Violet
Dethi

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra

global success 8

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn thị trà giang
Ngày gửi: 22h:03' 09-01-2025
Dung lượng: 101.5 KB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích: 0 người
ĐỀ 1
I. Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi:
LỜI RU CỦA MẸ
Lời ru ẩn nơi nào
Giữa mênh mang trời đất
Khi con vừa ra đời
Lời ru về mẹ hát
Lúc con nằm ấm áp
Lời ru là tấm chăn
Trong giấc ngủ êm đềm
Lời ru thành giấc mộng
Khi con vừa tỉnh giấc
Thì lời ru đi chơi
Lời ru xuống ruộng khoai
Ra bờ ao rau muống
Và khi con đến lớp
Lời ru ở cổng trường
Lời ru thành ngọn cỏ
Đón bước bàn chân con
Mai rồi con lớn khôn
Trên đường xa nắng gắt
Lời ru là bóng mát
Lúc con lên núi thẳm
Lời ru cũng gập ghềnh
Khi con ra biển rộng
Lời ru thành mênh mông.
Câu 4. Nội dung chính của bài thơ là:
A. Bài thơ nói về giá trị của lời ru trong cuộc sống của mỗi con người
B. Bài thơ mượn hình ảnh lời ru để nói về tình mẹ tha thiết, thiêng liêng, bất tử.
C. Bài thơ gợi những niềm rung động sâu xa trong lòng người đọc về tình mẫu tử.
D. Bài thơ sử dụng hình ảnh lời ru để bộc tấm lòng thảo hiếu của người con đối với
mẹ.
Câu 5. Từ “ mênh mang” được hiểu như thế nào?
A. Rộng lớn đến mức như không có giới hạn
B. Rộng đến mức có cảm giác mung lung, mờ mịt
C. Rộng đến mức khoogn nhìn thấy chân trời
D. Rộng lớn bao la đến không cùng.
Câu 6. Hai câu thơ
Lúc con nằm ấm áp

Lời ru là tấm chăn
Sử dụng biện pháp tu từ nào?
A.Nhân hoá

B. So sánh

C. Liệt kê

D. Nói quá

Câu 7. Người bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ trong bài thơ trên là?
A. Người mẹ

B. Lời ru

B. Người con

D. Người bà

Câu 8. Em hiểu gì về hình ảnh “lời ru” được tác giả sử dụng trong bài thơ?
A. “Lời ru” là hình ảnh ẩn dụ đầy cảm động về tình mẹ thiêng liêng, cao cả.
B. Hình ảnh “lời ru” được lặp lại nhiều lần tạo nên giọng điệu tha thiết, gợi
sức sống, sự bền bỉ của lời ru
C. Lời ru nâng bước con vào đời.
D. Lời ru ngọt ngào của mẹ mang đên cho con giấc ngủ say nồng.
Câu 9. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong khổ
thơ thứ hai?
Câu 10. Em nhận ra thông điệp chung gì từ các dòng thơ sau:
“Khi con ra biển rộng
Lời ru thành mênh mông”.
Và:

“Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con”.
(Chế Lan Viên)

II. Phần viết
Cảm nhận về vẻ đẹp mùa thu quê hương trong bài thơ “ Chiều sông
Thương” của Hữu Thỉnh?
Đi suốt cả ngày thu
vẫn chưa về tới ngõ
dùng dằng hoa quan họ
nở tím bên sông Thương
nước vẫn nước đôi dòng
chiều vẫn chiều lưỡi hái
những gì sông muốn nói
cánh buồm đang hát lên
đám mây trên Việt Yên

rủ bóng về Bố Hạ
lúa cúi mình giấu quả
ruộng bời con gió xanh
nước màu đang chảy ngoan
giữa lòng mương máng nổi
mạ đã thò lá mới
trên lớp bùn sếnh sang
cho sắc mặt mùa màng
đất quê mình thịnh vượng
những gì ta gửi gắm
sắp vàng hoe bốn bên
hạt phù sa rất quen
sao mà như cổ tích
mấy cô coi máy nước
mắt dài như dao cau
ôi con sông màu nâu
ôi con sông màu biếc
dâng cho mùa sắp gặt
bồi cho mùa phôi phai
nắng thu đang trải đầy
đã trăng non múi bưởi
bên cầu con nghé đợi
cả chiều thu sang sông.
Gợi ý
Phần Câu

Đọc
hiểu

Nội dung

Điểm

1

Ngắt nhịp 2/3 hoặc 3/2.

