Violet
Dethi

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra

Các đề luyện thi

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: suu tầm
Người gửi: Nguyễn Phương
Ngày gửi: 19h:58' 19-03-2023
Dung lượng: 23.1 KB
Số lượt tải: 254
Số lượt thích: 0 người
ĐỀ THI THỬ

I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
Anh viết cho em, tự đảo này
Cuba, hòn đảo Lửa, đảo Say
Ở đây say thật, say trời đất
Sóng biển say cùng rượu mật, say…
***
Nửa vòng Trái Đất rẽ tầng mây
Anh đến Cuba một sáng ngày
Nắng rực trời tơ và biển ngọc
Đảo tươi một dải lụa đào bay
***
Em ạ, Cuba ngọt lịm đường
Mía xanh đồng bãi, biếc đồi nương
Cam ngon, xoài ngọt vàng nông trại
Ong lạc đường hoa, rộn bốn phương
***
Anh mải mê nhìn, anh mải nghe
Mía reo theo gió những thân kè
Tóc xanh xõa bóng hàng chân trắng
Có phải tiên nga dự hội hè?...
(Trích Từ Cuba, Tố Hữu)
Câu 1. Xác định thể thơ của đoạn trích.
Câu 2. Chỉ ra những tính từ miêu tả vẻ đẹp của đất nước Cuba ở khổ thơ thứ 2.
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa trong đoạn thơ sau: 
Em ạ, Cuba ngọt lịm đường
Mía xanh đồng bãi, biếc đồi nương
Cam ngon, xoài ngọt vàng nông trại
Ong lạc đường hoa, rộn bốn phương
Câu 4. Nhận xét về tình cảm của nhà thơ Tố Hữu dành cho đất nước Cuba được thể hiện qua
đoạn thơ.
II. LÀM VĂN
Câu 1
Từ nội dung văn bản ở phần đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ)
trình bày suy nghĩ về ý thức của thanh niên trong việc xây dựng tình hữu nghị giữa các dân tộc
trên thế giới.
“Ngày Tết, Mị cũng uống rượu.Mị lén lấy hũ rượu, uống ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi
đấy nhìn người nhảy đồng, người hát. Nhưng lòng Mị đang sống về ngày trước.Tai Mị văng
vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng.Ngày trước Mị thổi sáo giỏi.Mùa xuân này, Mị uống rượu bên
bếp và thổi sáo.Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người
mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị .
Rượu đã tan lúc nào. Người về, người đi chơi đã vãn cả, Mị không biết.Mị vẫn ngồi trơ một
mình giữa nhà.Mãi sau Mị mới đứng dậy. Nhưng Mị không bước ra đường chơi, mà Mị từ từ
bước vào buồng.Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết. Mị cũng chẳng buồn đi. Bấy giờ Mị
ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng. Đã từ nãy Mị thấy phơi
phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ.
Mị muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi Tết. Huống chi A Sử với Mị, không có

lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau! Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết
ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra.Mà tiếng sáo gọi bạn vẫn
lửng lơ bay ngoài đường.
(Trích Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài, Ngữ văn 12, tập hai, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, trang
7-8)
Anh/chị hãy phân tích tâm trạng và hành động của nhân vật Mị trong đoạn trích trên, từ
đó nhận xét về cảm hứng nhân đạo của ngòi bút Tô Hoài trong đoạn trích.
GỢI Ý ĐÁP ÁN

