Violet
Dethi

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra

Các đề luyện thi

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: nguyễn thị thanh giang
Ngày gửi: 09h:33' 24-01-2025
Dung lượng: 36.2 KB
Số lượt tải: 19
Số lượt thích: 0 người
Phân tích Tức cảnh Pác Bó - mẫu 2
Thú lâm tuyền đã từng xuất hiện trong thơ ca của các nhà nho xưa như Nguyễn Trãi,
Nguyễn Bỉnh Khiêm. Và niềm vui thú khi được sống cùng thiên nhiên đó cũng xuất hiện
trong thơ ca Hồ Chí Minh, tiêu biểu là bài thơ "Tức cảnh Pác Bó":
"Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang".
Bài thơ này được Bác viết vào tháng 2 năm 1941, sau ba mươi năm bôn ba và hoạt động
cách mạng ở nước ngoài, Bác trở về để lãnh đạo cách mạng Việt Nam một cách trực tiếp
với mục đích nhanh chóng giành được thắng lợi, giải phóng nhân dân khỏi ách áp bức.
Bác sống và làm việc trong một hang núi nhỏ sát biên giới Việt - Trung, đó là hang Pác
Bó. Con suối cạnh hang Pác Bó được Bác đặt tên là suối Lê-nin. Ngày ngày, nhịp sinh
hoạt của Bác cứ diễn ra đều đặn, sáng sớm Bác ra bờ suối làm việc, tối đến Bác vào trong
hang để nghỉ ngơi. Và khi nhắc đến chỗ ở, khung cảnh sinh hoạt thường ngày của mình,
Bác đã dùng một giọng điệu thơ hết sức vui tươi xen lẫn sự hóm hỉnh: "Sáng ra bờ suối,
tối vào hang"
Nhịp thơ 4/3 cùng với phép đối "sáng" - "tối", "ra - vào" đã cho chúng ta thấy được nếp
sinh hoạt nhịp nhàng, đều đặn của Bác. Không gian sinh hoạt của Người được diễn ra ở
hai địa điểm: hang và suối. Song song với đó là hai hành động "ra bờ suối" , "vào hang"
cứ tuần hoàn, nối tiếp nhau như sự tuần hoàn của tự nhiên, tạo vật. Câu thơ chỉ có 7 tiếng
ngắn gọn nhưng đã miêu tả được chi tiết hoàn cảnh sống của Bác qua thời gian "sáng" "tối", hoạt động "ra" - "vào" và địa điểm "bờ suối" - "hang".
Qua giọng điệu thơ dí dỏm, bạn đọc phần nào hình dung được tâm thế chủ động, sống
hòa hợp với thiên nhiên của Bác. Chính tâm hồn ung dung, thoải mái đã giúp Bác chiến
thắng mọi hoàn cảnh khắc nghiệt. Sống và làm việc trong hoàn cảnh khó khăn như vậy
nên bữa ăn của Bác cũng hết sức đạm bạc, dân dã: "Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng".
Nhắc đến núi rừng Tây Bắc chúng ta không thể không nhắc đến hai sản vật "cháo bẹ" và
"rau măng". Đây là những món ăn quen thuộc có mặt hàng ngày trong bữa ăn của Bác.
Cháo ngô, măng rừng đã thay thế cho cơm. "Cháo bẹ", "rau măng" luôn được chuẩn bị
đầy đủ để phục vụ cho các bữa ăn của Người. Ngoài ra, chúng ta có thể nhận thấy rằng
Hồ Chí Minh đón nhận những điều đó bằng một tâm thế "sẵn sàng" của người chiến sĩ
cách mạng không đầu hàng trước mọi hoàn cảnh.