0.5

2

Vần hỗn hợp

0.5

3

Năm chữ

0.5

4

Bài thơ mượn hình ảnh lời ru để nói về tình mẹ tha
thiết, thiêng liêng, bất tử.

0.5

5

Rộng lớn đến mức như không có giới hạn

0.5

6

So sánh

0.5

7

Người mẹ

0.5

8

“Lời ru” là hình ảnh ẩn dụ đầy cảm động về tình mẹ
thiêng liêng, bất tử.

0.5

9

Hình ảnh so sánh:

1.0

Lúc con nằm ấm áp
Lời ru là tấm chăn
- Tác dụng: Khi con nằm ấm áp trong vòng tay mẹ, lời
ru như tấm chăn mềm mại che chở, ủ ấp con, đưa con
vào giấc mộng lành. Hình ảnh so sánh gợi lên niềm
yêu thương và tấm lòng của người mẹ. Tăng sức gợi
hình, gợi cảm cho sự diễn đạt, tạo
nên hình tượng thơ chân thật. Phải có một trái tim nhân
hậu, giàu tình yêu thương với con tác giả mới phát hiện
và ghi lại cảm xúc một cách chân thành và sâu sắc đến
thế.
10

Điểm chung của các dòng thơ:
Điểm chung của các dòng thơ: Tình mẫu tử là vĩnh
hằng, bất diệt, luôn tìm thấy bên cuộc đời mỗi người.
Dẫu con lớn khôn, trưởng thành thì tình mẹ vẫn không
xa vắng, vẫn ở bên con chia sẻ ngọt bùi, che chở đời
con, dõi theo mỗi bước con đi, giúp con vững bước
trên đường đời. Mẹ vừa là bến đỗ bình yên vừa là động
lực trên bước đường trưởng thành của con.

Phần

* Yêu cầu về hình thức:

Viết

Đảm bảo bố cục ba phần đầy đủ
- Bài viết có bố cục rõ ràng, không mắc lỗi chính tả,
diễn đạt trôi chảy; văn phong trong sáng,mạch ý mạch
lạc...
* Yêu cầu về nội dung : Đảm bảo được một số nội
dung cơ bản sau:
+) Mở bài:
Dẫn dắt và nêu được ấn tượng sâu sắc nhất về bài thơ
“ Chiều sông Thương” của Hữu Thỉnh.
+) Thân bài:
- Giới thiệu đôi nét về tác giả, tác phẩm
- Không gian chiều thu rộng rãi, thoáng đãng, ẩn chứa
nỗi niềm của người đi xa trở về - Tình quê trang trải,
rộn lòng, mừng vui ngày gặp gỡ.
- Tình yêu quê hương dào dạt dâng lên trong tâm hồn,
dòng sông quê hương – mạch nguồn của sự sống đã
bồi đắp cho sự trù phú, giàu có của quê hương gợi

