Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra
Đề cương ôn thi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thanh Thảo
Ngày gửi: 10h:01' 16-02-2022
Dung lượng: 21.1 KB
Số lượt tải: 153
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thanh Thảo
Ngày gửi: 10h:01' 16-02-2022
Dung lượng: 21.1 KB
Số lượt tải: 153
Số lượt thích:
0 người
PHÂN TÍCH NHÂN VẬT BÉ THU TRONG VĂN BẢN CHIẾC LƯỢC NGÀ
Benjamin Franklin từng cho rằng: “ Chiến tranh không được trả giá trong thời chiến tranh, hóa đơn sẽ đến sau đó.” Cái giá của chiến tranh không chỉ đắt đỏ và dã man khi nó xảy ra, mà hậu quả của nó là vết thương rỉ náu hàng thập kỉ sau đó nữa. Và có lẽ một trong những nhân vật chọn khắc họa rõ vết thương, vết sẹo luôn bỏng rát của chiến tranh là nhân vật bé Thu trong tác phẩm truyện ngắn” Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết năm 1966.
Không lựa chọn chất liệu và sự kịch liệt, đẫm máu trên chiến trường miền Nam như nhiều tác phẩm khác của chiến tranh. Một nỗi niềm tang thương cá nhân khác của những người nơi hậu phương, chưa một lần được trọn vẹn bên người cha, người chồng hay người con của mình. Bé Thu là nhân vật đại diện cho sự mất mát, thiếu thốn ấy. Khi bé Thu chỉ vừa mới một tuổi, ba em – Ông Sáu đã phải đi khán chiến xa nhà. Đây là hoàn cảnh chung của hầu hết gia đình Việt Nam trong kháng chiến, có lẽ họ không chỉ tiễn người thân mình đi một hai lần mà rất nhiều lầm, từ người nọ đến người kia. Dù vậy, già trẻ gái trai, mặc kệ, họ đều quyết vtaam ra đi để tìm đường cống hiến chô tổ quốc thân thương như Tố Hữu đã từng ca ngợi tinh thần ấy.
‘ Lớp cha trước lớp con sau
Đã thành đồng chí chung câu quân hành”
Ròng rã tám năm, không đủ để đứa con quên đi một người ba của mình, nhưng đủ để chiến tranh tàn phá hình dáng một con người. Ông Sáu trở về thăm gia đình, nhưng gương mặt ông giờ đây đã nhiều theo một vết thẹo khiến bé Thu có những phản ứng làm cho cả ông lẫn người đọc cảm thấy hụt hẫng, bất ngờ. Trước tiếng gọi đầy thân thương mà gan ruột từ xa của Ông Sáu “Thu!Con.” bé Thu “tròn mắt ngơ ngác nhìn lạ lùng”. Chỉ một ánh mắt, một cử chỉ cũng đủ để thấy sự xa cách giữa người và người mà có lẽ ta phải dùng đến “người dưng” mà Nguyễn Duy đã từng nói trong “Ánh trăng”. Khi Ông Sáu đưa tay về phiá nó, nói liên tiếp ”Ba đây con! Ba đây con!” thì nó lại có một phản ứng vô cùng quyết liệt “mặt nó bỗng tái đi, rồi vụt chạy và kêu hét lên: “Má!Má!” Từ sau đó tạo nên hai luồng tâm lí đối lập nhau gay gắt giữa Ông Sáu và bé Thu , một bên là sự vồ vập, cuống quýt của người nba vì đã ngóng chờ con bao lâu nay , một bên là sự đáp trả thờ ơ, lạnh lùng, hoảng sợ của bé Thu, cốt bởi tình yêu dành cho người “ba” của nó quá to lớn. Đây chính là khởi đầu éo le dẫn đến