Bác không những không yêu cầu được chăm sóc, phục vụ tốt hơn hay than vãn, phàn nàn
về cuộc sống ấy mà ngược lại, Người tỏ ra hoàn toàn vui vẻ và thích ứng với hoàn cảnh
gian khổ. Trong khi đất nước bị xâm lược, cuộc sống nhân dân điêu đứng, lầm than, Bác
không thể chỉ nghĩ cho riêng bản thân mình mà Bác nghĩ cho toàn thể nhân dân, dân tộc.
Nếu phiến đá bên bờ suối Lê-nin gợi ra sự không cân bằng, nhấp nhô, khập khiễng bao
nhiêu thì quyết tâm làm việc của Bác lại cứng rắn, quyết liệt bấy nhiêu. Công việc của
Bác cần có sự tập trung cao độ. Ta có thể hình dung Bác dịch cuốn "Lịch sử Đảng Cộng
sản Liên Xô" để làm tài liệu học tập cho các cán bộ cách mạng lúc bấy giờ trên bàn làm
việc không được cân bằng do từ láy tượng hình "chông chênh" gợi ra.
Cả cuộc đời hoạt động cách mạng không mệt mỏi, Người đã thấy rằng: "Cuộc đời cách
mạng thật là sang". Được mang sức lực của mình phục vụ cho nhân dân, đất nước là một
niềm hạnh phúc đối với Hồ Chí Minh. Bác không quản ngại khó khăn, gian truân để cống
hiến, mang lại độc lập, tự do cho dân tộc. Lý tưởng cách mạng đã soi sáng cho con đường
của người chiến sĩ cộng sản. Từ "sang" đã phần nào bộc lộ phong thái ung dung, lạc
quan, yêu đời của Bác.
Bác không cần một chỗ ở sang trọng, những bữa ăn đầy đủ cá thịt hay cần một chiếc bàn
làm việc bằng phẳng. Điều Bác cần là được đứng trong hàng ngũ Đảng Cộng sản, chiến
đấu để mang lại cuộc sống hòa bình, no ấm cho nhân dân. Chắc có lẽ trên thế giới hiếm
có ai "sang" theo kiểu của Bác. Bằng tinh thần yêu nước sâu sắc, Bác Hồ đã luôn khắc
phục, vượt lên trên hoàn cảnh để cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Ba câu đầu của bài thơ thiên về tả cảnh, chỉ đến câu thơ cuối Bác Hồ mới bộc lộ tâm
trạng nhưng dường như nụ cười vui tươi vẫn thấp thoáng sau mỗi câu thơ của Người. Nó
đã đẩy lùi đi tất cả những khó khăn, nguy hiểm và tiếp thêm tinh thần cho Bác, một tinh
thần "thép" giữa hoàn cảnh sống và làm việc thiếu thốn, gian khổ.
Bài thơ "Tức cảnh Pác Bó" được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt cùng với cách ngắt nhịp
4/3 đã tạo nên nhịp điệu thơ nhẹ nhàng, khoan thai. Giọng thơ hài hước, hóm hỉnh đã cho
thấy tinh thần lạc quan, sự ung dung trong hoàn cảnh đầy khó khăn của người chiến sĩ
cộng sản. Đối với Bác, không có niềm vui nào lớn hơn là niềm vui làm cách mạng, mang
lại độc lập cho dân tộc và sống hòa hợp với thiên nhiên.
Để có được những bài thơ hay mỗi người làm thơ cần có tư duy và sự sáng tạo nhất định.
Đặc biệt trong thơ ca thì việc sáng tạo cùng với cảm xúc của người sáng tác rất quan
trọng, chính vì vậy bạn hãy cùng tham khảo danh sách những bài thơ hay để học tập cũng
như có thêm kinh nghiệm để việc sáng tác hay tự làm thơ với phong cách riêng của mình
dễ dàng nhất nhé.

Phân tích Tức cảnh Pác Bó - mẫu 3
“Bác Hồ, Người là niềm tin thiết tha nhất trong lòng dân và trong trái tim nhân loại.” Có
một câu hát như thế đã đi qua biết bao những tháng năm. Hồ Chí Minh- vị lãnh tụ vĩ đại
của dân tộc Việt Nam, con người “ chỉ biết quên mình cho hết thảy” không phải ngẫu
nhiên được Thế giới tôn vinh là Danh nhân Văn hóa. Người không chỉ là một nhà lãnh
đạo tài ba, một nhà Văn hóa lớn, một nhà tư tưởng lớn mà còn là một Nhà văn, một thi sĩ.
Trong cuốn” Nhật kí trong tù” được viết trong khoảng thời gian Bác bị chính quyền
Tưởng Giới Thạch bắt giam, nhà thi sĩ ấy đã từng bộc bạch:
“Ngâm thơ ta vốn không ham”.
Con người ấy chưa một lần nhận mình là thi sĩ. Bác chỉ khẳng định tình yêu đối với văn
nghệ nói chung và văn chương nói riêng. Nhưng Người cha già dân tộc chưa một lần
nhận mình là thi sĩ ấy đã để lại cho nền Văn học Việt Nam cả một gia tài quý báu. Một
trong số đó, bài thơ “ Tức cảnh Pác Bó” để lại trong lòng người đọc những ấn tượng sâu
sắc.
Tháng Hai năm 1941, sau ba mươi năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài, Bác Hồ đã về
nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc cách mạng của dân tộc. Người sống trong hang Pác Bómột hang núi nhỏ sát với biên giới Việt- Trung. Trước cửa hang, có một phiến đá gồ ghề
được Bác chọn làm nơi ngồi dịch sử Đảng bên một con suối trong vắt được Người đặt tên
là suối Lê-nin. Tại đây, Bác Hồ viết bài thơ “Tức cảnh Pác Bó” để nói về cuộc sống
kham khổ những ngày đầu của cuộc kháng chiến dai dẳng đánh đuổi thực dân xâm lược,
đồng thời thể hiện một tinh thần lạc quang thông qua nhãn quang của người chiến sĩ Cách
mạng.
Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. Câu thơ mở đầu gợi hình
dung về cuộc sống sinh hoạt và làm việc của Bác tại hang Pác Bó (Cao Bằng):
“Sáng ra bờ suối, tối vào hang”
Nhịp thơ 4/3, chia câu thơ thành hai vế đối nhau rất chỉnh. Đối vế: “ Sáng ra bờ suối “/ “
tối vào hang”, đối thời gian “sáng”/ “tối”, đối hoạt động “ra”/ “vào”, đối không gian thiên
nhiên rộng mở “bờ suối” với không gian nhỏ chật hẹp “hang”. Nghệ thuật đối kết hợp với
các động từ được sử dụng hết sức giản dị như vẽ ra trước mắt chúng ta một cuộc sống bí
mật, tuy thế mà vẫn rất có quy củ, nề nếp. Đặc biệt, giọng thơ cũng giúp ta cảm nhận
được tâm trạng thoải mái, ung dung, hòa điệu cùng nhịp sống núi rừng của Bác. Phải
chăng đó là bởi con người yêu thiên nhiên, luôn hòa mình với thiên nhiên, đắm say trước
vẻ đẹp của thiên nhiên ngay cả trong hoàn cảnh tù đày:

“Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.”
Nếu như câu thơ thứ nhất giới thiệu khái quát về cuộc sống tại hang Pác Bó – Cao Bằng
thì câu thơ thứ hai tiếp tục làm rõ về những ngày sáng sống giản dị và có phần khó khăn
ấy:
“Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng”
Câu thơ hoàn toàn được thêu dệt bằng bút pháp tả thực. Đó là những món ăn hàng ngày
của Bác ở rừng Pác Bó. Cách diễn đạt của nhà thi sĩ ấy rất hóm hỉnh, làm cho câu thơ ánh
lên nét cười. Cháo bẹ, rau măng là những món ăn nghèo đạm bạc nhưng chứa chan tình
cảm bởi đó là những thức ăn do thiên nhiên ban tặng và người dân cung cấp. Thưởng
thức cháo bẹ, rau măng là niềm vui của người chiến sĩ cách mạng luôn biết sống gắn bó
với thiên nhiên, với nhân dân. Qua đó có thể thấy Bác Hồ là một người có tình yêu thiên
nhiên, yêu cuộc sống tha thiết và coi thường mọi khó khăn gian khổ. Có phải vì thế mà
sau này, Người đã răn dạy thế hệ sau:
“Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên”?
Câu thơ thứ nhất và câu thơ thứ hai nói về cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của Người
chiến sĩ cách mạng để rồi đến câu thơ thứ ba, Bác viết về những công việc trong công
cuộc hoạt động cách mạng của mình:
“Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng”
Từ láy “chông chênh” gợi tự thế không vững chãi, không bằng phẳng, không ổn định.
Bàn đá chông chênh hay cũng chính là hình ảnh tượng trưng cho cuộc cách mạng của
nhân dân ta thời kì đầu rất khó khăn, gian khổ. Đồng thời đó cũng là một hình ảnh có
thực về hòn đá được Người chọn làm nơi làm việc bên con suối trong vắt được Bác đặt
tên là suối Lê-nin. Có thể thấy cuộc sống sinh hoạt đã đạm bạc, nghèo khó, cuộc sống

làm việc lại càng thiếu thốn hơn. Bác Hồ hiện lên vừa như một người khách lâm tuyền,
vừa là một chiến sĩ cách mạng vĩ đại.
Bài thơ kết lại với câu thơ nêu cảm nghĩ của Bác về cuộc đời Cách mạng:
“Cuộc đời cách mạng thật là sang”
Câu thơ được viết bằng kiểu câu cảm thán dùng để khẳng định: cuộc đời cách mạng sang.
“ Sang” là sự giàu có, là tinh thần của một tâm hồn luôn tìm thấy sự thư thái giữa thiên
nhiên. “ Sang” cũng còn là sự sang trọng, giàu có của một con người luôn tự thấy mình
sống có ích cho cách mạng, cho nhân dân.
Chỉ bằng bốn câu thơ ngắn gọn, giọng thơ gần gũi, ngôn ngữ thơ giản dị, “ Tức cảnh Pác
Bó” như một bức tranh tốc kí với những đường nét rất đỗi thanh sơ, chất phác và mộc
mạc về cuộc sống sinh hoạt và làm việc của vị lãnh tụ vĩ đại nói riêng cũng như những
chiến sĩ cách mạng nói riêng những năm đầu cuộc kháng chiến đầy gian nan và thử thách.
Từ đó giúp cho thế hệ sau hiểu hơn về giá trị của sự sống hòa bình mà ngày nay ta đang
có, biết sống và học tập để trở thành người có ích cho xã hội, góp phần dựng xây và gìn
giữ quê hương đất nước.
Phân tích bài thơ Chiều hôm nhớ nhà - mẫu 2
Trong làng thơ Việt Nam, có những nữ sĩ để lại cho thơ ca dân tộc những dấu ấn đẹp.
Nếu thơ Hồ Xuân Hương tài ba, ngạo mạn thì thơ bà Huyện Thanh Quan lại trang nhã,
trữ tình và duyên dáng. Đọc thơ bà, ta thấy nỗi buồn man mác, tâm trạng hoài cổ thật
thanh cao đượm sự cô đơn, trống vắng. Một trong những bài thơ đó là tác phẩm Chiều
hôm nhớ nhà. Tìm hiểu bài thơ ta sẽ thấy tài thơ điêu luyện của Bà:
Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn
Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn Gác mái, ngư ông về viễn phố Gõ sừng, mục tử lại cô
thôn Ngàn mây gió cuốn chim bay mỏi
Dặm liễu sương sa khách bước dồn
Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn
Ở hai câu đề, khoảng thời gian là trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn. Ánh sáng vẫn còn
đó, nhưng chỉ còn là ánh lờ mờ của ngày tàn và đêm sắp tới. Câu thơ chỉ giới thiệu thời
gian mà người đọc như cảm thấy cả không gian một vùng quê rộng lớn. Trước thiên

