Đề cương ôn thi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Bạch Thị Anh Thư
Ngày gửi: 15h:09' 04-04-2022
Dung lượng: 35.9 KB
Số lượt tải: 69
Nguồn:
Người gửi: Bạch Thị Anh Thư
Ngày gửi: 15h:09' 04-04-2022
Dung lượng: 35.9 KB
Số lượt tải: 69
Số lượt thích:
0 người
THƯƠNG VỢ - TRẦN TẾ XƯƠNG
I . TÁC GIẢ, TÁC PHẨM
1.Những nét chính về tác giả.
-Trần Tế Xương ( 1870 – 1907 ) thường gọi là Tú Xương .
-Quê : Làng Vị Xuyên – Mỹ Lộc – Nam Định
-Cuộc đời : nghèo khó, lận đận trên con đường khoa cử , đi thi nhiều lần không đỗ đạt , chỉ đỗ tú tài ( 8 lần thi chỉ đỗ tú tài )
-Là người thông minh , tình tình phóng khoáng .
-Sáng tác thơ chữ Hán, Nôm , câu đối, văn tế, thơ.
2.Một vài nét chính về bài thơ.
-Tú Xương có hẳn 1 đề tài về người vợ - bà Tú. Ông thể hiện tình yêu thương, sự biết ơn của mình với vợ .
-Bài thơ : Thương vợ :
+Thể loại : Thất ngôn bát cú Đường luật
+Bố cục :
+) 4 phần (Đ,T,L,K)
+)2 phần : -Hình ảnh bà Tú ( 6 câu đầu)
- Hình ảnh ông Tú ( 2 câu cuối)
=> Là bài thơ hay , cảm động nhất về bà Tú.
II. Luyện đề
Đề 1: Cảm nhận hình ảnh bà Tú trong bài thơ “Thương vợ”
I. Phân tích đề
-Thể loại văn nghị luận về 1 tác phẩm thơ
-Đối tượng : thương vợ
-Nội dung : Hình ảnh bà Tú : +Tần tảo , đảm đang ,tháo vát / +Gian truân, vất vả sớm khuya/ +Giàu đức hi sinh , yêu thương chồng con
=> Đại diện cho hình ảnh người phụ nữ Việt Nam.
II. Dàn ý chi tiết
A.Mở bài: -Trong VHTĐ thơ viết về người phụ nữ rất ít và đặc biệt thơ viết về người vợ càng hiếm nên có thể coi Tú Xương là 1 hiện tượng lạ bởi ông không những viết về vợ với số lượng bài nhiều mà còn viết rất hay, thậm chí còn làm văn tế sống vợ .
-Bài thơ “Thương vợ” thuộc mảng thơ trữ tình là một trong những bài tiêu biểu viết về bà Tú với tấm lòng tri ân sâu sắc đồng thời cho ra thấy vẻ đẹp cao cả trong nhân cách của Tú Xương.
B.Thân bài
1,Khái quát (giới thiệu về bà Tú )
Bà Tú là cách gọi tên theo tên chồng, bởi bà tên thật là Phạm Thị Mẫn xuất thân trong 1 gia đình khá giả nhưng đã chấp nhận làm vợ Tú Xương – 1 con người có tài văn chương nhưng không may mắn trên con đường khoa cử . Tú Xương đã cho ta thấy toát lên một tấm lòng biết ơn vợ thể hiện qua những vần thơ, đó là niềm an ủi với bà Tú .
2.Phân tích
a, Nỗi vất vả gian truân của bà Tú .
*2 câu đề
Mở đầu bài thơ, tác giả giới thiệu công việc làm ăn và gánh nặng của bà Tú :
“Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng”
-Từ “quanh năm” gợi ra thời gian liên tiếp kéo dài hết ngày này qua ngày khác, hết năm này qua năm khác giúp cho chúng ta thấy được sự vất vả khó nhọc của bà Tú là liên tục và triền miên . Nơi làm việc của bà là ở “mom sông” – phần đất nhô ra phía lòng sông gợi cho ta thấy một địa điểm làm ăn chênh vênh không vững chắc chỉ mang tính chất tạm thời : đó là sự không ổn định của công việc .
-Mặc dù phải đối mặt với những nguy hiểm và công việc chỉ con con là “buôn bán” nhưng bà Tú vẫn phải vượt qua bởi có gánh nặng gia đình là phải “Nuôi ……1 chồng” .Câu thơ cho thấy sự vất vả của bà Tú khi phải gánh trên vai cả gia đình, vậy mà vẫn “nuôi đủ” đảm bảo đầy đủ cả về số lượng và chất lượng nghĩa là được ăn no, mặc ấm, được học hành . Câu thơ tách làm đôi với hiện từ “với” đặt ở giữa, việc sử dụng từ “với” chứ không dùng từ “và, cùng” bởi thanh trắc ở từ với ghép giúp người đọc hình dung trên đôi vai của bà Tú là (đôi quang gánh) chiếc đòn gánh , ở hai đầu là chồng và 1 bên là 5 đứa con .Đôi quang gánh ấy dường như trĩu hẳn về phía người chồng bởi bài thơ tách mình ra một bên có dụng ý coi mình như 1 đứa con đặc biệt mà người vợ phải nuôi và thậm chí còn khó nuôi hơn cả 5 con
=>Đó chính là sự biết ơn và tự cười mình vô dụng bởi vì ông cũng từng viết :
“Bốn con làm lính bố làm quan
Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ”
* 2 câu thực
-Hình ảnh bà Tú hiện lên tần tảo, đảm đang, tháo vát ở 2 câu thơ thực :
“Lặn lội
I . TÁC GIẢ, TÁC PHẨM
1.Những nét chính về tác giả.