1.0

niềm tự hào, ngợi ca vẻ đẹp quê hương.
- Những đặc sắc nghệ thuật của bài thơ
+ Kết bài:
Khẳng định lại vẻ đẹp quê hương và tình cảm của nhà
thơ với quê hương.
Bài tham khảo
Mùa thu luôn là đề tài, là cảm hứng quen thuộc lâu đời của thơ ca.Trong
kho tàng văn học dân tộc ta đã từng biết đến một mùa thu trong veo trong thơ
Nguyễn Khuyến, thu ngơ ngác trong thơ Lưu Trọng Lư, dào dạt và đượm buồn
trong thơ Xuân Diệu.Và thật bất ngờ khi ta gặp một Hữu Thỉh tinh tế, êm dịu,
ngọt ngào trong “ Chiều sông Thương”…
Hữu Thỉnh là nhà thơ trưởng thành trong quân đội, ông viết nhiều, viết
hay về những con người ở nông  thôn và về mùa thu. Nhiều vần thơ thu của ông
mang cảm xúc bâng khuâng, vấn vương trước đất trời trong trẻo, đang biến
chuyển nhẹ nhàng.Thơ Hữu Thỉnh mang đậm hồn quê Việt Nam dân dã, mộc
mạc tinh tế và giàu rung cảm. Ông nổi tiếng với những bài thơ mang phong cách
độc đáo, mới lạ. Viết về quê hương và tình yêu quê hương, bài thơ “Chiều sông
Thương” của Hữu Thỉnh là một bài thơ xinh xắn, đáng yêu. Những câu thơ, lời
thơ ngọt ngào ấy cứ rạo rực trong lòng, làm căng mở các giác quan và thấm ngọt
vào hồn bạn đọc.
Chiều thu đẹp thơ mộng bên sông Thương, thuộc vùng Bố Hạ, Việt Yên
là thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật, được miêu tả và cảm nhận.
Người đi xa về thăm quê trìu mến, bâng khuâng dõi nhìn cảnh vật quê hương là
tâm trạng nghệ thuật. Buổi chiều trong thơ, nhất là chiều thu thường man mác
buồn, nhưng “Chiều sông Thương” lại nhiều thiết tha, bâng khuâng, rạo rực.
Người đi xa trở về thăm quê, mắt như ôm trùm cảnh vật, hồn như đang nhập vào
cảnh vật, bước chân thì “dùng dằng”, níu giữ, vấn vương. Có lẽ vì cô gái Kinh
Bắc xinh đẹp (hoa Quan họ) mà chàng trai thấy “nở tím” cả dòng sông quê nhà;
đôi bàn chân cứ “dùng dằng” mãi:
“Đi suốt cả ngày thu
Vẫn chưa về tới ngõ
Dùng dằng hoa Quan họ
Nở tím bên sông Thương”.
Thương quê mẹ, quê em “nước vẫn nước đôi dòng” biết bao lưu luyến gợi
nhớ, gợi thương đã bao đời: “dòng trong dòng đục, em trông ngọn nào”… Chiều
quê, một buổi chiều mùa gặt, trăng non lấp ló chân trời, rất thơ mộng hữu tình
“Chiều uốn cong lưỡi hái”. Một câu thơ, một hình ảnh rất thơ, rất tài hoa. Cánh
buồm, dòng sông, đám mây, đều được nhân hóa, mang tình người và hồn người,
như đưa đón, như mừng vui gặp gỡ người đi xa trở về:
“Những gì sông muốn nói
Cánh buồm đang hát lên

Đám mây trên Việt Yên
Rủ bóng về Bố Hạ”.
Nhà thơ – đứa con đi xa trở về say sưa đứng ngắm nhìn cảnh vật, cánh
đồng quê hương. Gió thu trở thành “con gió xanh”. Lúa uốn cong trĩu hạt, tưởng
như đang “cúi mình giấu quả”. Một chữ “ngoan” tài tình gợi tả dòng nước “đỏ
nặng phù sa” êm trôi trong lòng mương lòng máng:
“Nước màu đang chảy ngoan
Giữa lòng mương máng nổi”.
Cảnh vật đồng quê, từ đường nét đến sắc màu đều tiềm tàng một sức sống
ấm no, chứa chan hi vọng. Là những nương “mạ đã thò lá mới – Trên lớp bùn
sếnh sang”: Là những ruộng lúa “vàng hoe” trải dài, trải rộng ra bốn bên bốn
phía chân trời mênh mông, bát ngát. Là dòng sông thơ ấu chở nặng phù sa, mang
theo bao kỉ niệm, bao hoài niệm “Hạt phù sa rất quen – Sao mà như cổ tích”.
Lần thứ hai, nhà thơ nói đến cô gái vùng Kinh Bắc, Quan họ duyên dáng, đa
tình. Không phải là “Những nàng môi cắn chỉ quết trầu” Cũng không phải là
“Những cô hàng xén răng đen – Cười như mùa thu tỏa nắng ” (“Bên kia sông
Đuống” – Hoàng Cầm). Mà ở đây là những cô gái Quan họ xuất hiện trong dáng
vẻ lao động “để thương, để nhớ, để sầu cho ai :
“Mấy cô coi máy nước
Mắt dài như dao cau”
Chàng trai về thăm quê xúc động, khẽ cất lên lời hát. Tình yêu quê hương
dào dạt dâng lên trong tâm hồn. Câu cảm thán song hành với những điệp từ điệp
ngữ làm cho giọng thơ trở nên bồi hồi, say đắm. Bức tranh quê nhà với bao sắc
màu đáng yêu:
“Ôi con sông màu nâu
Ôi con sông màu biếc
Dâng cho mùa sắp gặt
Bồi cho mùa phôi thai”
Tiếng thơ mang nặng ân tình đối với đất mẹ quê cha, đối với cái nôi mà
“em ” đã sinh thành, là nơi anh đã lớn khôn. Biện pháp điệp ngữ “ôi con sông” “
cho” tạo sự ngân nga, thiết tha, bồi hồi, say đắm, cảm xúc dâng trào khiến lòng
người xúc động khẽ cất lên lời hát ngợi ca, tự hào về một vùng quê màu mỡ.
Màu nắng thu nhạt nhòa trong chiều tàn.
“Nắng thu đang trải đầy
Đã trăng non múi bưởi
Bên cầu con nghé đợi
Cả chiều thu sang sông”.
Dòng sông quê hương là mạch nguồn dẫn truyền sự sống, nơi tích tụ
dưỡng chất, bồi đắp và dâng cho đời những mùa vàng bội thu, dâng cho đời
nhựa sống làm nên sự phồn thịnh của quê hương. Màu nắng thu nhạt nhòa trong
chiều buông. Vầng trăng non lấp ló như “múi bưởi”. Và con nghé đứng đợi mẹ
bên cầu ... hình ảnh nào cũng giàu sức gợi, dân dã, thân thuộc, yên bình khiến
hồn người bâng khuâng, rạo rực, thiết tha một tình quê. Cảnh sắc quê hương thơ