nhiên ấy, giữa trời và đất, có một cái gì đó tràn ngập con người nhạy cảm. Buổi chiều là
thời gian dễ buồn nhất và đó cũng là khoảng thời gian thường xuất hiện trong thơ của bà
Huyện Thanh Quan. Con người trong cuộc sống hỗn độn, ồn ào vẫn có một lúc nào đó trở
về với cái bình yên muôn thuở của thiên nhiên, về với chính lòng mình. Và lúc này chính
là khoảnh khắc đó của nữ sĩ.
Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn
Âm thanh từ xa vẳng đến như thúc giục, nhưng vẫn có cái trầm lặng trong đó báo hiệu
cho mọi người: ngày sắp hết. Ta như gặp một nét thân quen, man mác của câu ca dao:
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.
Tâm trạng của tác giả đã phần nào được ngầm hiểu trong cách lựa chọn thời gian, không
khí và thanh âm. Trong cảnh chiều, trong tiếng gọi tàn ngày đó, con người hiện ra:
Gác mái, ngư ông về viễn phố
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn.
Câu thơ với nhịp 2/5 làm cho ta có cảm giác hoạt động con người đang giảm dần, đang đi
tới kết thúc. Phép đối rất chuẩn cùng với những từ Hán Việt đã góp phần tạo nên vẻ trang
nhã, cổ kính của hai câu thơ gợi tả này. Trước cảnh thiên nhiên to lớn, con người thật
nhỏ, yếu thế và có phần đơn độc. Đó cũng là đặc điểm của thơ Thanh Quan. Gặp cảnh và
người ở đây ta không thể không liên tưởng đến cảnh và người.
Lom khom dưới núi, tiều vài chú
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà
Trong Qua đèo Ngang của cùng tác giả, cảnh và người đều vậy: lặng lẽ, đượm buồn. Ta
có cảm giác nhà thơ cũng đang lặng lẽ, thẩn thờ. Và con đường trước mắt bà thì sao, hai
câu luận đã vẽ ra khung cảnh:
Ngàn mây gió cuốn chim bay mỏi
Dặm liễu sương sa khách bước dồn
Khoảng đường trước mắt như vô tận. Chim bay mỏi mà chưa tới nơi, khách bước dồn mà
chưa tới chốn. Con đường đi hay con đường đời đang dàn trải? Phép đối từng cặp hình
ảnh ngàn mây dặm liễu, gió cuốn - sương sa, chim bay mỏi - khách bước dồn làm ý thêm

nhấn mạnh. Những từ ngữ bước dồn, bay mỏi cho thấy tâm trạng chán chường, mỏi mệt
của nhà thơ. Tâm trạng ấy tất dẫn đến hai câu thơ kết thúc:
Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn
Không có ai để tâm sự, trời đất thì bao la, vắng lặng, trống trải, khiến tác giả quay về với
nội tâm, với lòng buồn sẵn có của mình. Câu thơ cuối, vừa như một câu cảm, vừa như
một câu hỏi. Ta đã từng bắt gặp những câu thơ tài ba đó trong thơ bà:
Dừng chân đứng lại, trời non nước
 Một mảnh tình riêng, ta với ta
(Qua đèo Ngang)

Cảnh đấy, người đây luống đoạn trường
(Thăng Long hoài cổ)
Qua đó, ta càng hiểu được nỗi niềm tâm sự của tác giả. Mang tiếng nói của tầng lớp quý
tộc phong kiến đang trên đường suy thoái, thơ Thanh Quan biểu hiện một khía cạnh tư
tưởng của văn chương thế kỉ 18 - 19, phản ánh tâm tư của lớp nho sĩ chán nản bế tắc.
Tiếng thơ đó cũng biểu hiện tâm trạng hoài cổ, thiết tha nhớ nhà Lê đã suy vi. Phải chăng
đó cũng là tâm tình của tập đoàn phong kiến đã hết thời vàng son, hết vai trò lịch sử? Đặt
bài thơ của nữ sĩ vào bối cảnh lịch sử như thế, ta có biểu hiện sâu thêm cái buồn trong
lòng bà: cái buồn thời đại.
Thơ bà buồn, nhưng không vì thế mà mất vẻ đẹp gợi cảm. Trái lại, nhờ vậy càng tăng
thêm phần đặc sắc. Thơ bà đẹp một cách trầm lặng như chính tâm hồn bà.
Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan mãi mãi đưa đến cho chúng ta những
cảm xúc chân thành, đậm đà trước nét buồn thanh tao, đưa đến những suy nghĩa sâu xa
hơn về con người và xã hội. Một bài thơ đóng lại nhưng còn mở ra, tạo nên một dư âm
trong lòng người đọc.
Trong thế giới thơ Việt Nam, nữ sĩ đã để lại những dấu ấn đẹp, và Bà Huyện Thanh Quan
là một trong số những nhà thơ nữ xuất sắc. So với tài năng ngạo mạn của Hồ Xuân
Hương, thì thơ của Bà Huyện Thanh Quan lại toát lên vẻ trang nhã, trữ tình và duyên
dáng. Trong những bài thơ của bà, ta cảm nhận được không khí của nỗi buồn man mác,