-Trần Tế Xương ( 1870 – 1907 ) thường gọi là Tú Xương .
-Quê : Làng Vị Xuyên – Mỹ Lộc – Nam Định
-Cuộc đời : nghèo khó, lận đận trên con đường khoa cử , đi thi nhiều lần không đỗ đạt , chỉ đỗ tú tài ( 8 lần thi chỉ đỗ tú tài )
-Là người thông minh , tình tình phóng khoáng .
-Sáng tác thơ chữ Hán, Nôm , câu đối, văn tế, thơ.
2.Một vài nét chính về bài thơ.
-Tú Xương có hẳn 1 đề tài về người vợ - bà Tú. Ông thể hiện tình yêu thương, sự biết ơn của mình với vợ .
-Bài thơ : Thương vợ :
+Thể loại : Thất ngôn bát cú Đường luật
+Bố cục :
+) 4 phần (Đ,T,L,K)
+)2 phần : -Hình ảnh bà Tú ( 6 câu đầu)
- Hình ảnh ông Tú ( 2 câu cuối)
=> Là bài thơ hay , cảm động nhất về bà Tú.
II. Luyện đề
Đề 1: Cảm nhận hình ảnh bà Tú trong bài thơ “Thương vợ”
I. Phân tích đề
-Thể loại văn nghị luận về 1 tác phẩm thơ
-Đối tượng : thương vợ
-Nội dung : Hình ảnh bà Tú : +Tần tảo , đảm đang ,tháo vát / +Gian truân, vất vả sớm khuya/ +Giàu đức hi sinh , yêu thương chồng con
=> Đại diện cho hình ảnh người phụ nữ Việt Nam.
II. Dàn ý chi tiết
A.Mở bài: -Trong VHTĐ thơ viết về người phụ nữ rất ít và đặc biệt thơ viết về người vợ càng hiếm nên có thể coi Tú Xương là 1 hiện tượng lạ bởi ông không những viết về vợ với số lượng bài nhiều mà còn viết rất hay, thậm chí còn làm văn tế sống vợ .
-Bài thơ “Thương vợ” thuộc mảng thơ trữ tình là một trong những bài tiêu biểu viết về bà Tú với tấm lòng tri ân sâu sắc đồng thời cho ra thấy vẻ đẹp cao cả trong nhân cách của Tú Xương.
B.Thân bài
1,Khái quát (giới thiệu về bà Tú )
Bà Tú là cách gọi tên theo tên chồng, bởi bà tên thật là Phạm Thị Mẫn xuất thân trong 1 gia đình khá giả nhưng đã chấp nhận làm vợ Tú Xương – 1 con người có tài văn chương nhưng không may mắn trên con đường khoa cử . Tú Xương đã cho ta thấy toát lên một tấm lòng biết ơn vợ thể hiện qua những vần thơ, đó là niềm an ủi với bà Tú .
2.Phân tích
a, Nỗi vất vả gian truân của bà Tú .
*2 câu đề
Mở đầu bài thơ, tác giả giới thiệu công việc làm ăn và gánh nặng của bà Tú :
“Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng”
-Từ “quanh năm” gợi ra thời gian liên tiếp kéo dài hết ngày này qua ngày khác, hết năm này qua năm khác giúp cho chúng ta thấy được sự vất vả khó nhọc của bà Tú là liên tục và triền miên . Nơi làm việc của bà là ở “mom sông” – phần đất nhô ra phía lòng sông gợi cho ta thấy một địa điểm làm ăn chênh vênh không vững chắc chỉ mang tính chất tạm thời : đó là sự không ổn định của công việc .
-Mặc dù phải đối mặt với những nguy hiểm và công việc chỉ con con là “buôn bán” nhưng bà Tú vẫn phải vượt qua bởi có gánh nặng gia đình là phải “Nuôi ……1 chồng” .Câu thơ cho thấy sự vất vả của bà Tú khi phải gánh trên vai cả gia đình, vậy mà vẫn “nuôi đủ” đảm bảo đầy đủ cả về số lượng và chất lượng nghĩa là được ăn no, mặc ấm, được học hành . Câu thơ tách làm đôi với hiện từ “với” đặt ở giữa, việc sử dụng từ “với” chứ không dùng từ “và, cùng” bởi thanh trắc ở từ với ghép giúp người đọc hình dung trên đôi vai của bà Tú là (đôi quang gánh) chiếc đòn gánh , ở hai đầu là chồng và 1 bên là 5 đứa con .Đôi quang gánh ấy dường như trĩu hẳn về phía người chồng bởi bài thơ tách mình ra một bên có dụng ý coi mình như 1 đứa con đặc biệt mà người vợ phải nuôi và thậm chí còn khó nuôi hơn cả 5 con
=>Đó chính là sự biết ơn và tự cười mình vô dụng bởi vì ông cũng từng viết :
“Bốn con làm lính bố làm quan
Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ”
* 2 câu thực
-Hình ảnh bà Tú hiện lên tần tảo, đảm đang, tháo vát ở 2 câu thơ thực :
“Lặn lội
 









Các ý kiến mới nhất