mộng, hữu tình, nên thơ. Một tình quê trang trải, dào dạt trong hồn người.Người
đi xa trở về thăm quê, mắt như ôm trùm cảnh vật, hồn như đang nhập vào cảnh
vật, bước chân thì “dùng dằng”, níu giữ, vấn vương. Con sông Thương trong ca
dao tưởng như đã nhập lưu với “con sông màu nâu, con sông màu biếc” của Hữu
Thỉnh. Cảnh sắc quê hương hữu tình, nên thơ. Một tình quê trang trải, dạt dào
như ru hồn ta vào ca dao, cổ tích.
Thể thơ 5 chữ, giàu vần điệu nhạc điệu, lời thơ thanh nhẹ, hình tượng đẹp,
trong sáng, cảm xúc dào dạt, bâng khuâng, mênh mang, nhiều biện pháp tu từ
độc đáo, hình ảnh thơ đẹp…Chất liệu văn hoá dân tộc dân gian ngàn năm đã
thấm dưỡng linh hồn những câu thơ, chữ thơ, hơi thơ trong bài “ Chiều sông
Thương” của Hữu Thỉnh khiến hồn người cũng đắm say, mơ mộng cùng cảnh
vật nên thơ. Chất thơ, tình thơ là ở đấy.... cứ giăng mắc, vấn vương mãi hồn ta
về một chiều thu nên thơ, hữu tình.
Nhà thơ Hữu Thỉnh đã bộc lộ nhiều cảm xúc sâu lắng về sông Thương và
quê hương quan họ, tình yêu quê hương, yêu đất nước đã ngân nga, thấm chảy
trong hồn nhà thơ để rồi cái mạch nguồn dạt dào ấy cứ thiết tha, lắng đọng ngân
rung trong từng lời thơ, thơ thơ nhẹ nhàng êm ái trong trong khúc nhạc tâm hồn:
“ Chiều sông Thương” – Một bài thơ xinh xắn, đáng yêu, đáng mến!
======================================
ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN 7
ĐỀ 2
I. Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Chót trên cành cao vót
Mấy quả sấu con con
Như mấy chiếc khuy lục
Trên áo trời xanh non.
Trời rộng lớn muôn trùng
Đóng khung vào cửa sổ
Làm mấy quả sấu tơ
Càng nhỏ xinh hơn nữa.
Trái con chưa đủ nặng
Để đeo oằn nhánh cong.
Nhánh hãy giơ lên thẳng
Trông ngây thơ lạ lùng.
Cứ như thế trên trời
Giữa vô biên sáng nắng
Mấy chú quả sấu non
Giỡn cả cùng mây trắng
Mấy hôm trước còn hoa
Mới thơm đây ngào
ngạt,
Thoáng như một nghi
ngờ,