tâm trạng hoài cổ cao quý đượm sự cô đơn và trống vắng. Một trong những tác phẩm nổi
bật của bà là "Chiều hôm nhớ nhà," nơi tài thơ điêu luyện của bà thể hiện rõ. Trời chiều
rơi bóng lảng vào bức tranh hoàng hôn, khiến không gian trở nên ấm áp và tràn ngập cảm
xúc. Tiếng ốc xa vang, như một điệu nhạc trống dồn, đưa đến âm thanh nhẹ nhàng, êm
đềm, như chính là giọng hòa nhạc của tự nhiên. Gác mái, ngư ông về viễn phố, tạo ra
hình ảnh của sự quay về, của sự bình yên sau những ngày lao động. Gõ sừng, mục tử lại
cô thôn, như một nét văn hóa sâu sắc, làm nổi bật nét truyền thống trong cuộc sống của
những người dân quê mùa. Cảnh tượng này không chỉ là hình ảnh mà còn là ký ức, là sự
đậm chất văn hóa.

QUÀ LƯU NIỆM
Cô gái 24 tuổi ở Sài Gòn hóa tỉ phú nhờ giấu kĩ vật này dưới gối!
TÌM HIỂU THÊM
Ngàn mây gió cuốn chim bay mỏi, mô tả một khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, làm nổi
bật sự mệt mỏi của đám chim sau những chặng đường dài. Bức tranh này không chỉ là về
cảnh đẹp tự nhiên mà còn là về những nỗ lực, sự đối mặt với khó khăn của con người. Tất
cả những hình ảnh này được Bà Huyện Thanh Quan sắp xếp một cách tinh tế, chọn từ
ngữ một cách khéo léo, tạo nên một bức tranh thơ đầy ấn tượng và lôi cuốn. Thơ của bà
không chỉ là sự sắp đặt các từ ngữ mà còn là sự thấu hiểu sâu sắc về tâm hồn con người
và vẻ đẹp của tự nhiên. Đó chính là điểm mạnh của tài thơ điêu luyện của Bà Huyện
Thanh Quan, để lại cho độc giả những trải nghiệm tâm linh sâu sắc và khó quên.
Dặm liễu sương sa khách bước dồn
Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn
Trong hai câu đề đầu tiên, Bà Huyện Thanh Quan tạo ra một không khí chiều tà bình yên
và trữ tình, khiến người đọc cảm nhận được sự lảng mạng của hoàng hôn trên bảng trời.
Dưới ánh ánh sáng dịu dàng, cảnh đẹp tự nhiên bắt đầu hiện lên với những gam màu ấm
áp, làm nổi bật hình ảnh của một vùng quê yên bình. "Bảng lảng" tạo hình ảnh ánh sáng
dịu dàng và lờ mờ, làm nổi bật không gian buổi chiều, nơi hoàng hôn bắt đầu chiếm lĩnh,

và ánh sáng trở nên mềm mại. Sự lảng mạng này không chỉ là một đặc điểm của thời
gian, mà còn là bức tranh tĩnh lặng của tự nhiên, tạo ra một không khí lãng mạn và dễ
chịu.
Việc sử dụng "bảng lảng" cũng có thể ám chỉ đến bức tranh tự nhiên, cảnh đẹp mà Bà
Huyện Thanh Quan muốn truyền đạt. Từ ngôn ngữ này, người đọc có thể hình dung ra
cảnh đẹp của một vùng quê yên bình, với ánh hoàng hôn tạo nên bức tranh mộng mơ và
huyền bí. Khi nói đến buổi chiều, tác giả thường thể hiện một sự buồn bã, một cảm giác
lẻ loi và suy tư. Buổi chiều chính là khoảnh khắc tĩnh lặng, khi con người có thể tìm lại
sự bình yên và cảm nhận được vẻ đẹp tĩnh lặng của thiên nhiên.
Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn
Âm thanh từ xa vang đến như một lời thúc giục, nhưng vẫn giữ nguyên cái trầm lặng kỳ
diệu, đó là dấu hiệu rõ ràng cho mọi người biết rằng ngày đã gần kết thúc. Trước bức
tranh này, chúng ta như đang chạm vào một nét thân quen, hòa mình trong không khí
man mác của những câu ca dao quê hương. Âm thanh đó không chỉ đơn giản là một âm
thanh, mà như một cảm xúc, là một lời nhắc nhở về thời gian, về sự tạm biệt và kết thúc
một ngày. Nó giống như những giai điệu lấp lánh của những câu ca dao, vô tình đánh
thức những ký ức tĩnh lặng, những giây phút êm đềm dưới bóng chiều tà. Bức tranh này
không chỉ đưa ta đến với thế giới âm thanh mà còn làm cho chúng ta ngửi thấy hương vị
của quê hương, cảm nhận được sự chấm dứt của một ngày. Nó là một lời nhắc nhở nhẹ
nhàng về sự trôi qua của thời gian, về vẻ đẹp trong sự tĩnh lặng và lòng nhẹ nhàng như
những câu ca dao dân gian.
Trong bức tranh này, người đọc không chỉ nghe thấy âm thanh mà còn nhận thức được
tâm trạng sâu sắc, cái gì đó thân quen và trải lòng như hòa mình vào câu chuyện của quê
hương. Đó chính là sức mạnh của từ ngữ, biến những âm thanh bình dị thành những cảm
xúc sâu sắc, làm cho bức tranh thơ trở nên sống động và gần gũi hơn với trái tim của
người đọc.
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.
Tâm trạng của tác giả được tinh tế thể hiện thông qua sự chọn lựa kỹ thuật văn hóa, tập
trung vào thời điểm, không khí và âm thanh. Trong khung cảnh hữu tình của buổi chiều,
qua tiếng gọi mỏi mòn của tàn ngày, tác giả đã khéo léo tái hiện tâm lý phức tạp và đầy
nghệ thuật. Thời điểm chọn lọc là chiều tà, nơi ánh sáng chuyển dịch, và hoàng hôn bắt
đầu chiếm lĩnh. Sự lựa chọn này không chỉ tạo ra bức tranh tự nhiên tuyệt vời mà còn