mâu thuẫn phức tạp giữa hai cha con. Sự ương ngạng, bướng bỉnh của bé Thu thể hiện rõ rệt trong 3 ngày nghĩ phép của Ông Sáu ở nhà. Mặc cho ông muốn lại gần con bé bao nhiêu, nó lại càng đẩy ông ra xa, nhất quyết không chịu gọi ông là “ba”. Nó luôn tìm cách nói trỗng hoặc gọi ông là “người ta”. Thử thách lớn nhất là khi nó phải chắc nước ra khỏi nồi cơm to đang sôi, nó “nhắn nhó”, “luýnh quýnh”, ”loay hoay”, tâm lí bối rối của một đứa trẻ hiện lên mồn một. Một là nó phải chịu khuất phục và gọi Ông Sáu là “ba” để được giúp đỡ, hai là nó phải tìm cách làm một mình, sẽ rất khó khăn và nguy hiểm. Chao ô, trên đời làm gì có ai thích chọn những thứ trắc trở hơn những thứ đơn giản, dễ dàng trừ khi họ có thứ giá hơn cần phải bảo vệ, không thể đánh đổi. và bé Thu, một cô bé mới tám tuổi, tiếng ”ba” nó cất giữ trân trọng ấy là điều đắt giá nó không thể tùy tiện gọi một người lạ đột nhiên xuất hiện trong đời nó. Nó càng yêu “người ba” của nó bấy nhiêu, thì nó ngang ngược, lạnh nhạt với người ba thực sự đang ở trước mặt nó bấy nhiêu. Vì yêu, vì nó kính trọng nên càng không thể đem ra để đổi lấy sự giúp đỡ. Nó phải giữ gìn tiếng gọi thiêng liêng ấy cho người ba thật sự mà nó được biết tới. Dù biết sẽ nguy hiểm, sẽ khó nhăn, nó vẫn dùng cái vá để múc nước ra ngoài. Sự kiên quyết, thông minh của nó cũng khiến bác Ba, ông Sáu và cả người đọc đôi phần ngỡ ngàn.
Không chỉ không muốn trao cho ông Sáu tiếng gọi “ba” mà nó còn đặt một mực cứng rắn không tiếp nhận tình cảm của ông dành cho nó. Trong bữa cơm cuối cùng với ông Sáu, bữa
Benjamin Franklin từng cho rằng: “ Chiến tranh không được trả giá trong thời chiến tranh, hóa đơn sẽ đến sau đó.” Cái giá của chiến tranh không chỉ đắt đỏ và dã man khi nó xảy ra, mà hậu quả của nó là vết thương rỉ náu hàng thập kỉ sau đó nữa. Và có lẽ một trong những nhân vật chọn khắc họa rõ vết thương, vết sẹo luôn bỏng rát của chiến tranh là nhân vật bé Thu trong tác phẩm truyện ngắn” Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết năm 1966.
Không lựa chọn chất liệu và sự kịch liệt, đẫm máu trên chiến trường miền Nam như nhiều tác phẩm khác của chiến tranh. Một nỗi niềm tang thương cá nhân khác của những người nơi hậu phương, chưa một lần được trọn vẹn bên người cha, người chồng hay người con của mình. Bé Thu là nhân vật đại diện cho sự mất mát, thiếu thốn ấy. Khi bé Thu chỉ vừa mới một tuổi, ba em – Ông Sáu đã phải đi khán chiến xa nhà. Đây là hoàn cảnh chung của hầu hết gia đình Việt Nam trong kháng chiến, có lẽ họ không chỉ tiễn người thân mình đi một hai lần mà rất nhiều lầm, từ người nọ đến người kia. Dù vậy, già trẻ gái trai, mặc kệ, họ đều quyết vtaam ra đi để tìm đường cống hiến chô tổ quốc thân thương như Tố Hữu đã từng ca ngợi tinh thần ấy.