Trái đã liền có thật.
Ôi! từ không đến có
Xảy ra như thế nào?
Nay má hây hây gió
Trên lá xanh rào rào.
Một ngày một lớn hơn
Nấn từng vòng nhựa một
Một sắc nhựa chua giòn
Ôm đọng tròn quanh
hột…
Trái non như thách thức
Trăm thứ giặc, thứ sâu,
Thách kẻ thù sự sống
Phá đời không dễ đâu!
Chao! cái quả sâu non
Chưa ăn mà đã giòn,
Nó lớn như trời vậy,
Và sẽ thành ngọt ngon.
(Trích trong tập“Tôi giàu đôi mắt” (1970), trong
“Những tác phẩm thơ tiêu biểu và nổi tiếng”, Xuân
Diệu)
Câu 8: Nội dung chính của bài thơ là gì ?
A. Miêu tả quả sấu non trên cao.
B. Miêu tả quá trình phát triển của quả sấu.
C. Miêu tả sức sống kì diệu của quả sấu.
D. Miêu tả quả sấu non và sức sống kì diệu, mạnh mẽ của nó. Qua đó,
tác giả cho người đọc hiểu được sức sống mạnh mẽ của dân tộc Việt
Nam trước kẻ thù xâm lược.
Câu 9: Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ sau và cho biêt
tác dụng của biện pháp tu từ ấy?
Trái non như thách thức
Trăm thứ giặc, thứ sâu,
Thách kẻ thù sự sống
Phá đời không dễ đâu!
Câu 10: Qua bài thơ, tác giả muốn nhắn nhủ tới người đọc điều gì?
II. Phần viết
Cảm nhận về bài thơ “ Hỏi” của Hữu Thỉnh?
Tôi hỏi đất:
- Đất sống với đất như thế nào?
- Chúng tôi tôn cao nhau.
Tôi hỏi nước:
- Nước sống với nước như thế nào?

- Chúng tôi làm đầy nhau.
Tôi hỏi cỏ:
- Cỏ sống với cỏ như thế nào?
- Chúng tôi đan vào nhau
Làm nên những chân trời.
Tôi hỏi người:
- Người sống với người như thế nào?
Tôi hỏi người:
- Người sống với người như thế nào?
Tôi hỏi người:
- Người sống với người như thế nào?
(“ Hỏi” - Hữu Thỉnh, Trích Thư mùa đông)
Phần

Câu

Nội dung

Điểm

1

Năm chữ

0.5

2

So sánh, Nhân hóa, Ẩn dụ

0.5

3

Những quả sấu non như những chiếc khuy lục, nhỏ
xinh, ngây thơ

0.5

4

Vì chúng là “khuy lục” của áo trời mà trời thì rộng lớn. 0.5

5

Đùa

0.5

6

Ngạc nhiên và thích thú

0.5

7

Thể hiện những quả sấu còn non, nhỏ bé, xinh xắn,
ngây thơ, vui nhộn

0.5

8

Miêu tả quả sấu non và sức sống kì diệu, mạnh mẽ của 0.5
nó. Qua đó, tác giả cho người đọc hiểu được sức sống
mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam trước kẻ thù xâm lược.

9

- Xác định được biện pháp tu từ được sử dụng trong
khổ thơ:

Đọc
hiểu

+ So sánh: Trái non như thách thức
+ Nhân hóa: Thách thức
+ Ẩn dụ: Trăm thứ giặc thứ sâu - chỉ kẻ thù xâm lược
- Tác dụng: Quả sấu non không sợ loài giặc loài sâu
nào cứ lên, cứ trở thành ngon ngọt. Đó là sức sống kì
diệu mạnh mẽ của nó. Qua đó, tác giả cho ta hiểu một
chân lí lớn lao: không một loài sâu bọ, không một thứ

1.0

giặc nào có thể hủy diệt hay chiến thắng sự sống. Mọi
cuộc bắn phá rồi cũng sẽ thất bại, không thể phá được
cuộc sống vĩ đại của dân tộc Việt Nam.
10

HS nêu được lời nhắn nhủ mà tác giả muốn gửi tới
người đọc:
Qua hình ảnh quả sấu non, nhà thơ muốn giáo dục lòng
yêu thiên nhiên say mê, khám phá những bí ẩn của tự
nhiên xung quanh và lòng tự hào về sức sống mãnh liệt
của dân tộc Việt Nam ta.

Phần

* Yêu cầu về hình thức:

Viết

Đảm bảo bố cục ba phần đầy đủ
- Bài viết có bố cục rõ ràng, không mắc lỗi chính tả,
diễn đạt trôi chảy; văn phong trong sáng,mạch ý mạch
lạc...
* Yêu cầu về nội dung : Đảm bảo được một số nội
dung cơ bản sau:
+) Mở bài:
Dẫn dắt và nêu được ấn tượng sâu sắc nhất về bài thơ
“ Hỏi ” của Hữu Thỉnh.
+) Thân bài:
- Giới thiệu đôi nét về tác giả, tác phẩm
- Câu hỏi của nhà thơ dành cho thiên nhiên ( đất,
nước, cỏ) -> Hữu Thỉnh đã cúi xuống để hỏi đất, lội
ngược dòng tìm nguồn để hỏi nước, bước ra không
gian rộng lớn để hỏi cỏ – “đã sống với nhau như thế
nào?”. Câu trả lời của tự nhiên là một lối sống, một
cách ứng xử văn hoá: “tôn cao”, “làm đầy”, “đan vào”
(để ) “làm nên”. Các sự vật tương sinh để cùng tồn tại
cùng “ làm nên” những điều tốt đẹp. Những câu hỏi đã
được ấp ủ, thôi thúc, day dứt từ lâu, những câu trả lời
là kết quả của quá trình nội tâm hoá, qua chiêm
nghiệm mà đúc kết được.
- Nhà thơ hỏi con người -> Con người cần phải sống
đẹp và sống có ý nghĩa, hướng đến lẽ sống cao đẹp:
mỗi chúng ta hãy học cách hi sinh và dâng hiến, sống
với nhau bằng thái độ sẻ chia, cảm thông. Sức mạnh
của cuộc sống đích thực chính là sự đoàn kết, gắn bó
giữa người với người.
- Những đặc sắc nghệ thuật của bài thơ
+) Kết bài:

1.0

Khẳng định lại vẻ đẹp quê hương và tình cảm của nhà
thơ với quê hương.

Bài tham khảo
Thơ Hữu Thỉnh viết về thiên nhiên thì đậm chất trữ tình còn viết về cuộc
sống con người lại đậm chất triết lí, đó là chuyện cuộc đời sinh sắc sống động!
Là máu thịt chứ không phải là giấy mực. Hữu Thỉnh có được một phong cách
chắc chắn, vững vàng, đôi khi thô ráp, nhưng thường khắc tạc sâu đậm. Thơ
Hữu Thỉnh  là tiếng lòng tha thiết với đời, một ngòi bút tận tâm và đôn hậu.
Cùng với chất trữ tình, mạch nguồn trữ tình – vốn là hồn cốt thơ Hữu Thỉnh,
tính triết luận sâu sắc và cảm xúc đậm đà trong thơ Hữu Thỉnh quyện hoà, đan
xen, cùng nảy nở từ cội nguồn truyền thống. Bài thơ “ Hỏi” là một bài thơ đậm
chất triết lý, chứa đựng nhiều bài học nhân sinh sâu sắc.
Người đọc yêu mến thơ Hữu Thỉnh vì cách cảm, cách nghĩ gắn bó nhiều
với tâm thức dân gian. Những câu thơ cảm động thấm thía, gọi dậy tâm tình của
thảo mộc, tìm cách giao cảm với hồn quê, hồn đất, hướng về những gì thiết thân
gắn bó nhất, nhưng ngàn đời vẫn linh thiêng… Bài thơ Hỏi của Hữu Thỉnh được
viết năm 1992, lúc này tác giả đã năm mươi tuổi. Sống trọn một nửa thế kỷ, ở
vào cái tuổi “tri thiên mệnh” như Khổng Tử nói, Hữu Thỉnh đã đủ độ chín trong
suy tư trải nghiệm về thế thái nhân tình. Thường càng nhiều tuổi, cái nhìn và
cách ứng xử của người ta càng nhân hậu, vị tha hơn. Biết được những cái chưa
biết của mình về đời, hiểu được những điều chưa hiểu của mình về người, do
vậy những trang thơ của ông thường dồn nén chất nghĩ và sức nghĩ.
Bài thơ Hỏi với một khuôn khổ nhỏ nhắn, mở ra nhiều tầng bậc suy
tưởng, thể hiện cốt cách tư duy đậm chất dân gian của Hữu Thỉnh. Xuyên suốt
bài thơ là những câu hỏi. Toàn bài được xây dựng theo hình thức đối thoại.
Người hỏi là chủ thể trữ tình, đối tượng hướng tới là thiên nhiên: “đất”, “nước”,
“cỏ” (ba khổ đầu) hình thức ngôn ngữ là đối thoại, còn đối tượng hướng tới là
con người (nửa còn lại), ngôn ngữ thơ là độc thoại. Tính trí tuệ của bài thơ nằm
ngay trong kết cấu, vừa sâu vừa tinh, vừa khái quát vừa chi tiết về những tình
cảm, suy ngẫm của tác giả. Tứ thơ tạo dựng từ sự liên tưởng, đối chiếu: liên
tưởng từ các hiện tượng tự nhiên đến nhân sinh. Thiên nhiên được nội tâm hoá,
nhìn qua lăng kính ưu tư nhân thế đầy thi vị:
Tôi hỏi đất: – Đất sống với đất như thế nào?
– Chúng tôi tôn cao nhau
Tôi hỏi nước: – Nước sống với nước như thế nào?
– Chúng tôi làm đầy nhau
Tôi hỏi cỏ:  –  Cỏ sống với cỏ như thế nào?
–  Chúng tôi đan vào nhau
Làm nên những chân trời
Những câu thơ của Hữu Thỉnh mang ý – nghĩa – đi – tìm, tìm cách khám
phá và cảm nhận ý nghĩa văn hoá ẩn dụ trong những hiện tượng tự nhiên. Ý

