn sự bày chim chìa vôi sẽ bị chết đuối.
Câu 5: Là những cậu bé có tâm hồn ngây thơ, nhạy cảm, trong sáng, nhân hậu, dũng cảm, biết
yêu thương.
BÀI SỐ 2
7

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:
Suốt từ chiều hôm qua, nước bắt đầu dâng nhanh hơn. Nước dâng lên đến đâu, hai
con chim bố và chim mẹ lại dẫn bầy chim non đi tránh nước đến đó. Cứ như thế
chúng tiến dần đến chỗ cao nhất của dải cát. Và cứ thế suốt đêm bầy chim non vừa
nhảy lò cò trên những đôi chân mảnh dẻ chưa thật cứng cáp vừa đập cánh. Chim bố
và chim mẹ cũng đập cánh như để dạy và khuyến khích. Hẳn chúng sốt ruột mong
đàn con chóng có đủ sức tự nâng mình lên khỏi mặt đất một cách chắc chắn. Nếu
cất cánh sớm, bầy chim non sẽ bị rơi xuống nước trên đường bay từ dải cát vào bờ.
Nhưng nếu cất cánh chậm, chúng sẽ bị dòng nước cuốn chìm...
Và bây giờ bầy chim đã bay lên. Mặt trời như lên nhanh hơn mọi ngày và mưa đã
đột ngột tạnh hẳn. Chợt một con chim như đuối sức. Ðôi cánh của nó chợt như
dừng lại. Nó rơi xuống như một chiếc lá. Con chim mẹ xòe rộng đôi cánh lượn
quanh đứa con và kêu lên. Nhưng khi đôi chân mảnh dẻ và run rẩy của con chim
non chạm vào mặt sông thì đôi cánh của nó đập một nhịp quyết định. Tấm thân bé
bỏng vụt bứt ra khỏi dòng nước và bay lên cao hơn lần cất cánh đầu tiên ở bãi cát.
Quanh hai đứa bé tất cả vụt im lặng, chỉ có tiếng đập cánh quyết liệt của bầy chim
non. Hình như chúng nghe thấy trong ngực mình nhịp đập của những trái tim chim
hối hả nhưng đều đặn. Cuối cùng toàn thể bầy chim non đã thực hiện được tốt đẹp
chuyến bay đầu tiên kỳ vĩ và quan trọng nhất trong đời. Những đôi cánh yếu ớt đã
hạ xuống bên một lùm dứa dại bờ sông.
Hai anh em thằng Mên vẫn đứng không nhúc nhích. Trên gương mặt tái nhợt vì
nước mưa của chúng hừng lên ánh ngày. Thằng Mên lặng lẽ quay lại nhìn em nó.
Và cả hai đứa bé nhận ra chúng đã khóc từ lúc nào.
- Tại sao mày lại khóc? - Thằng Mên hỏi.
- Em không biết, thế anh?
Hai anh em thằng Mên nhìn nhau và cùng bật cười ngượng nghịu. Rồi bỗng cả hai
đứa cùng quay người và rướn mình chạy về phía ngôi nhà của chúng. Ðược một
đoạn, thằng Mon đứng lại thở và gọi:
- Anh Mên, anh Mên. Ðợi em với. Không em ứ chơi với anh nữa.
(Nguyễn Quang Thiều, Bầy chim chìa vôi)
Câu 1. Đoạn trích sử dụng ngôi kể thứ mấy?
Câu 2. Tìm những chi tiết chim bố và chim mẹ lo lắng, chăm sóc cho bầy chim
non. Qua những chi tiết ấy, giúp em cảm nhận được điều gì về chim bố và chim
mẹ?
Câu 3. Tại sao bầy chim non bé bỏng vụt bứt ra khỏi dòng nước và bay lên cao lại
được coi là “chuyến bay kì vĩ và quan trọng nhất trong đời”?
Câu 4. Chứng kiến cảnh bầy chim non với “tấm thân bé bỏng vụt bứt ra khỏi dòng
nước và bay lên cao”, hai anh em Mên và Mon “vẫn đứng không nhúc nhích;
gương mặt hừng lên ánh ngày”. Em hình dung tâm trạng của hai anh em lúc đó như
thế nào?
Gợi ý trả lời
Câu 1. Ngôi kể thứ ba.
8