chứa đựng sâu sắc nét buồn của tâm hồn tác giả. Sự lảng mạng của ánh sáng "bảng lảng"
đã làm nổi bật không gian, tăng cường cảm nhận về vẻ đẹp mộng mơ và huyền bí. Tiếng
gọi tàn ngày được mô tả một cách mở cửa rộng, không chỉ là âm thanh thông thường mà
còn chứa đựng sự mệt mỏi và nhọc nhằn của cuộc sống. Sự lựa chọn này giúp tạo ra một
không khí khó diễn đạt bằng từ ngữ, làm tăng cường hiệu ứng cảm xúc của bài thơ.
Gác mái, ngư ông về viễn phố
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn.
Câu thơ với nhịp 2/5 như một nhịp điệu nhẹ nhàng, làm cho ta dễ dàng cảm nhận được sự
giảm dần, bí hiểm và tĩnh lặng của hoạt động con người, như một bức tranh tĩnh lặng của
cuộc sống dần dần chìm vào bóng tối. Phép đối được sử dụng một cách tinh tế, tạo nên
một sự cân bằng đối xứng, chuẩn xác, giúp bức tranh thơ trở nên uyển chuyển và trang
nhã. Những từ Hán Việt được lựa chọn kỹ lưỡng, như bảng lảng, hoàng hôn, ngư ông,
viễn phố, không chỉ làm tăng thêm vẻ trang nhã và cổ điển mà còn làm cho người đọc
hòa mình vào không khí tinh tế và huyền bí của bức tranh thơ. Đó chính là sự sáng tạo vô
song của Bà Huyện Thanh Quan, khiến cho những từ ngữ không chỉ là mô tả, mà còn trở
thành những hình ảnh sống động, níu giữ tâm trí và tình cảm của độc giả.
Trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ, con người trở nên nhỏ bé, yếu đuối, và có phần cô đơn.
Sự đơn độc này không chỉ là của con người trước bản lãnh tự nhiên mà còn là của tâm
hồn, khi mỗi bước chân của họ dường như trải qua những khoảnh khắc tĩnh lặng, giữa thế
giới to lớn và vô tận của thiên nhiên. Điều này là nét đặc trưng của thơ Bà Huyện Thanh
Quan, nơi con người và tự nhiên hòa mình vào một không gian tĩnh lặng và biểu tượng.
Gặp cảnh và người ở đây, ta không thể không nhớ đến cảnh và người, như một liên tưởng
tự nhiên, mở ra một thế giới tưởng tượng đẹp đẽ và lưu luyến. Đó chính là sức mạnh của
từ ngữ và tưởng tượng trong thơ của Bà Huyện Thanh Quan, khiến cho độc giả không chỉ
đọc thơ mà còn trải nghiệm và cảm nhận được sự đẹp tinh tế và sâu sắc của nghệ thuật
thơ ca.
Lom khom dưới núi, tiều vài chú
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà
Trong tác phẩm "Qua Đèo Ngang" của cùng tác giả, cảnh và con người đều chìm đắm
trong sự lặng lẽ và đượm buồn, tạo nên một không khí tĩnh lặng và u sầu. Trong từng câu
thơ, ta có cảm giác như nhà thơ đang lặng lẽ, thẩn thờ, chìm đắm vào hồn quê, trong sự
trầm tư và nghệ thuật biểu đạt tinh tế. Câu thơ khéo léo vẽ nên bức tranh của con đường
trước mắt bà, làm cho độc giả hình dung được một không gian đầy lịch sử và nỗi nhớ.