nghĩa ấy được trình bày bằng lời hỏi của tác giả “Tôi hỏi…”. Điều nhà thơ muốn
hỏi đất, hỏi nước, hỏi cỏ là những sự vật ấy sống với nhau như thế nào? Từng sự
vật đưa ra câu trả lời trực tiếp, dưới hình thức vấn đáp (các dấu gạch ngang đầu
dòng) mà không phải gián tiếp qua lời thuật lại của tác giả. Mỗi khổ thơ đều
mang ý nghĩa sâu sắc, hình thức giản dị, nhiều sức gợi, Hình thức mỗi khổ thơ
gồm hai câu đi kèm với nhau ấy có dáng dấp như những câu thành ngữ, tục ngữ
của cha ông ta xưa, qua sự chiêm nghiệm đúc kết mà có được, khiến câu thơ
mang tính chất dân gian nhuần nhị. Mặt khác, cấu trúc ngôn ngữ đối thoại tạo
nên sự đa giọng điệu, sự đa thanh – làm nên tính hiện đại của bài thơ.
Từ cái nhìn hiện thực khách quan: tầng đất tôn nhau lên, nước làm đầy, cỏ
đan vào nhau mở ra bát ngát chân trời, nhà thơ chuyển hoá thành cái nhìn nội
tâm: hình ảnh bên ngoài ẩn chứa một ý nghĩa sâu xa bên trong: từng sự vật đều
có cách thức sống riêng làm ẩn dụ cho nhân thế, mỗi sự vật có tiếng nói riêng và
mang ý nghĩa biểu tượng.
Tôi hỏi đất: – Đất sống với đất như thế nào?
– Chúng tôi tôn cao nhau
Đất muôn thủa vẫn là thứ gắn bó máu thịt và thiêng liêng với con người
nhất. Hữu Thỉnh đã nhìn thấy đất trong mối quan hệ “sống cùng”, “sống với” để
khám phá ra ý nghĩa nhân sinh: “tôn cao” là một triết lý sống. “Tôn cao” là nâng
đỡ chứ không phải vùi dập, “tôn cao” là hướng mở không gian chứ không gói
gọn không gian; “tôn cao” là vươn ra ánh sáng chứ không phủ mờ, che lấp; “tôn
cao” là để vững chãi thêm trước điều kiện thử thách khắc nghiệt…
Bằng một lẽ tự nhiên, sau “đất”, Hữu Thỉnh chọn “nước” để hỏi:
Tôi hỏi nước: – Nước sống với nước như thế nào?
– Chúng tôi làm đầy nhau
Nước vốn mềm mại, uyển chuyển, nước biểu trưng cho “khả năng ứng
biến: một nét đặc sắc của văn hoá Việt Nam. “Nước làm đầy nhau” - cũng là
một sự nâng cao nhưng trước hết là bổ khuyết, “làm đầy” thực ra là an ủi, xoa
dịu, khoả lấp, làm mềm lại những tổn thất, tổn thương. Hữu Thỉnh đã nhìn thấy
triết lý nhân sinh trong đất và nước. Rồi đến cỏ, trong cái bát ngát mênh mông
của cỏ, nhà thơ hỏi:
Tôi hỏi cỏ:
–  Cỏ sống với cỏ như thế nào?
–  Chúng tôi đan vào nhau
Làm nên những chân trời
Câu trả lời của cỏ thể hiện một cách sống đầy bản lĩnh và tình cảm (“đan
vào”). Khẳng định tương lai, khát vọng “ làm nên những chân trời”. Phải có cái
gốc nhân tình vững chắc thì mới nhìn ra được sự vận động của thiên nhiên và
thế thái nhân tình. Hữu Thỉnh đã cúi xuống để hỏi đất, lội ngược dòng tìm nguồn
để hỏi nước, bước ra không gian rộng lớn để hỏi cỏ – “đã sống với nhau như thế
nào?”. Câu trả lời của tự nhiên là một lối sống, một cách ứng xử văn hoá: “tôn
cao”, “làm đầy”, “đan vào” (để ) “làm nên”. Các sự vật tương sinh để cùng tồn
tại cùng “ làm nên” những điều tốt đẹp. Những câu hỏi đã được ấp ủ, thôi thúc,