Câu 2.
*Chi tiết chim bố và chim mẹ lo lắng, chăm sóc cho bầy chim non:
- Dẫn bầy chim non đi tránh nước;
- Đập cánh như để dạy và khuyến khích;
- Sốt ruột mong đàn con chúng có đủ sức nâng mình lên...
- Xòe rộng đôi cánh lượn quanh đứa con và kêu lên.
*Cảm nhận về chim bố và chim mẹ: Giàu tình yêu thương, lo lắng và hết lòng hi sinh vì con.
Câu 3. Bầy chim non bé bỏng vụt bứt ra khỏi dòng nước và bay lên cao lại được coi là “chuyến
bay kì vĩ và quan trọng nhất trong đời” vì nó là bước khởi đầu biết tự lập bay để thoát khỏi thử
thách nguy hiểm; khẳng định sức sống mãnh liệt của bản thân; đánh dấu sự trưởng thành...
Câu 4. Có thể hình dung tâm trạng của hai anh em lúc đó: lo lắng, hồi hộp, cảm động, hạnh
phúc, tràn đầy hi vọng...
3. Dạng ngữ liệu Đọc Hiểu ngoài SGK

BÀI SỐ 4
Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
“Tôi chẳng tìm thấy ở tôi một năng khiếu gì. Và không hiểu vì sao tôi
không thể thân với Mèo như trước kia được nữa. Chỉ cần một lỗi nhỏ ở nó là tôi gắt
um lên. Tôi quyết định làm một việc mà tôi vẫn coi khinh: xem trộm những bức tranh
của Mèo. Dường như mọi thứ có trong ngôi nhà của chúng tôi đều được nó đưa
vào tranh. Mặc dù nó vẽ bằng những nét to tướng, nhưng ngay cả cái bát múc cám
lợn, sứt một miếng cũng trở nên ngộ nghĩnh. Con mèo vằn vào tranh, to hơn cả con
hổ nhưng nét mặt lại vô cùng dễ mến ...”
(Trích Bức tranh của em gái tôi - Tạ Duy Anh)
Câu 1: Cho biết phương thức biểu đạt chính của văn bản em vừa tìm được?
Câu 2: Văn bản được kể theo ngôi thứ mấy? Nêu tác dụng của ngôi kể ấy? Nhân vật
chính trong văn bản em vừa tìm được là ai?
Câu 3: Trong đoạn trích, người anh có hành động gì đối với Mèo? Theo em, trong
đời sống, chúng ta có nên làm những hành động như vậy không? Vì sao?
Câu 4: Tìm một phép so sánh có trong đoạn trên. Cho biết đó là kiểu so sánh nào?
Gợi ý trả lời
Câu 1:
- PTBĐ chính: Tự sự
Câu 2:
- Ngôi kể: Ngôi thứ nhất
- Tác dụng: Câu chuyện được kể từ ngôi thứ nhất, bằng lời của người anh. Ngôi kể này cho
phép tác giả có thể miêu tả diễn biến tâm trạng nhân vật của người anh một cách tự nhiên nhất.
Đằng ngôi kể này, người anh tự bộc lộ những suy nghĩ chân thật nhất của mình đổng thời người
anh cũng có dịp để tự suy ngẫm, tự soi xét lại mình và vượt lên trên sự ghen tị nhỏ nhen. Qua
đó chủ đề của tác phẩm cũng được bộc lộ rõ hơn => Câu chuyện trở nên chân thực hơn
Câu 3:
- Hành động người anh: Lén xem trộm những bức vẽ của Mèo
9