Hai câu thơ này như những bức tranh lặng lẽ, tĩnh mịch về con đường ngoằn nghèo, đầy
những kỷ niệm, những chuyến đi, và những câu chuyện lịch sử. Bà Huyện Thanh Quan
đã sử dụng từ ngữ một cách tinh tế, để làm cho từng chi tiết của con đường hiện lên như
những dấu vết của thời gian, tô điểm bằng sự lặng lẽ và đọng lại trong lòng người đọc.
Nhà thơ không chỉ mô tả cảnh đẹp mà còn truyền đạt tâm hồn sâu lắng và nỗi nhớ thương
của mình. Bức tranh không chỉ là hình ảnh mà còn là hồn quê, là sự khắc sâu của thời
gian và ký ức. Nhà thơ lặng lẽ thẩn thờ giữa không gian quen thuộc, nơi mỗi chi tiết đều
là một câu chuyện, một dấu ấn của quá khứ. Từng câu thơ trong "Qua Đèo Ngang" không
chỉ là một mô tả, mà còn là một hành trình tìm về quê hương và chính mình. Sự lặng lẽ
trong từng từ, từng hình ảnh làm cho độc giả không chỉ đọc mà còn trải qua cảm xúc,
nhìn nhận sâu sắc về tình cảm và tâm trạng mà nhà thơ muốn truyền đạt.
Ngàn mây gió cuốn chim bay mỏi
Dặm liễu sương sa khách bước dồn
Trên con đường trước mắt, bao la như vô tận. Những chú chim bay mỏi mệt giữa bầu
trời, dù đã hành trình mệt mỏi nhưng vẫn chưa đạt tới nơi đích. Nhưng cũng như những
khách du lịch, mặc dù bước đi đều nhưng vẫn chưa đến được đích đến của họ. Những
hình ảnh này là những phản ánh hình tượng sâu sắc về con đường của cuộc sống, hay còn
gọi là con đường đời. Sự lặp lại của từ "mỏi mệt" và "bước dồn" không chỉ thể hiện sự
chán chường và mệt mỏi của người thơ, mà còn làm nổi bật sự đối lập giữa nỗ lực và mệt
mỏi trong cuộc hành trình của con người. Nơi đây, ngôn ngữ tinh tế của nhà thơ như một
bức tranh vẽ nên bức hình về những đau khổ và khó khăn trên hành trình của cuộc sống.
Câu hỏi về con đường đi hay con đường đời đang dần mở ra một tầm nhìn triết học, đặt ra
nghi vấn về ý nghĩa của cuộc sống và hành trình đi tìm kiếm ý nghĩa đó. Phép đối từng
cặp hình ảnh như ngàn mây dặm liễu, gió cuốn, sương sa, chim bay mỏi, khách bước dồn
là một sự tinh tế, làm tăng thêm sự huyền bí và nỗi mơ mộng của hành trình đời người.
Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn
Bên cạnh hình ảnh vô tận của trời đất bao la, như một không gian lớn và tĩnh lặng, tác giả
lại đối mặt với sự vắng lặng và trống trải trong cuộc sống, khiến cho trái tim ông quay về
với nội tâm, chìm đắm trong cảm xúc buồn bên trong. Không ai để tâm sự, nguyên cảnh
thiên nhiên khổng lồ vẫn đọng lại trong sự lặng lẽ, tạo nên một bức tranh tĩnh mịch, đầy
hòa mình vào sự cô đơn và buồn bã.

Câu thơ cuối cùng, với vẻ ngoài của một câu cảm, đồng thời chứa đựng sự nghiệp hỏi,
làm cho độc giả đồng cảm và suy ngẫm. Nó không chỉ là một biểu hiện của tâm trạng cá
nhân mà còn là một câu hỏi hòa mình vào không gian thơ của bà Huyện Thanh Quan.
Câu thơ này như một điểm dừng, làm cho người đọc dừng lại và cảm nhận sâu sắc về sự
đơn độc và hỏi về ý nghĩa của cuộc sống.
Những câu thơ tài ba của bà Huyện Thanh Quan không chỉ là biểu hiện của một nghệ sĩ
mà còn là hình ảnh của một tâm hồn đang lững thững trước vẻ đẹp và sự bất biến của tự
nhiên. Nó là sự nối kết giữa cảm xúc cá nhân và những vấn đề lớn lao về cuộc sống và
tồn tại, làm cho thơ của bà không chỉ là tuyệt tác nghệ thuật mà còn là dấu vết sâu sắc của
con người trước sự huyền bí và phức tạp của thế giới.
Dừng chân đứng lại, trời non nước
 Một mảnh tình riêng, ta với ta
(Qua đèo Ngang)

Cảnh đấy, người đây luống đoạn trường
(Thăng Long hoài cổ)
Bài thơ "Chiều hôm nhớ nhà" của Bà Huyện Thanh Quan không chỉ là một tác phẩm văn
học đơn thuần mà còn là một tấm gương thấu hiểu tâm hồn, tư tưởng của những người
phong kiến đang trải qua giai đoạn suy thoái. Cảm nhận của tác giả về nỗi buồn, sự chán
nản, và tình cảm hoài cổ được thể hiện qua từng chi tiết nhỏ trong bài thơ. Qua từng đoạn
văn, người đọc được đưa về thời kỳ lịch sử, nơi mà tầng lớp quý tộc đang trên đường suy
thoái. Thơ Thanh Quan không chỉ là tiếng nói của lớp nho sĩ mà còn là bức tranh sống
động về tâm trạng, tư tưởng của họ. Sự chán nản, bế tắc trong tình thế lịch sử được thể
hiện rõ qua tiếng thơ. Điều này làm nổi bật tâm tư buồn bã, thiết tha nhớ về nhà cũ, và
cảm giác hoài cổ về thời kỳ phồn thịnh đã qua.
Mặt khác, bài thơ không chỉ mang tâm trạng buồn nỗi mà còn là một tác phẩm đẹp đẽ,
trầm lặng, phản ánh tâm hồn sâu sắc của tác giả. Bức tranh thiên nhiên, ánh chiều tà,
tiếng đàn chime làm cho thơ trở nên đặc sắc và cuốn hút độc giả. Sự kết hợp này giúp bài
thơ trở nên phong cách, không chỉ là tác phẩm tâm lý mà còn là tác phẩm nghệ thuật.
Tóm lại, "Chiều hôm nhớ nhà" không chỉ là một bức tranh lịch sử mà còn là một tác
phẩm thơ có độ sâu về tâm hồn con người, với sự kết hợp tinh tế giữa nỗi buồn, sự hoài