day dứt từ lâu, những câu trả lời là kết quả của quá trình nội tâm hoá, qua chiêm
nghiệm mà đúc kết được. Bài thơ không dừng lại ở tiếng âm trầm, hiền hậu, lắng
sâu của đất, tiếng trong trẻo thanh cao của nước, tiếng xôn xao vui vui của cỏ…
không dừng ở thanh âm và triết lý sống của thiên nhiên mà đi sâu “ hỏi” cách
sống của con người:
Tôi hỏi người:
–         Người sống với người như thế nào?
Tôi hỏi người:
–         Người sống với người như thế nào?
Tôi hỏi người:
–         Người sống với người như thế nào?
Nếu ba khổ đầu tâm trạng nhà thơ dừng lại ở thế cân bằng, cái nhìn hoà
đồng, cảm thông cùng vạn vật giúp chủ thể có được cảm giác an nhiên tự tại thì
ở đoạn thơ sau, mạch thơ trở nên khắc khoải, xoáy sâu vào tâm can con người.
Đối tượng hướng đến đã thay đổi, từ thiên nhiên chuyển sang con người, cấu
trúc khổ thơ cũng thay đổi, khổ này chỉ có câu hỏi nhưng không có câu trả lời.
Lúc này,thiên nhiên trở thành tấm gương soi cho nhân tình, đúng hơn, là kinh
nghiệm đối nhân xử thế. Học tập kinh nghiệm từ thiên nhiên là vốn văn hoá
được truyền từ đời này sang đời khác, qua cả ý thức và vô thức của con người.
Thiên nhiên đã “sống với nhau”, “tôn cao”, “làm đầy”, “đan vào”, “làm nên”
nhau…Vậy còn con người thì sao?
–         Người sống với người như thế nào?
Trong bài thơ câu hỏi: “Người sống với người như thế nào?” được lặp đi lặp lại
tới ba lần, lần nào cũng khắc khoải, đau đáu mà không có một câu trả lời. Cách
kết thúc như vậy tạo ấn tượng mạnh cho người đọc. Tác giả đã gieo vào lòng
người đọc câu hỏi suy ngẫm, đòi hỏi mỗi người cần tự nghiêm túc trả lời. Câu
trả lời chính là “tôn cao nhau”, “làm đầy nhau”, “đan vào nhau”, nghĩa là phải
sống đẹp và sống có ý nghĩa, hướng đến lẽ sống cao đẹp: mỗi chúng ta hãy học
cách hi sinh và dâng hiến, sống với nhau bằng thái độ sẻ chia, cảm thông. Sức
mạnh của cuộc sống đích thực chính là sự đoàn kết, gắn bó giữa người với
người.
“Sống với” là sống với người và sống với mình, sống nghiệm sinh trong
từng khoảnh khắc của riêng mình và sống tử tế với mọi người, chính là biết “tôn
cao” những giá trị đích thực, “làm đầy” những mất mát tổn thương, khoả lấp
những khoảng cách, để làm nên ý nghĩa cho sự tồn tại của mỗi người. Không
nên để những ảo tưởng che lấp đi cái chân thật sáng trong, nhất là không được
quên những mảnh đời bất hạnh đang cần đến ở chúng ta một niềm an ủi. Và phải
biết lắng nghe tiếng thì thầm của cây cỏ, tiếng trầm lắng của lòng người để sống
tốt hơn, đẹp hơn. Bài thơ là nỗi niềm trăn trở, sự suy ngẫm của nhà thơ về thái
độ sống của mỗi con người trong cuộc đời; đồng thời cũng là lời nhắc nhở mọi
người tự nhận thức lại thái độ sống của mình và tự soi lại mình để có cách “sống
với nhau” cho phù hợp, cùng nhau xây dựng một cuộc sống tốt đẹp.

Thơ Hữu Thỉnh, ở những bài hay như bài thơ Hỏi đã đạt đến tính hàm súc
cổ điển, với lối hành văn trí tuệ và chất cảm xúc đằm thắm, nhuần nhị. Hồn cốt
dân gian, nếp cảm, nếp nghĩ gắn bó với truyền thống ai đọc cũng thấy thân quen
như tự những câu thơ đã nằm trong trí nhớ từ lâu.
(Tham khảo từ “Tạp chí xứ Thanh” số 202, năm 2012, trang 51 )
------------------------------------------
 
Gửi ý kiến