- Trong cuộc sống, chúng ta không nên có những hành động như vậy, vì xem đồ của người khác
khi chưa nhận được sự đồng ý của họ là thiếu lịch sự, văn hóa
Câu 4: Hình ảnh so sánh: Con mèo vằn vào tranh, to hơn cả con hổ nhưng nét mặt lại vô cùng
dễ mến ..=>so sánh không ngang bằng
BÀI SỐ 5
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi
Giời chớm hè. Cây cối um tùm. Cả làng thơm. Cây hoa lan nở hoa trắng xoá. Hoa
giẻ từng chùm mảnh dẻ. Hoa móng rồng[1] bụ bẫm thơm như mùi mít chín ở góc
vườn ông Tuyên. Ong vàng, ong vò vẽ, ong mật đánh lộn nhau để hút mật ở hoa.
Chúng đuổi cả bướm. Bướm hiền lành bỏ chỗ lao xao. Từng đàn rủ nhau lặng lẽ bay
đi.
Sớm. Chúng tôi tụ hội ở góc sân. Toàn chuyện trẻ em. Râm ran.
Các… Các… Các…
Một con bồ các[2] kêu váng lên. Cái con này bao giờ cũng vừa bay vừa kêu cứ như
bị ai đuổi đánh.
Chị Điệp nhanh nhảu:
– Bồ các là bác chim ri. Chim ri là dì sáo sậu[3]. Sáo sậu là cậu sáo đen. Sáo đen là
em tu hú. Tu hú lại là chú bồ các,…
Thế thì ra dây mơ, rễ má thế nào mà chúng đều có họ với nhau. Họ của chúng đều
hiền cả. Chúng đều mang vui đến cho giời đất. Sáo sậu, sáo đen hót, đậu cả lên lưng
trâu mà hót mừng được mùa. Nhà bác Vui có con sáo đen tọ toẹ[4] học nói. Nó bay
đi ăn, chiều chiều lại về với chủ. Con tu hú to nhất họ, nó kêu “tu hú” là mùa tu
hú[5] chín; không sai một tẹo nào. Cả làng có mỗi cây tu hú ở vườn ông Tấn. Tu hú
đỗ ngọn cây tu hú mà kêu. Quả chín đỏ, đầy ụ như mâm xôi gấc. Tiếng tu hú hiếm
hoi; quả hết, nó bay đi đâu biệt.
Một đàn chim ngói sạt qua rồi vội vã kéo nhau về hướng mặt trời lặn.
Nhạn tha hồ vùng vẫy tít mây xanh “chéc chéc”.
Khi con bìm bịp kêu “bịp bịp” tức là đã thổng buổi[6]. Nghe đâu trước đây có một
ông sư dữ như hổ mang. Lúc ông ta chết, giời bắt ông ta hoá thân làm con bìm bịp.
Ông ta phải tự nhận là bịp, mở miệng ra là “bịp bịp”. Giời khoác cho nó bộ cánh
nâu, suốt đêm ngày rúc trong bụi cây. Khi nó kêu thì một loạt chim ác, chim xấu mới
ra mặt. Ít khi chúng ra mặt vào buổi sớm.
(Trích lao xao - Duy Khán)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt của đoạn trích trên?
Câu 2: Những loài chim nào được kể trong đoạn trên?
Câu 3: Cho biết trình tự kể tả của tác giả?
Câu 4: Tìm những câu đồng dao, thành ngữ được kể ra trong đoạn trích trên?
Câu 5. Bài văn đã cho em những hiểu biết gì mới và những tình cảm như thế nào về
thiên nhiên, làng quê qua hình ảnh các loài chim?
Gợi ý trả lời
Câu 1: Phương thức biểu đạt: Miêu tả, kể chuyện
Câu 2: Các loài chim được kể, tả : bồ các, sáo sậu, sáođen, chim ngói, chim nhạn, bìm bịp,
chèo bẻo, quạ, chim cắt.
10