‘ Lớp cha trước lớp con sau
Đã thành đồng chí chung câu quân hành”
Ròng rã tám năm, không đủ để đứa con quên đi một người ba của mình, nhưng đủ để chiến tranh tàn phá hình dáng một con người. Ông Sáu trở về thăm gia đình, nhưng gương mặt ông giờ đây đã nhiều theo một vết thẹo khiến bé Thu có những phản ứng làm cho cả ông lẫn người đọc cảm thấy hụt hẫng, bất ngờ. Trước tiếng gọi đầy thân thương mà gan ruột từ xa của Ông Sáu “Thu!Con.” bé Thu “tròn mắt ngơ ngác nhìn lạ lùng”. Chỉ một ánh mắt, một cử chỉ cũng đủ để thấy sự xa cách giữa người và người mà có lẽ ta phải dùng đến “người dưng” mà Nguyễn Duy đã từng nói trong “Ánh trăng”. Khi Ông Sáu đưa tay về phiá nó, nói liên tiếp ”Ba đây con! Ba đây con!” thì nó lại có một phản ứng vô cùng quyết liệt “mặt nó bỗng tái đi, rồi vụt chạy và kêu hét lên: “Má!Má!” Từ sau đó tạo nên hai luồng tâm lí đối lập nhau gay gắt giữa Ông Sáu và bé Thu , một bên là sự vồ vập, cuống quýt của người nba vì đã ngóng chờ con bao lâu nay , một bên là sự đáp trả thờ ơ, lạnh lùng, hoảng sợ của bé Thu, cốt bởi tình yêu dành cho người “ba” của nó quá to lớn. Đây chính là khởi đầu éo le dẫn đến mâu thuẫn phức tạp giữa hai cha con. Sự ương ngạng, bướng bỉnh của bé Thu thể hiện rõ rệt trong 3 ngày nghĩ phép của Ông Sáu ở nhà. Mặc cho ông muốn lại gần con bé bao nhiêu, nó lại càng đẩy ông ra xa, nhất quyết không chịu gọi ông là “ba”. Nó luôn tìm cách nói trỗng hoặc gọi ông là “người ta”. Thử thách lớn nhất là khi nó phải chắc nước ra khỏi nồi cơm to đang sôi, nó “nhắn nhó”, “luýnh quýnh”, ”loay hoay”, tâm lí bối rối của một đứa trẻ hiện lên mồn một. Một là nó phải chịu khuất phục và gọi Ông Sáu là “ba” để được giúp đỡ, hai là nó phải tìm cách làm một mình, sẽ rất khó khăn và nguy hiểm. Chao ô, trên đời làm gì có ai thích chọn những thứ trắc trở hơn những thứ đơn giản, dễ dàng trừ khi họ có thứ giá hơn cần phải bảo vệ, không thể đánh đổi. và bé Thu, một cô bé mới tám tuổi, tiếng ”ba” nó cất giữ trân trọng ấy là điều đắt giá nó không thể tùy tiện gọi một người lạ đột nhiên xuất hiện trong đời nó. Nó càng yêu “người ba” của nó bấy nhiêu, thì nó ngang ngược, lạnh nhạt với người ba thực sự đang ở trước mặt nó bấy nhiêu. Vì yêu, vì nó kính trọng nên càng không thể đem ra để đổi lấy sự giúp đỡ. Nó phải giữ gìn tiếng gọi thiêng liêng ấy cho người ba thật sự mà nó được biết tới. Dù biết sẽ nguy hiểm, sẽ khó nhăn, nó vẫn dùng cái vá để múc nước ra ngoài. Sự kiên quyết, thông minh của nó cũng khiến bác Ba, ông Sáu và cả người đọc đôi phần ngỡ ngàn.
Không chỉ không muốn trao cho ông Sáu tiếng gọi “ba” mà nó còn đặt một mực cứng rắn không tiếp nhận tình cảm của ông dành cho nó. Trong bữa cơm cuối cùng với ông Sáu, bữa
 









Các ý kiến mới nhất