cổ và vẻ đẹp của ngôn ngữ. Bài thơ đọng lại nhưng lại mở ra nhiều cảm xúc và suy nghĩ,
để lại một ấn tượng sâu sắc trong tâm trí độc giả.
Quê hương - tế hanh
Quê hương – bến đỗ bình yên nhất trong cuộc đời của mỗi con người.Dù có đi đâu xa, trôi dạt giữa dòng
đời tấp nập thì sâu thẳm trái tim vẫn luôn mong ngóng và trở về quê hương. Với nhà thơ Tế Hanh cũng
vậy, cũng dạt dào và cháy bỏng một tình yêu với nơi chôn rau cắt rốn. Để rồi bài thơ “Quê Hương” ra đời
như là một sự tất yếu của tâm hồn giàu cảm xúc của một người con xa quê.
Đó là cảm giác nhớ nhung da diết và cháy bỏng của một chàng thanh niên 18 tuổi.Nỗi nhớ cái mùi nồng
mặn của biển khơi.Cái vị mặn đặc trưng đó đã theo nhà thơ suốt cả cuộc đời.
Nó thâu góp gió biển để thuyền rẽ sóng ra khơi nhưng nó cũng thâu góp những hy vọng. Những mong
ước của bà con ngư dân về một chuyến ra khơi bội thu với khoang đầy tôm, cá. Vậy lúc những chiếc
thuyền trở về thì sao.Có chở đầy những hy vọng của bà con làng chài nơi vùng sông nước này không:
“Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.
“Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe”,
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm.”
Không khí của bến đỗ buổi sáng ngày hôm sau thật tưng bừng, nhộn nhịp. Dân làng tấp nập ra đón những
con thuyền trở về với khoang đầy cá tôm. Còn hạnh phúc nào lớn hơn khi nhìn thấy thành quả sau một
ngày lao động vất vả. Việc liên tục sử dụng những động từ “ồn ào , tấp nập” càng làm nổi bật lên bức
tranh của bến thuyền buổi sáng, khung cảnh sống động như hiện lên trước mắt chúng ta. Cảnh vật nào
cũng tươi mới , hoạt động nào cũng vui tươi, nhộn nhịp và rồi giữa sự tấp nập đó nhịp thơ bỗng dưng sâu
lắng khi nhà thơ viết: “Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe”.
Hân hoan trong niềm hạnh phúc người dân cũng không quên cảm ơn “Trời” đã mang cho họ có được
thành quả như ngày hôm nay. Câu nói chứa chan bao nhiêu tình cảm , thể hiện cách sống “sâu sắc như cơi
đựng trầu” của những ngư dân hiền hòa, chất phác. Bởi chúng ta biết rằng đặc thù của công việc làm nông
hay đánh cá phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết. Sóng êm , biển lặng thì con thuyền ra khơi mới được bình
yên. Ở đây không phải là sự mê tín mà là một niềm tin, niềm tin đã hình thành từ ngàn đời và tất yếu
trong suy nghĩ của những người dân làng chài.
Hình ảnh của những người lao động cũng hiện lên thật đẹp qua ngòi bút của nhà thơ. Họ mang những nét
đặc trưng của người dân vùng biển với làn da ngăm rám nắng khỏe mạnh và rắn rỏi. Và đặc biệt nhất ở
khổ thơ này là hình ảnh: "nồng thở vị xa xăm”. Một hình ảnh vô cùng trừu tượng và giàu liên tưởng. Vị
xa xăm ấy hay chính là vị của biển khơi, vị mặn mòi của muối, vị của đất trời, quê hương.
Qua hình ảnh những người ngư dân nhà thơ cũng muốn ca ngợi lên vẻ đẹp của những người lao động nói
chung. Chỉ khi lao động con người ta mới có niềm hạnh phúc, lao động chính là vinh quang. Nối tiếp
những hình ảnh giàu chất thơ ấy là khung cảnh đầy thơ mộng của con thuyền sau một ngày lao động vất
vả:

“Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ”.
Với dân chài , thuyền như là một người bạn gắn bó với họ trong những hành trình vượt biển khơi. Chuyến
ra khơi vất vả và bình yên trở về. Con thuyền cũng tự tìm cho mình một bến nghỉ, phút giây thư thái và
nghỉ ngơi hiếm hoi đó thật quý giá biết bao.Thuyền ơi hãy nghỉ ngơi nhé để ngày mai lại cùng “những trai
tráng” ra khơi ma...
 
Gửi ý kiến