Câu 3: Trình tự kể, tả : Tả chim lành có quan hệ họ hàng; rồi mới tả chim dữ, có quan hệ đối
nghịch.
Câu 4: Dùng đồng dao: Bồ các làbác chim ri …,  chú bồ các.
- Dùng thành ngữ: “ Kẻ cắpbà già, cụ bảo không dám đến, lia lia láu láu như quạ nhìn chuồng
lợn”.
- Kể chuyện: “ Nghe đâu… mở miệng là bịp”.
Câu 5: Bài văn cung cấp cho chúng ta những hiểu biết thú vị về các loài chim và đời sống của
nó để thêm yêu chúng, yêu làng quê Việt Nam.
4. Dạng viết ngắn
Đề bài: Đoạn văn cảm nhận về nhân vật Mon
Truyện ngắn “Bầy chim chìa vôi” của tác giả Nguyễn Quang Thiều đã giúp tôi nhận ra
bài học giá trị sâu sắc. Nhân vật Mon và Mên đã được nhà văn đặt vào một tình huống đặc biệt.
Trong một đêm mưa lớn, Mon tỉnh giấc lúc gần hai giờ sáng. Cậu đã gọi Mên dậy để nói
chuyện, bộc lộ nỗi lo lắng của mình. Cậu lo lắng cho bầy chim chìa vôi làm tổ ở gần bờ sông.
Cơn mưa lớn kéo dài sẽ khiến cho nước sông dâng cao, những con chim non sẽ bị chết đuối.
Sau một hồi bàn bạc, Mon và Mên đã quyết định sẽ ra bờ sông để giải cứu bầy chim. Khi nhìn
thấy khi nhìn thấy bầy chim non có thể cất cánh bay lên, cả hai nhận ra mình đã bật khóc từ lúc
nào. Đó là giọt nước mắt của sung sướng và hạnh phúc. Qua nhân vật này, Qua nhân vật Mon,
chúng ta nhận ra bài học quý giá về tình yêu thương động vật.
Đề bài: Ghi lại cảm xúc của em về khung cảnh bãi sông trong một buổi sáng bình minh.
Đoạn văn miêu tả khung cảnh bãi sông trong buổi bình minh thật nên thơ, nhẹ nhàng. Nó
đã hằn in trong em những cảm xúc thật khó tả nhưng có lẽ hình ảnh những chú chim chìa vôi
con cất cánh bay lên "Từ mặt nước sông, những cánh chim bé bỏng và ướt át đột ngột bứt khỏi
dòng nước khổng lồ bay lên" đã để lại cho em thật nhiều ấn tượng. Chú chim con bé bỏng còn
nhiều yếu ớt lại bị nước mưa làm ướt mình nhưng chúng đã đột ngột bứt khỏi mặt nước mặc dù
còn nhiều bỡ ngỡ.  Ở đây, em nhận thấy được sự đối lập giữa sự nhỏ bé của chú chim chìa vôi
và sự rộng lớn, mênh mông của dòng nước. Từ đó, nó đã cho em cảm nhận được sự dũng cảm,
mạnh mẽ vượt qua sự khắc nghiệt của thời tiết tìm đến chỗ ở an toàn hơn của những chú chim
chìa
vôi
con
nhỏ
bé.

VĂN BẢN: ĐI LẤY MẬT
(Đoàn Giỏi)

I. Kiến thức cơ bản về tác phẩm
1. Giới thiệu tác giả:
- Đoàn Giỏi (1925-1989), quê ở Tiền Giang.
- Ông thường viết về thiên nhiên, con người và cuộc sống ở miền đất phương Nam với vẻ đẹp
của vùng đất trù phú, người dân chất phác, thuần hậu, can đảm, nghĩa tình.
- Tác phẩm tiểu biểu: Đường về gia hương, Cá bống mú, Đất rừng phương Nam,..
2. Giới thiệu tác phẩm:
- Đoạn trích “Đi lấy mật” là tên chương 9 của tiểu thuyết Đất rừng phương Nam, kể lại một lần
An theo tía nuôi và Cò đi lấy mật ong trong rừng U Minh.
11