I. ĐỌC HIỂU
Câu 1. Thể thơ 7 chữ.
Câu 2. Những tính từ miêu tả vẻ đẹp của đất nước Cuba ở khổ thơ thứ 2: Nắng rực, trời tơ, biển
ngọc…
Câu 3. Biện pháp tu từ nhân hóa: Ong lạc đường hoa. Tác dụng: làm hiện lên sự gợi hình gợi
cảm của đất nước Cuba yên bình, tươi đẹp khiến nhà thơ ngỡ ngàng.
Câu 4. Đoạn thơ miêu tả đất nước Cuba có nền nông nghiệp trù phú, cảnh đẹp thanh bình, lãng
mạn như chốn thần tiên. Đồng thời, nhà thơ Tố Hữu bày tỏ tình yêu mến, lòng cảm phục đối với
con người và đất nước Cuba khi ông có dịp đến thăm đất nước bạn.
II. LÀM VĂN
Câu 1. Ý thức của thanh niên trong việc xây dựng tình hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới:
- Tình hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới là quan hệ bạn bè thân thiện, bình đẳng giữa nước
này với nước khác dựa trên các nguyên tắc đã được các bên thỏa thuận và cam kết nhằm gây
dựng mối liên kết bền chặt giữa các quốc gia.
- Quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới sẽ tạo cơ hội và điều kiện để hợp tác, cùng
phát triển về nhiều mặt, kinh tế văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học ki thuật,… Mối quan hệ hữu
nghị giữa các quốc gia còn tạo sự hiểu biết lẫn nhau, tránh mâu thuẫn, căng thẳng dẫn đến nguy
cơ chiến tranh.
- Tạo mối quan hệ hữu nghị tiến tới hợp tác toàn diện là xu thế của thế giới ngày nay. Từ sự hợp
tác hữu nghị ban đầu sẽ mở đường cho các cơ hội khác tiếp tục phát triển sâu rộng, khai thác
hiệu quả năng lực đất nước, giải quyết các vấn đề bức thiết có liên quan giữa quốc gia mà bản
thân mỗi quốc gia không thể giải quyết được.
- Muốn xây dựng một thế giới hòa bình nhất định các quốc gia phải biết thiết lập mối quan hệ
hữu nghị với các quốc gia khác. Một khi các quốc gia tìm kiếm được tiếng nói chung và cơ hội
phát triển đất nước sẽ làm hạn chế rủi ro, xung đột, góp phần giữ gìn an ninh, trật tự và hòa bình
thế giới.
- Là thanh niên Việt Nam chúng ta có trách nhiệm phải thể hiện tình đoàn kết, hữu nghị với bạn
bè và người nước ngoài bằng thái độ, cử chỉ, việc làm thể hiện sự tôn trọng, thân thiện trong
cuộc sống hằng ngày.
+ Tôn trọng văn hóa và tăng cường giao lưu học tập lẫn nhau với các nước khác. Học tập cái
hay, cái đẹp của họ đồng thời giới thiệu rộng rãi cái hay cái đẹp của dân tộc với bạn bè quốc tế.
+ Không phân biệt đối xử hay có thái độ kì thị với bất cứ dân tộc nào trên thế giới.
+ Quyết liệt chống lại thái độ kì thị dân tộc, khiêu khích, gây mâu thuẫn giữa các dân tộc trên
thế giới. Lấy hòa bình, hợp tác, hữu nghị và bình đẳng làm nguyên tắc ứng xử.
- Giao lưu hòa nhập với thế giới nhưng không hòa tan. Phải giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt
Nam như giữ gìn chính sự sống của mình.
Câu 2
Mị uống rượu: Tiếng sáo đã dẫn đến hành động “nổi loạn” của Mị. Dịp Tết, mọi người uống
rượu, đi chơi và Mị cũng tìm đến rượu “Ngày Tết, Mị cũng uống rượu. Mị lén lấy hũ rượu, cứ

uống ực từng bát. Rồi Mị say”. Đó cũng không phải là cách uống của người thưởng xuân cũng
không phải uống vì thèm rượu.
Cách uống rượu của Mị là cách uống để giải sầu, uống rượu như nuốt căm, nuốt hận  vào lòng.
Sức chịu đựng của Mị là có hạn, đã đến lúc cần bùng cháy. Rượu chính là chất men xúc tác để
nhân vật có đủ sức mạnh và can đảm làm những việc mà khi tỉnh táo Mị không thể bởi bao áp
chế đè nặng. Vì thế mới có những diễn biến đầy phức tạp trong tâm lí và hành động của Mị
trong đêm tình mùa xuân.
Có thể nói rượu và tiếng sáo chính là chất men say đánh thức phần đời đã mất, khơi dậy sức
sống tiềm tàng vốn bị vùi chôn ở nơi sâu kín nhất trong tâm hồn của Mị. Mị lịm mặt ngồi đấy
nhưng tâm hồn Mị đang hồi sinh. Sự hồi sinh trong tâm hồn đã dẫn đến hàng chuỗi các tâm
trạng, hành động cả vô thức lẫn ý thức nhưng chứa đựng đầy sức sống của nhân vật.
Lòng Mị sống lại những ngày trước khi còn trẻ: Khi ngập mình trong hơi men nồng nàn, tha
thiết, với tiếng sáo đang đang “văng vẳng gọi bạn đầu làng”, lòng Mị đang sống về ngày trước,
hồi tưởng lại mùa xuân tươi đẹp thời con gái. Ngày ấy, Mị là người con gái xinh đẹp, tài hoa,
yêu đời, chỉ cần một chiếc lá là “Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo”. Ngày
ấy, Mị có “biết bao nhiêu người mê, cứ ngày đêm thổi sáo đi theo Mị”.
Những hồi ức thanh xuân tươi đẹp ấy sống dậy cho thấy Mị đã bắt đầu thức tỉnh, Mị đã ý thức
được về sự tồn tại, về cuộc đời của mình. Mị như ý thức được mình đang sống giữa hai thế giới:
quá khứ và hiện tại; tỉnh và say; hạnh phúc và bi kịch. Sức sống mãnh liệt đang trỗi dậy trong
tâm hồn Mị và khát vọng sống như ngọn lửa đã làm bừng sáng lại tâm hồn Mị.
Nhà văn Tô Hoài ở đây thực sự đã chứng tỏ sự am hiểu về tâm lí, tính cách của người dân vùng
cao Tây Bắc. Tâm lí của Mị không chỉ có lí trí của một người tỉnh táo mà còn phải có sự chếnh
choáng trong hơi men nồng nàn của rượu, trong kí ức của tiếng sáo năm xưa.
Mị đi vào buồng và ý thức rằng mình vẫn còn trẻ: Sự vượt lên hoàn cảnh của Mị diễn ra
không hề dễ dàng. Tô Hoài đã rất tinh tế khi đặt nhân vật Mị vào sự giao tranh giữa một bên là
sức sống tiềm tàng, một bên là ý thức về thân phận. Ngòi bút của nhà văn như hóa thân vào nhân
vật, để nâng niu, để trân trọng những khát vọng của con người, đồng thời lại rất tỉnh táo, khách
quan khi phân tích, mổ xẻ những ngóc ngách sâu kín trong tâm hồn nhân vật.
Rượu tan, người về hết, Mị ngồi trơ một mình giữa nhà rồi Mị bước vào buồng, ngồi xuống
giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trắng trắng. Căn buồng ấy chính là thực tại, là ngục
thất giam cầm tuổi thanh xuân và hủy hoại hạnh phúc của Mị. Cái lỗ vuông mờ mờ trăng trắng
kia vốn là những hình ảnh nhiều sức gợi, thể hiện Mị đã tê liệt đến mức quên cả ý niệm về
không gian, thời gian.
Nhưng giờ đây khát vọng sống và khát vọng hạnh phúc mãnh liệt khiến Mị có thể phá tan mọi
gông cùm, áp chế. Để lúc này “Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui như những
đêm Tết ngày trước”. Quá khứ và hiện tại như đan xen khiến Mị trở lại là cô Mị trẻ trung, yêu
đời ngày nào để Mị nhận ra bây giờ Mị vẫn còn rất trẻ và Mị muốn được đi chơi “Mị trẻ lắm. Mị
vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi”. Mị còn trẻ nghĩa là còn sức sống, còn khao khát, còn muốn yêu
thương.
Tâm trạng phẫn uất khi nhận thức về hiện thực phũ phàng là cuộc hôn nhân không tình
yêu: Khát vọng sống như ngọn lửa bùng cháy mãnh liệt bao nhiêu thì Mị lại phẫn uất bấy nhiêu.
Phẫn uất và đau khổ cho thân phận và số phận trớ trêu đầy bi kịch. Mị nhớ ra chẳng năm nào A
Sử cho Mị đi chơi. Mị nhận ra những người phụ nữ có chồng vẫn đi chơi ngày Tết: “Bao nhiêu
người có chồng cũng đi chơi Tết. Huống chi A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải
ở với nhau!”