*Thể loại: Tiểu thuyết.
*Nhân vật: Tía An, má nuôi An, An là con nuôi trong gia đình Cò và Cò. Họ sinh sống ở vùng
rừng tràm U Minh.
*Các sự việc chính:
- Tía nuôi An dẫn An và Cò đi lấy mật ong rừng;
- Trên đường đi, họ nghỉ chân, Cò đố An nhận biết được con ong mật. Bóng nắng lên, họ giở
cơm ra ăn;
- Họ tiếp tục đi đến khoảng đất rộng, An reo lên khi nhìn thấy bầy chim. Gặp một kèo ong gác,
An nhớ chuyện má nuôi kể về cách đặt gác kèo ong;
- An nhìn lên kèo ong nghĩ về cách “thuần hoá” ong rừng rất riêng biệt của người dân vùng U
Minh. Rồi mọi người cùng ngồi ăn cơm dưới bụi cây râm mát.
* Tóm tắt: Đoạn trích “Đi lấy mật” kể về một lần An cùng Cò và cha nuôi cùng nhau vào rừng
U Minh đi lấy mật ong. Xuyên suốt đoạn trích là cảnh sắc đất rừng phương Nam được tác giả
miêu tả hiện lên vô cùng sinh động, vừa bí ẩn, hùng vĩ, lại vừa thân thuộc, gắn liền với cuộc
sống của người dân nơi đây qua những suy nghĩ của cậu bé An.
*Ngôi kể: Ngôi thứ nhất
*Bố cục:
- Phần 1: Từ đầu đến “trong các bụi cây”: Đi lấy mật ong rừng;
- Phần 2: Từ “Lần đầu tiên…” đến “…màu xanh lá ngái” Nghỉ chân ăn cơm và nhận biết con
ong mật;
- Phần 3: Từ “Chúng tôi tiếp tục đi…..” đến “…thấy ghét quá”: An nhớ chuyện má nuôi kể
chuyện cách lấy mật ong;
- Phần 4: Còn lại: An nghĩ về về cách “thuần hoá” ong rừng của người dân U Minh.
+ Đề tài:
- Tuổi thơ và thiên nhiên (Đi lấy mật trong rừng U Minh).
a. Vẻ đẹp cảnh sắc thiên nhiên rừng U Minh
- Rừng U Minh hiện lên với vẻ đẹp phong phú, hoang sơ, kì thú và đầy chất thơ: Bình minh yên
tĩnh trong vắt, mát lành; buổi trưa tràn đầy ánh nắng, ngây ngất hương hoa tràm; tiếng chim hót
líu lo; nhiều loài cây nhiều màu sắc, nhiều loài côn trùng bé nhỏ kì lạ cùng thế giới đầy bí ẩn
của loài ong;…
- Thể hiện:
- Những câu văn miêu tả: “Buổi sáng…..một lớp thuỷ tinh”; “Rừng cây im lặng quá…..những
cánh mỏng và dài”; “Phải hết sức tinh mắt…..nghe được”; “Chim hót líu lo…..màu xanh lá
ngái”;….
- Chi tiết miêu tả:
+ Buổi sáng, đất rừng thật là yên tĩnh. Trời không gió, nhưng không khí vẫn mát lạnh….Ánh
sáng trong vắt, hơi gợn một chút óng ánh trên những đầu hoa tràm rung rung, khiến ta nhìn cái
gì cũng có cảm giác như là nó bao qua một lớp thuỷ tinh;
+ Rừng cây im lặng quá. Một tiếng lá rơi lúc này cũng có thể khiến người ta giật mình;
+ Đó là ruồi xanh đang bay đứng. Óng ánh lướt những lá bông súng dưới vũng kia là con
chuồn chuồn bay ngang với những cánh mỏng và dài;
+ Phải hết sức tinh mắt, thính tai mới tìm được những tay sứ giả của bình minh này. Một
con….hai con…ba con…Rồi một đàn mười mấy con bay nối nhau như một chuỗi hạt cườm,
12

trong những tầng xanh cây lá, có một cái chấm nâu đen cỡ đầu đĩa vụt qua rất nhanh….tiếng
kêu eo…eo…eo…eo;
+ Chim hót líu lo. Nắng bốc hương hoa tràm.
thơm ngây ngất. Gió đưa mùi hương ngọt lan ra, phảng phất khắp rừng;
+ Mấy con kì nhông nằm vươn mình phơi lưng trên gốc cây mục, sắc da lưng luôn luôn biến đổi
từ xanh hoá vàng, từ vàng hoá đỏ, từ đỏ hoá tím xanh;
+ Giữa vùng cỏ tranh khô vàng, gió thổi lao xao, một bầy chim hàng nghìn con vọt cất cánh
bay lên…
=>Cảnh sắc thiên nhiên được nhà văn tái hiện qua cái nhìn của nhân vật An. Qua đó, giúp ta
thấy được khả năng quan sát tinh tế, có tâm hồn trong sáng, biết phát hiện và cảm nhận vẻ đẹp
của thiên nhiên.
b. Vẻ đẹp con người phương Nam: mạnh mẽ, giàu lòng nhân hậu, yêu thương con người, trân
trọng sự sống và thiên nhiên.
*Thể hiện ở các chi tiết miêu tả:
- Nhân vật tía nuôi:
+ Vóc dáng khoẻ mạnh vững chãi; cử chỉ mạnh mẽ, dứt khoát,…;
+ Lời nói, cách cư xử: nghe An thở phía sau ông đã biết cậu bé mệt và cần nghỉ chân; chú tâm
lo cho An hơn Cò vì biết An chưa quen đi rừng,…
+ Biết gác kèo cho ong rừng làm tổ rất giỏi và biết bảo vệ đàn ong…
- Nhân vật Cò:
+ Thằng Cò đội cái thúng to tướng; coi đi bộ chưa thấm t...
 
Gửi ý kiến