Mị đã có chồng nhưng người chồng ấy không tình yêu, không hạnh phúc. Còn gì đau khổ bằng
lấy một người mà mình không có tình yêu. Còn gì đau khổ bằng phải sống với một kẻ vũ phu
chỉ xem mình là món đồ chơi và bị khinh rẻ như con vật.
Sức sống tiềm tàng đã được đánh thức, Mị không thể cam chịu mãi kiếp nô lệ, kiếp làm dâu gạt
nợ. Nhớ lại kiếp sống trâu ngựa chỉ thấy nước mắt muốn ứa ra. Mị muốn phản kháng lại hoàn
cảnh, không chấp nhận cuộc sống trâu ngựa này nữa.
Mị muốn chết để không phải đối diện với thực tại, không phải nhớ lại quá khứ cùng với những
ước mơ khao khát của mình Muốn chết để giải thoát nỗi đọa đày, muốn chết để thoát khỏi bi
kịch, điều này tiêu cực nhưng dễ thông cảm và hơn hết đã cho thấy sự thay đổi ở Mị. Mị muốn
chết chính là biểu hiện của sức sống, của khát vọng sống đích thực là một con người. Đây phải
chăng là tình yêu, lòng nhân đạo của tác giả đối với nhân vật.
Trong đoạn văn, nhà văn Tô Hoài xây dựng nhân vật Mị với nhiều điểm nghệ thuật đặc sắc như:
lối kể chuyện ngắn gọn, dẫn dắt tình tiết khéo léo, đặc biệt hành động và diễn biến tâm trạng của
Mị được miệu tả, lí giải cụ thể, hợp lí. Đi sâu vào tâm lí nhân vật, Tô Hoài đã xây dựng nhân vật
theo kiểu con người phân lập, có một cô Mị ở hiện tại và một cô Mị ở quá khứ hòa chung vào
nhau. Hai con người ấy đan xen, khi tách ra khi hòa vào một tạo nên một nhân vật Mị hết sức
sinh động, mới lạ.
Giá trị nhân đạo: Đoạn trích góp phần hoàn thiện chân dung nhân vật Mị. Dù nghèo khó, bị áp
bức nhưng trong sâu thẳm tâm hồn vẫn tiềm tàng một sức sống mãnh liệt. Qua đó, nhà văn khám
phá, trân trọng, ngợi ca những khao khát tình yêu, hạnh phúc của con người, thể hiện niềm tin
vào sức sống của con người không bị hủy diệt.
Đồng thời lên án những thế lực tàn bạo chà đạp lên cuộc sống con người. Sức sống tiềm tàng
mãnh liệt của Mị trong đoạn trích cũng như tác phẩm đã để lại trong lòng bao thế hệ bạn đọc
một ấn tượng khó phai mờ, đã góp phần nêu bật giá trị nhân đạo của tác phẩm và khẳng định tên
tuổi của nhà văn Tô Hoài.
 
Gửi ý kiến